TRẬN ĐÁNH MỞ MÀN CHẶNG ĐƯỜNG DÀI CHỐNG MỸ
Đoạn hồi ký này nói nhiều về bài toán hậu cần – thiếu gạo, hành quân gian khổ, trận đánh Aso ác liệt và sự hy sinh của đồng đội. Vì vậy tên đoạn nên gợi được ý chí chiến đấu trong thiếu thốn và tầm quan trọng của hậu cần.
Một trong những yếu tố có tính quyết định giành thắng lợi trong chiến dịch chiến đấu là bảo đảm cung cấp hậu cần. Trong chiến tranh chống Mỹ điều kiện vận chuyển tiếp tế vô vàn khó khăn, trong đó vấn đề gạo nhiều khi đặt lên hàng đầu.
Nếu người chỉ huy đã nắm địch chắc, địa thế địa hình khảo sát kỹ, lực lượng trang bị vũ khí khí tài được điều động tập trung đủ. Cơ quan tham mưu đã xây dựng phương án tác chiến, tổ chức hiệp đồng hoàn thiện, nhưng lý do nào đó không có gạo thì mọi vấn đề trên đều phá sản. Người ta không thể đánh giặc bằng nước lã và không khí. Nhiều đồng chí lãnh đạo chỉ huy nói vui “gạo là nguyên soái” quả thế thật.
Điều này khi chủ trương tiêu diệt cứ điểm lớn của biệt kích Mỹ-Ngụy ở Aso (có nơi gọi Asầu), cơ quan chỉ đạo cấp trên và Bộ Tư lệnh chiến dịch rất quan tâm. Chỉ định trung đoàn bộ binh 88 không trực tiếp tham chiến tại Aso mà sử dụng 1 tiểu đoàn mạnh sẵn sàng cơ động bao vây tiêu diệt nếu địch liều lĩnh đổ bộ đường không khuấy rối phía sau, chặn phá hành lang vận chuyển tiếp tế và lui quân của ta. Phần lớn quân số trung đoàn tổ chức đường dây chuyển gạo từ sau ra phía trước phục vụ cho các trung đoàn 95B, 101B, các tiểu đoàn cối nặng 120 ly, cao xạ 12.7 ly, công binh, đặc công trinh sát, thông tin, quân y, đại đội sơn pháo 75, cơ quan chỉ huy và phục vụ...
Tính toán đường hành quân từ khu vực A Túc (giáp biên giới Lào) thọc xuống thung lũng Aso dự kiến 3 ngày. Hậu cần binh trạm đường dây 559 được lệnh cấp phát 3 ngày gạo ăn cho mỗi chiến sĩ lúc đi đường và 3 ngày gạo khi tập trung ở vị trí triển khai. Cộng chung phải đủ số gạo cho 6 ngày ăn. Mỗi ngày 6 lạng cho mỗi khẩu phần. Quá trình chiến đấu tiếp tục bổ sung.
Kế hoạch là thế nhưng thực tế không được thế. Bởi lẽ đường dây hậu cần lần đầu phải cung cấp cho lượng quân số quá lớn (hơn nữa không chỉ lo cho sư đoàn mà còn bao nhiêu đoàn ra đoàn vào). Dù cố gắng đến mức cao nhất đơn vị cung cấp vẫn không đủ số gạo theo yêu cầu. Khẩu phần thực lĩnh vì vậy chỉ 5 lạng/người/ngày. Đường đi và thời gian dự kiến 3 ngày do tính toán đo đạc trên mặt phẳng bản đồ. Bản đồ lại sản xuất từ thời thực dân Pháp thống trị năm 1911. Tỷ lệ bản đồ quá nhỏ 1/100.000. Nếu phải dùng, chỉ dùng trong các nhiệm vụ chiến lược. Trong chiến dịch và chiến đấu dùng không chuẩn xác. Nếu tính trên bản đồ đoạn đường 1 km, trên thực địa phải nhân ba. Địa hình vùng này rất phức tạp hiểm trở, dốc cao hố thẳm. Không có đoạn nào gọi là dễ đi. Leo qua những quả đồi toàn đất sét đỏ trơn trợt nhầy nhụa, không mấy ai còn dép mắc được vào bàn chân. Leo đốc đã khó xuống dốc còn khó hơn, chân tỳ tay bám từng chút một. Không ai trong ngày không vài ba lần đo đất chỏng vó lên trời. Vượt qua những vùng lầy lội hoặc những đám lau sậy cao quá đầu người, tuy đỡ nạn leo trèo tuột dốc nhưng gặp phải vô vàn đỉa vắt. Bước được lên rìa đất khô không ai không bị 5, 7 con vắt hoặc đỉa hút máu no tròn bám chặt vào chân. Qua con suối rộng không quá mươi, mươi lăm mét, nước chảy mạnh sau cơn mưa, dù được công binh bảo đảm điều kiện vượt ở các bến lội, một tiểu đoàn có khi phải mất hàng giờ đồng hồ mới vượt hết qua...
Tuy kế hoạch có dự kiến trừ hao nhưng không sao phù hợp với thực tế địa hình. Dự tính 3 ngày nhưng mất 6 đến 7 ngày mới đến nơi. Gạo ăn cho 3 ngày đi, 3 ngày ở vị trí triển khai, anh em tùng tiệm cũng ăn hết sạch khi hành quân. Đến nơi chẳng còn hột gạo nào.
Để đi nhanh kịp đến vị trí triển khai trước các đơn vị, đoàn chúng tôi một nhóm nhỏ mươi đồng chí, có sư đoàn trưởng Vương Tuấn Kiệt. Tôi đi cạnh ông. Ông gốc người Quảng Ngãi một du kích Ba Tơ lừng tiếng trước đây. Tính ông, trầm tĩnh ít nói, nhưng lúc này ông nổi cáu. Ông lo lắng tình trạng bộ đội hành quân buộc phải kéo dài ngày thế này làm sao kịp nổ súng đúng ngày N theo mệnh lệnh cấp trên. Không có gạo hoặc không đủ gạo lấy gì chiến sĩ ăn chiến đấu. Rối rắm như tơ vò, ông chửi vung lên. Ông chửi cái tệ quan liêu của “mấy cha” nào đó trong phòng ấm cúng đủ tiện nghi vẽ vời cái kế hoạch chẳng sát với thực tế chiến trường làm lính ông khổ. Nhiệm vụ chiến đấu hoàn thành sao đây? Mỗi lần ông ngã hay suýt ngã, ông lại chửi. Ông không kêu đích danh ai, ông chỉ chửi cái tệ quan liêu. Tôi bụm miệng để khỏi thốt ra tiếng cười to khi ông nói đến mấy cha “ngồi chai đít thủng đũng quần” ở Hà Nội. Ông không nêu tên người nào, nhưng tôi biết mấy cha ấy vốn bạn bè thân thiết với ông, đồng hương khu 5 cùng ông. Vốn thân quen nên ông không ngại “chửi cho nó biết mặt” để nguôi cơn giận. Chắc sau này gặp lại, bạn ông hỏi: “Cậu chửi mình, mình không có ở đó, mình ở tận Hà Nội, vậy là cậu chửi cậu nghe. Đúng không”. Rồi hai ông bạn già ôm nhau cười xòa, hết chuyện.
Đang đi ông quay lại nói với tôi: “Nỹ này, trước cậu chỉ huy tiểu đoàn, nay về làm tham mưu tác chiến. Chỉ huy hay tham mưu đều phải nhớ bài học này. Chấm bút chì sai một ly trên bản đồ, bộ đội phải đi xa hàng dặm, hàng chục dặm như tình huống này”.
Tôi khẽ đáp lời ông:
- Vâng thưa anh đúng thế. Tục ngữ có câu “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” đấy ạ!
Ông cười phá lên:
- Cậu học tớ cũng học. Bài học này đáng nhớ lắm.
Một cái trượt dài làm ông suýt ngã. Lấy lại thăng bằng, ngẫu hứng ông đọc: “Giơ tay với thử trời cao thấp / xoạc cẳng đo xem đất vắn dài”, ông hỏi tôi có biết câu này của ai không? Trong lúc tôi đang lục lạo bộ nhớ trong não, ông tiếp: “Hai câu đó của Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm đấy”.
Từ cáu giận ông chửi vung chửi vít cái tệ quan liêu, bất thình lình ông chuyển sang bình thơ phú làm chúng tôi vui vẻ hẳn lên, quên một phần mệt nhọc của những bước chân nặng nề bì bõm trong bùn và cái nặng trĩu đang phải mang vác trên vai.
Nửa tháng sau chuyến khảo sát địa hình, tôi về, được Tư lệnh Vũ Lãng giao chấp bút phương án thành văn bản mệnh lệnh chiến đấu và hiệp đồng tác chiến. Tôi vui mừng nhìn các bản viết của tôi không phải sửa chữa từ nào. Đó là kết quả hơn hai năm phấn đấu học tập ở trường Sĩ quan lục quân khoá 10 Hà Nội (1956-1958).
Cuộc tiến công tiêu diệt căn cứ biệt kích Mỹ - ngụy ở thung lũng Aso diễn ra ác liệc. Trận ra quân đầu tiên của sư đoàn 10. Trước N vài ngày 2 trinh sát ta bị địch phục kích bắt được. Ý định lộ. Địch bổ sung quân tăng cường phòng thủ trong đó có 120 tên lính Nùng thuộc sư đoàn 5 của Voòng A Sán rất hiếu chiến. Không ngày nào vắng tiếng động cơ Ca-ri-pu, loại máy bay vận tải quân sự lên xuống sân bay trong căn cứ. Biệt kích tung ra do thám rình rập. Trinh sát trên không bay lượn suốt đêm ngày. Căn cứ này do Mỹ trực tiếp đứng ra tổ chức xây dựng trên diện tích hơn 3 hecta chưa kể sân bay có đường băng bằng đất nện dài trên 800 mét. Căn cứ được phân thành nhiều khu vực. Có thành luỹ bằng đất được chắn nhiều cây gỗ lớn cao hơn mét rưỡi. 11 lô cốt vòng ngoài bằng bêtông cốt thép được âm hai phần ba xuống đất. Mỗi lô cốt bố trí 1 tiểu đội chiến đấu có trang bị đại liên. Có nơi có trọng liên và súng phun lửa. Bên ngoài bố trí dây thép gai và mìn gài tự động dày đặc. Bên trong có trận địa pháo, cối, kho tàng trại lính, khu chỉ huy, đài quan sát. Hệ thống giao thông hào nối liền các khu vực với trung tâm, các ụ chiến đấu chằng chịt... Đây là căn cứ rất kiên cố vững chắc. Nơi đây thường xuyên có 1 tiểu đoàn từ 400 đến 500 biệt kích trấn giữ. Hơn 10 tên cố vấn tình báo Mỹ làm huấn luyện lính. Tại đây chúng cung cấp bổ sung quân cho lực lượng biệt kích phá các căn cứ ta ở miền Trung và cả miền Nam. Chúng lén lút tung ra phá hoại Miền Bắc.
Quyết tâm Bộ Tư lệnh, lộ vẫn đánh. Đánh sớm càng hay. Chậm khó khăn càng tăng. Giải quyết chuyện tiếp tế gạo khá nan giải. Trước tình hình này, Bộ Tư lệnh điện khẩn cấp yêu cầu các kho trạm đường dây bằng mọi cách vận chuyển đủ số gạo. Một mặt động viên trung đoàn 88 tổ chức bố trí người, cung trạm hợp lý, rút ngắn thời gian vận chuyển sao cho gạo đến được nhanh các đơn vị đang bước vào chiến đấu. Có gạo nhưng vẫn không bảo đảm đủ yêu cầu. Người cõng gạo cũng phải ăn, có khi ăn lố đến phần gạo tiếp tế với số lượng không nhỏ. Cái đói làm người ta khó dằn lòng cắt xén miếng ăn người khác. Vì vậy gạo đến mặt trận không đủ 6 lạng rưỡi mỗi khẩu phần trong một ngày mà chỉ được một lạng rưỡi. Chừng ấy không đủ cầm hơi. May mà từng chiến sĩ cán bộ được bồi dưỡng khá đầy đủ ở miền Bắc trước khi lên đường nên còn tích lũy chút ít năng lượng dự trữ trong cơ thể, chưa đến nỗi suy nhược trong trận chiến đấu đầu tiên cam go này.
Cứ mỗi chiều tôi được phát 2 vắt cơm bằng nắm tay. Một vắt cho chiều nay, vắt còn lại trưa mai. Có đồng chí nói vui: “Ăn cả hai vắt cùng lúc cũng chỉ đủ nhét kẽ răng chứ đừng hòng có miếng cơm nào tuột đến bao tử”.
Không nói ngoa đặt điều, chúng tôi chiến đấu bằng cái đầu. Đó là ý chí quyết tâm với trái tim rực lửa vì độc lập thống nhất Tổ quốc, vì đồng bào miền Nam ruột thịt. Khó khăn này cũng như mọi khó khăn khác chúng tôi phải vượt qua bằng cái bụng khá lép. Nếu không, nhiệm vụ tác chiến cho trận đánh mở màn chặng đường dài chống Mỹ không thực hiện được.
Trung đoàn bộ binh 95B đảm nhận vai trò chủ yếu trong tiến công. Là trung đoàn của tỉnh Quảng Trị từng chiến đấu ở Thừa Thiên thời chống Pháp. Tập kết ra Bắc, trung đoàn trong đội hình sư đoàn 325 trấn giữ vùng giới tuyến tạm thời Bắc Quảng Trị, nay về chiến đấu tại quê nhà nên thỏa lòng mong đợi mọi người. Tiểu đoàn 3 làm đơn vị chủ công của trung đoàn. Đồng chí Thìn vừa tốt nghiệp Học Viện quân sự Phờ-run-de ở Liên Xô về nước, được bổ nhiệm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này. Trận đánh tiếp diễn ác liệt. Ta địch dành nhau từng căn phòng, từng góc nhà, từng đoạn hào, từng lô cốt... Chiến sĩ ta chiến đấu dũng cảm anh hùng nhưng thiếu người chỉ huy.
Thìn hy sinh, một tin làm bất thần thảng thốt mọi người. Xung trận tất yếu kẻ mất người còn. Mất đồng đội đồng chí ai cũng đau buồn. Thìn với tôi quen nhau qua đôi lần gặp trong các cuộc họp. Thế nhưng cả hai nhận thấy người bạn mới quen nhiều điểm tương đồng. Tôi gặp anh trong cuộc họp lần cuối ở Bộ Tư lệnh. Xiết tay nhau hẹn tái ngộ sau chiến thắng. Trận đầu tiên đánh Mỹ, anh sớm ra đi!
Thìn hy sinh, ai sẽ thay anh. Ước gì người đó là tôi.
Có lệnh gọi tôi lên gặp đồng chí Tư lệnh.
Vừa thấy thoáng tôi vào hầm chỉ huy, Tư lệnh đến bắt tay. Ông vỗ lên vai tôi cười nói: “Lúc này mới cần đến con bài dự trữ đây”. Nghe câu này tôi mừng như mở cờ trong bụng xen lẫn hồi hộp. Tôi sợ ông đùa. Tính ông nhộn như anh Trân.
Ra hiệu cho tôi ngồi trên cái hòm đạn bằng gỗ thông tạm làm ghế, ông hắn giọng nghiêm túc đi ngay vào đề không rào trước đón sau. Không chờ ông nói hết câu, tôi bật dậy đứng thẳng người: “Thưa Tư lệnh, cho phép tôi được thay đồng chí Thìn. Xin đi ngay”, ông gục gặc đầu: “Được, đồng chí đi bây giờ đúng lúc”. Không để ông nói tiếp, tôi biến nhanh khỏi hầm, chỉ sợ ông đổi ý gọi lại.
Cuộc chiến kéo dài 3 đêm 2 ngày kết thúc. Toàn bộ căn cứ kiên cố rộng lớn như một pháo đài bị san bằng, 650 tên biệt kích tinh nhuệ, cùng các cố vấn Mỹ và lính Nùng bị tiêu diệt và bắt sống. Ta thu toàn bộ chiến lợi phẩm.
Tiểu đoàn 3 chúng tôi trả giá không nhỏ. Trên 90 cán bộ chiến sĩ thương vong.
Căn cứ biệt kích ở thung lũng Aso, Mỹ tốn hao tiền của công sức tạo dựng nên bị tiêu diệt. Cú đau này đến thắt ruột, Mỹ lo lắng khi những binh đoàn lớn chủ lực Bắc Việt xuất hiện.
Ngụy dao động hoang mang.
Mỹ phải nhảy vào cuộc trấn an tinh thần quân ngụy, gỡ gạc một phần sĩ diện bị mất, quyết tâm tái chiếm Aso, đánh trả lại chủ lực Bắc Việt - Việt Cộng.
Một tiểu đoàn Mỹ (tôi không rõ phiên hiệu, có thể thuộc sư đoàn kỵ binh bay số 1) dùng trực thăng bất ngờ đổ chụp chốt đóng cao điểm 85 Đông nam thung lũng Aso. Mỹ muốn biến nơi đây thành căn cứ bàn đạp. Từ đây sẽ tăng cường quân số, phương tiện chiến tranh tiến công từng bước dần dần chiếm đóng lại Aso, kiểm soát thung lũng rộng lớn có ý nghĩa chiến lược này, đánh dạt lực lượng ta ra hướng biên giới Lào.
Trung đoàn bộ binh 95B được lệnh xuất kích đánh ngay khi địch đứng chân chưa vững.
Tiểu đoàn tôi đang củng cố sau tổn thất trận Aso nên làm thê đội dự bị của trung đoàn.
Tôi ém quân trong cụm rừng thưa nhìn về hướng cao điểm 85 cách hơn 1 nghìn mét mịt mờ lửa khói. Rừng nơi giao chiến bốc cháy. Tiếng nổ bom pháo rung rinh rền vang chấn động núi đồi. Tiếng phành phạch từng bầy trực thăng vũ trang, tiếng gầm rít như xé lụa của máy bay chiến đấu phản lực hết tốp này đến tốp khác rạch nát bầu trời...
Tôi nhấp nhỏm đợi lệnh xuất kích.
Một tin dữ đến: Đồng chí Cảnh hy sinh.
Tôi như ngớ ngẩn. Trận Aso kết thúc chưa kịp “nguội nòng súng”. Hàng trăm đồng đội thương vong. Trận này tiếp diễn. Con số hy sinh mỗi lúc một tăng. Mới được tin anh Cảnh cùng công tác trong trung đoàn chưa kịp gặp, anh đã mất.
Ở miền Bắc bốn năm trước anh là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2. lữ đoàn 324. Tôi, đại đội trưởng đại đội pháo 82 thuộc tiểu đoàn anh. Anh lớn hơn tôi 5 tuổi. Sống bên nhau không câu nệ tuổi tác cấp bậc, quan hệ chúng tôi như anh em bạn bè đồng lứa. Anh hiền, khiêm tốn bình dị. Tôi rất mến anh. Anh nể trọng tôi. Tuy dưới quyền anh, mọi việc huấn luyện tổ chức quản lý tiểu đoàn, anh đều tham khảo ý kiến tôi. Tiểu đoàn không có tiểu đoàn phó, tham mưu trưởng thường xuyên ở bệnh viện. Anh xem tôi như người cấp phó đích thực của anh. Xa anh khi tôi được điều động làm tham mưu trưởng tiểu đoàn 3 bộ binh của lữ đoàn. Vừa biết tin anh đảm nhiệm tham mưu trưởng trung đoàn, chưa kịp gặp bắt tay, quân thù cướp mất anh.
Bom đạn rền vang chấn động đất trời khủng khiếp. Ép mình vào thành công sự tôi thấy người run như cảm lạnh. Không rõ mình đau buồn, sợ hãi hay căm uất. Có lẽ những thứ đó hoà quyện vào nhau làm tâm trạng tôi giây phút thiếu tự chủ. Khoảnh khắc nào đó tôi giao động trước cái chết của Thìn và hàng trăm chiến sĩ cán bộ. Bây giờ là Cảnh cùng anh em khác. Con người ai chẳng muốn sống. Lằn ranh giới giữa sự sống và cái chết mỗi lần xung trận rất mong manh. Nhưng khi cần ta phải đối mặt với cái chết ta đâu ngần ngại chối từ.
Sẽ đến lượt mình, chưa biết lúc nào đấy thôi, tôi tự nhủ thầm!
Đánh chiếm cao điểm 85, Mỹ hiệp đồng phối hợp chặt chẽ giữa quân đổ bộ đường không với chi viện của pháo binh, không quân. Chúng sử dụng hoả lực tối đa. Bắn hàng nghìn đạn pháo (trong đó có quả chứa chất phốt pho), ném hàng trăm quả bom đủ loại đủ cỡ yểm hộ bộ binh.
Ta chỉ có vũ khí nhẹ, vận dụng chiến thuật vận động tập kích trong điều kiện không chuẩn bị. Bộ binh đơn độc khó triển khai hỏa lực pháo binh, phòng không ngoại trừ một số khẩu cối 60 và 82 milimét.
Bù cho sự khiếm khuyết trên là tinh thần dũng cảm vô song của quân ta. Bọn Mỹ co cụm và cố thủ trong các công sự chế sẵn được trực thăng cẩu đến.
Mờ tối tiểu đoàn tôi bước vào thay phiên chuẩn bị tiếp tục tấn công ngày hôm sau.
Rạng sáng hôm đó Mỹ bốc quân tháo chạy.



