Anh hùng Lực lượng vũ trang

Trận đánh “ra mắt”

Trận đánh “ra mắt”

Thái Nguyên15/04/2026Lý Anh Dũng (Xã Na Rì)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ở tuổi 90, vị tướng dạn dày trận mạc vẫn thường xuyên ngược xuôi Nam-Bắc để thực hiện những công việc nghĩa tình, đặc biệt là trở lại miền Tây Nam Bộ-mảnh đất mà ông có tới 12 năm gắn bó. Trong đội hình Trung đoàn 1 U Minh (nay thuộc Sư đoàn 330, Quân khu 9), ông cùng đồng đội và nhân dân kiên cường bám trụ, chiến đấu với kẻ thù trên từng xóm ấp, dòng kênh.

Ngày 14-8-1964, cùng hơn 160 đồng đội, Trung úy Phạm Văn Trà chính thức lên đường vào chiến trường miền Nam sau khi từ chối suất đi học tập ở nước ngoài do Tổng cục Chính trị triệu tập. Gần 5 tháng hành quân gian khổ, ông cùng đồng đội mới vào đến chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh). Lúc này, đoàn chỉ còn khoảng 100 người. Sau một tháng nghỉ ngơi, tìm hiểu, làm quen với địa hình, ông chính thức biên chế về Trung đoàn 1 U Minh-trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân giải phóng miền Tây Nam Bộ. Được điều về đơn vị có truyền thống chiến đấu anh dũng của Quân khu ngay từ buổi ban đầu, với niềm vinh dự, tự hào, đồng chí Ba Trà quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Những năm ở chiến trường miền Tây, đồng chí Ba Trà có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Trước hết là cuộc “thử lửa” đầu tiên để đồng đội công nhận khi ông được bổ nhiệm là Tiểu đoàn phó, Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 309 của Trung đoàn vào đầu tháng 6-1966. Dịp ấy, Tiểu đoàn tiến hành Đại hội Đảng bộ. Qua tìm hiểu lý lịch và được sự giới thiệu của Trung đoàn, các đồng chí Tư Bằng (tức Vưu Hoài Thanh), Chính trị viên và Sáu Hà (tức Lê Tấn An), Tiểu đoàn trưởng muốn đưa ông tham gia Đảng ủy Tiểu đoàn. Nhưng khi đại hội, một số cán bộ đại đội thẳng thắn bày tỏ quan điểm, dù Ba Trà trưởng thành từ chiến sĩ, đã kinh qua chiến đấu nhưng với chiến trường miền Tây thì hoàn toàn là tân binh, cần phải thử thách. “Tính cách người miền Tây là vậy, bộc trực, thẳng thắn và chân tình. Nghe được những lời ấy, tôi không hề tự ái, trái lại rất thiện cảm, đồng thời cũng ý thức rằng phải cố gắng, tranh thủ thời cơ để chứng minh bản thân. Và không phải đợi lâu, tôi đã được tham gia trận đánh đồn Thứ Bảy ngay sau đại hội”, ông kể.

Trận đầu tiên “ra mắt” Tiểu đoàn 309 của Tiểu đoàn phó Phạm Văn Trà diễn ra vào một đêm đầu tháng 8-1966. Ông đi cùng mũi chủ yếu, tấn công hạ đồn Thứ Bảy nằm trên kênh xáng Xẻo Rô và trục đường từ Rạch Giá đi vào. Đây là điểm chốt ở ranh giới giữa vùng địch kiểm soát với căn cứ U Minh của ta. Trước khi nổ súng, ông đã tổ chức cho bộ đội đi trinh sát kỹ đồn. Hôm đó, lợi dụng trời mưa, bộ đội đột nhập mục tiêu khá thuận lợi. Nhưng khi tiếp cận cắt dây thép gai tạo cửa mở, bất ngờ một quả mìn phát nổ khiến quân địch nghi ngờ và bắn pháo sáng đầy trời. Diễn biến tình huống lúc ấy vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của vị tướng già. Ông bồi hồi nhớ lại: “Tôi biết anh em hoang mang, có đồng chí cho rằng đã bị lộ và đề nghị cho rút. Nhưng tôi vẫn kiên trì, lệnh cho tất cả nằm im. Mặc dù là trận đầu chỉ huy Tiểu đoàn diệt đồn địch nhưng trước đó, tôi đã tranh thủ học hỏi kinh nghiệm từ anh Sáu Hà. Theo đó, nếu ta nằm im, địch sẽ phỏng đoán theo hai hướng: Ta chạm mìn, biết bị lộ đã tìm cách tháo lui; hoặc không phải Việt cộng mà chỉ là con gì đó chạy vướng mìn. Như vậy chúng sẽ yên trí bỏ qua”.

Quả nhiên sự việc diễn ra đúng như những gì anh Sáu Hà chỉ bảo. Kiên nhẫn chờ đợi, không thấy địch động tĩnh gì, đồng chí Ba Trà lệnh cho bộ đội tiếp tục nằm im hơn một giờ đồng hồ. Trời vẫn đổ mưa, bộ đội tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh và dầm mình trong nước. Đến khoảng 12 giờ đêm, Tiểu đoàn phó Ba Trà phát lệnh tiếp tục cắt rào, mở cửa. Đơn vị giải quyết đồn nhanh gọn, diệt và bắt toàn bộ đại đội địch, nhanh chóng thu vũ khí. Trước khi trời sáng, bộ đội đã về vị trí tập kết an toàn. Tâm sự với chúng tôi, Đại tướng Phạm Văn Trà bảo rằng, trận đánh đồn Thứ Bảy tuy không lớn nhưng rất có ý nghĩa với ông trong việc tích lũy kinh nghiệm tổ chức hành quân chiến đấu trên chiến trường sông nước cũng như cách xử trí tình huống mở cửa bị lộ; đặc biệt là đã phần nào giải tỏa sự nghi ngại của anh em trong đơn vị rằng ông chưa có thực tế ở chiến trường mới. Từ đây, họ bắt đầu truyền tai nhau rằng: Ba Trà ngó bộ dáng học trò mảnh khảnh, thế mà chơi được, chơi ngon!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn