Trận đột phá đầu tiên diễn ra đêm 31-3-1951 và ngày 1-4-1951 ở Thọ Lão, Viên Quang, Hạ Cát, Cát Dương.
Đoạn kể nói về kế hoạch và diễn biến trận đánh bốt hương dũng Thọ Lão (Phù Cừ) cuối tháng 3 – đầu tháng 4 năm 1951, do lực lượng vũ trang Hưng Yên phối hợp với Tiểu đoàn 664 thực hiện. Trận đánh sử dụng chiến thuật diệt điểm – chặn viện, dùng mìn lõm phá lô cốt, tiêu diệt và bắt sống quân địch, đồng thời kết hợp vận động quần chúng và thực hiện chính sách khoan hồng với tù binh. Chiến thắng này có ý nghĩa mở đầu cho việc phá hệ thống hương đồn của địch và xây dựng khu du kích ở Hưng Yên.
Xin được kể chi tiết trận này. Thực ra, trước đó chúng tôi xây dựng kế hoạch phá bốt hương dũng Khả Duy (Phù Cừ), nhằm nối khu du kích Phan Tây Hồ (Tiên Lữ) với xã Minh Hoàng, gồm các thôn: Hoàng Tranh, Quế Ải (Phù Cừ), nhưng tới ngày 5-3-1951, địch càn quét và cắm bốt Canh Hoạch ở ngay giữa xã Phan Tây Hồ, làm mất bàn đạp tấn công của ta, buộc chúng tôi phải chuyển hướng nhằm vào bốt hương dũng Thọ Lão, dựa vào khu du kích huyện Thanh Miện (Hải Dương) làm nơi xuất phát tấn công; khu này chỉ ngăn cách với Thọ Lão bởi một con sông nhỏ. Đúng lúc đó, để phối hợp với chiến trường chính mở trên đường số 18 (chiến dịch Trần Hưng Đạo) theo chỉ thị của khu Tả ngạn, tiểu đoàn 664 thuộc E42 phối hợp chiến đấu với Hưng Yên. Chỉ huy tiểu đoàn gồm các đồng chí Mạc Đình Vịnh - tiểu đoàn trưởng, Phan Huy Thứ - chính trị viên, Trương Thao - tiểu đoàn phó. Kế hoạch tác chiến hợp đồng giữa tiểu đoàn 664 với bộ đội tỉnh Hưng Yên và cơ quan chính quyền, quân sự huyện Phù Cừ như sau: Mục tiêu mở cơ sở cho 3 xã ở phía đông huyện Phù Cừ thông với khu du kích huyện Thanh Miện (Hải Dương), trọng tâm diệt cho kỳ được bốt hương dũng công giáo phản động ở Thọ Lão. Chiến thuật vận dụng diệt điểm và diệt viện thời gian hoạt động 2 đêm và một ngày, bắt đầu từ đêm 31-5-1951 phân công cụ thể:
Đại đội 92 (đại đội Thanh Bình của tỉnh) được phân công tiêu diệt bốt Thọ Lão bằng sức mạnh lấy mìn lõm làm vũ khí công phá lô cốt, có một bộ phận chặn viện từ vị trí Nhật Lệ ở phía nam lên, bộ phận này bố trí ở thôn Ngũ Lão. Chỉ huy đại đội 92 gom các đồng chí Trần Trí Dũng - đại đội trưởng, Minh Chiếu - chính trị viên, Mai Dương - đại đội phó (đã từ trần năm 1085 ở Hải Phòng).
Tiểu đoàn 664 bố trí khu vực thôn Vũ Xã ở phía đông nam vị trí Cao Xá, có nhiệm vụ tiêu diệt địch từ Cao Xá hoặc Đình Cao cách đó khoảng 3km lên ứng cứu cho bọn địch ở Thọ Lão.
Bộ đội tập trung huyện Phù Cừ có một bộ phận hỏa lực của D664 hỗ trợ bao vây tiêu diệt bốt hương dũng Viên Quang. Sau 1 ngày chiến đấu, cụ thể là đêm ngày 1-4-1051, thực hiện kế hoạch khuếch trương chiến thắng (sau này có tên gọi kế hoạch dung dọa) tiến vào 2 thôn Hạ Cát và Cát Dương võ trang thuyết phục bọn hương dũng nộp súng và vận động nhân dân đứng dậy ủng hộ kháng chiến. Dân quân du kích ở thôn nào có bộ đội tới sẵn sàng hỗ trợ bộ đội phối hợp chiến đấu trong việc đào công sự, giữ bí mật; huy động nữ du kích Hoàng Ngân tổ chức tiếp tế, cứu thương bộ đội, đặc biệt lựa chọn một số chị em tốt, có điều kiện hoạt động công khai, giả làm 2 người đi chợ nắm tình hình địch ngay từ vị trí của chúng, làm nhiệm vụ quân báo cho bộ đội. Chỉ huy huyện đội Phù Cừ là các đòng chí Đạt - huyện đội trưởng, Bổn - chính trị viên, Tuyên - huyện đội phó. Đại diện Đảng và chính quyền huyện là đồng chí Biểu - thường vụ Huyện ủy và chủ tịch huyện Phù Cừ.
Tỉnh đội Hưng Yên có tôi - Võ An Đông và đồng chí Phan Mạnh Hà đi cùng, trực tiếp đi sát xây dựng kế hoạch tác chiến và chỉ huy C92 đánh Thọ Lão và cùng với lãnh đạo huyện Phù Cừ đặt kế hoạch huy động lực lượng địa phương phối hợp phục vụ chiến đấu trong và sau trận đánh. (Đồng chí Phan Mạnh Hà mới có quyết định chuyển về khu công tác, trong khi chờ giao thông đưa về khu công tác cũng vẫn theo sát bộ đội, đồng chí đã bị địch bắt trong trận càn "Con rắn" (Reptile) ở Bình Giang ngày 20-4-1951 thật đáng tiếc).
Trong ý định của kế hoạch còn có điểm hoàn toàn khác trước, là thái độ đối với tề và đối với tù binh bắt được. Theo tinh thần nghị quyết Tỉnh ủy hồi cuối năm 1950, cần phải tận dụng thế hợp pháp, công khai, giữ kín lực lượng bảo vệ dân ở mức tối đa, đưa quần chúng dân từng bước đấu tranh với địch, từ thấp tới cao, từ công khai tới bán công khai, bất hợp pháp, cho nên sau khi phá xong bốt hương dũng, ta vẫn chủ trương, vẫn giữ nguyên ban tề hoạt động, nhưng phải theo sự hướng dẫn của ta, lúc đầu vẫn nộp cho địch đủ phu sai tạp dịch, sau bớt dần, đi tới xóa bỏ hẳn. Ta lại mớm cho tề vừa hù dọa địch vừa khuếch trương sức mạnh của ta, làm cho địch càng khiếp sợ ta. Trong khi đó, ta tranh thủ tuyên truyền tập hợp tổ chức củng cố chi bộ, các đoàn thể, trang bị huấn luyện cho dân quân, du kích; bộ đội về làng thì đào công sự và sẵn sàng đánh địch, đồng thời có kế hoạch cho dân cất giữ thóc lúa, phòng tránh phi pháo, khi bộ đội rút đi thì dùng rơm lấp công sự và phủ trên lớp đất mỏng, đồng thời chuẩn bị cho tề và dân cách đấu tranh công khai với địch, hạn chế sự khủng bố hung bạo của chúng, cứ thế, cho tới khi ta mạnh và bọn địch ở các vị trí xung quanh không dám bén mảng nữa thì tự nhiên tề phải tự giải tán, không cần dùng các hình thức gì khác. Ví như thôn Thọ Lão, sau khi được giải phóng, tề vẫn còn, dân vẫn dùng thế tề đi lại công khai vào vùng địch hậu, dân vẫn yên ổn làm ăn và bọn địch xung quanh không dám bén mảng tớ ; cho nên tề tự nó không còn tác dụng, hương đồn cũng không lập lại được. Khu du kích của ta ngày càng được củng cố vững chắc, tình đoàn kết quân dân ngày càng gắn bó.
Còn thái độ đối với tù binh bắt được thì thế nào? Xuất phát từ nhận thức về ngụy binh, tề dõng tuy có hành động bóc lột áp bức nhân dân nhưng trừ một số rất ít tên đại gian ác còn đại bộ phận do hoàn cảnh địch mạnh, ta yếu mà bị dụ dỗ, bắt buộc đi lính chứ không phải tất cả là phản động chống lại kháng chiến, và cũng do điều kiện vùng của ta kiểm soát không rộng, khả năng cung cấp có hạn và ở sâu trong địch hậu, tổ chức đưa tù binh ra vùng tự do hết sức khó khăn, chủ trương của ta là thực hiện đầy đủ chính sách khoan hồng của Chính phủ đối với tù binh, nhất là ngụy binh. Ta chỉ giữ lại 1 hoặc 2 ngày giáo dục chúng hiểu kẻ thù dân tộc chính là thực dân Pháp chứ không phải là ngụy binh, rồi thả chúng về với vị trí của chúng, nhưng căn dặn, nhắc nhở chúng về với địch thì hoặc là xin về với vợ con làm ăn hoặc bí mật liên lạc với kháng chiến, quay súng bắn lại Pháp hoặc thậm chí phải đi càn quét thì không được cướp hóc, giết hại dân và bắn chỉ thiên, sẵn sàng giơ tay hàng bộ đội ta... Vì vậy, kế hoạch tác chiến bao giờ cũng có kế hoạch địch vận đi kèm. Ban địch vận Tỉnh đội do đồng chí Nguyên Hữu Vận làm trưởng ban đã chuẩn bị trước bài vở lên lớp, đi sát sở chỉ huy, sẵn sàng làm nhiệm vụ "quản giáo" tù binh một cách có hiệu quả. Thái độ khoan hồng đối với tù binh như trên đã đem lại kết quả trực tiếp và sâu rộng trong hàng ngũ địch. Tù binh bắt được trong trận tới được thả về bốt Cao Xá và nói um lên sức mạnh của ta lại càng reo rắc tâm lý hoang mang, sợ hãi của bọn địch. Trực tiếp ngay là tề phản động ở thôn Trà Bồ đã vội bí mật liên lạc với ta, xin giao nộp vũ khí cho ta, tạo cho ta mở tiếp luôn khu du kích mới ở phía bắc Phù Cừ sau đó hơn 10 ngày. Về sau, có những trận địch vừa gặp ta nổ súng xung phong là đã hàng ngay, ta gần như không bị thương vong gì. Ví như trận đánh địch ở thôn Nhân La Lương (làng Mát) có 2 tên sĩ quan Pháp chỉ huy hơn 1 trung đội ngụy bốt Ân Thi và Thổ Hoàng tới, ta vừa nổ súng xung phong đã bắt gọn ngay toàn bộ quân địch (trận đánh của C22 ngày 20-10-1951); hoặc trận đánh của C27 cũng vào thời gian đó, đã bắt sống 1 trung đội địch có 2 sĩ quan Pháp chỉ huy tại thôn Đống Long, sau đó tiến lên diệt bốt Thanh Sầm (huyện Kim Động) và nhiều trận nữa cũng tương tự như vậy.
Ngày nay, suy ngẫm lại, cá nhân tôi lại càng thấy chủ trương đối với tề, ngụy lúc đó thật là sáng suốt, thông minh, tạo cho ta thêm bạn, bớt thù, lực lượng kháng chiến ngày càng được bổ sung đã thực sự uốn nắn tư tưởng và hành động rất sai lạc của một số đồng chí mà ta gọi là "bệnh ấu trĩ" tả khuynh. Tôi lại càng thấm thía lời căn dặn chân thành của Bác Hồ trong thư gửi cho cán bộ, nhân dân tỉnh Hưng Yên đang bị quằn quại dưới sự kìm kẹp, khủng bố của địch, có câu "Các chú phải khéo đánh giặc và khéo tránh giặc".
Trận đánh diễn ra và thực hiện suôn sẻ đúng theo kế hoạch. Đêm 31-3-1951, trận đánh Thọ Lão quyết liệt nhất. C92 dùng mìn lỏm đánh sập 2 lô cốt. Địch rút lên gác chuông nhà thờ chống cự quyết liệt, không chịu hàng, giết hại 8 chiến sĩ ta, cố đợi tới sáng hy vọng quân ứng cứu. Nhưng 5 giờ ngày 1-4-1951, nhà thờ bốc cháy, khói hun lên gác chuông, địch bị ngạt khói, rơi xuống đất chết hết. Tiểu đoàn 664 diệt và bắt sống một trung đội ngụy từ vị trí Cao Xá định ứng cứu cho Thọ Lão. Ta không bị thương vong người nào. C24 Phù Cừ bao vây gọi hàng bốt hương dũng Viên Quang và đêm 1-4-1951, khuếch trương chiến thắng, dùng chiến thuật "dung dọa" gọi hàng 2 bốt Hạ Cát và Cát Dương, không tốn một viên đạn nào. Nhân dân, dân quân du kích các xã hồ hởi phục vụ các mặt chiến đấu và bảo đảm đặc biệt giữ bí mật rất tốt. Uy thế của lực lượng kháng chiến lên rất cao. Trận đánh đêm 31-3-1951 và ngày 1-4-1951 tuy không tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, nhưng lại có ý nghĩa rất to lớn đối với lịch sử kháng chiến của Hưng Yên. Đó là trận mở đầu có tính chất đột phá thắng lợi vào hệ thống tháp canh, hương đồn của địch, mở được 1 khu du kích đầu tiên của tỉnh đang ở thế bị tạm chiếm hoàn toàn. Đó là trận đã tạo được một mô thức khá hoàn hảo và toàn diện để ta vừa mở được cơ sở, lại vừa diệt được địch, vừa bào toàn bồi dưỡng được lực lượng, kết hợp chủ lực với địa phương, kết hợp tác chiến với địch vận, kết hợp quân sự với chính trị.
Từ nay diệt, vị trí hương dũng không chỉ đánh một đêm rồi rút mà phải trụ lại ban ngày để đánh viện, chủ lực có phối hợp thì đảm nhiệm đánh viện, địa phương diệt hoặc bao vây bốt địch để gọi viện. Sau trận đánh đều có kế hoạch khuếch trương chiến quả (dung dọa), vừa mở thêm cơ sở, vừa đánh lạc hướng phán đoán của địch, có phương châm và cách thức xử lý đối với tề, tù binh bắt được, có kế hoạch ổn định, bảo vệ dân trong và sau trận đánh, coi như đã được thành "bài bản" từ trận Thọ Lão. Duy nhất trận Cao Xá (năm 1953) vì không theo bài bản này nên bị thất bại. Tiện đây, cũng xin cải chính một tư liệu ghi trong cuốn "Lịch sử cuộc khảng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng", trang 265 có nói D664 diệt vị trí Cầu Tràng là không đúng. Thời kỳ này, địch chưa đóng vị trí Cầu Tràng mà về sau, năm 1952, chúng mới cắm vị trí này và bị một đơn vị của E42 tiêu diệt.


