Bài viết

TRẦN HỌC GIỚI (1909 - 1987)

Đà Nẵng24/11/2025Đoàn xã Tam Xuân (Đoàn xã Tam Xuân)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Trần Học Giới, tên khai sinh là Trần Học Lan, bí danh Chính, sinh năm 1909 tại làng Thuận An, tổng An Hòa, Phủ Tam Kỳ, nay thuộc xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra trong gia đình làm nghề biển; cha là Trần Văn Trình - một nhà yêu nước, mẹ là Huỳnh Thị Trung.

Lúc còn nhỏ, Trần Học Giới thường được nghe cha đàm đạo với các ông Huỳnh Cận, Lê Kỉnh... về các phong trào Cần vương, chống sưu thuế, thuế nặng, Duy Tân, Đông Du... Tuy còn nhỏ, chưa ý thức được thế nào là yêu nước, nhưng Trần Học Giới cũng đã biết suy nghĩ sau này lớn lên sẽ noi gương mấy ông chí sĩ ấy thà chết còn hơn can tâm làm tay sai cho giặc Pháp áp bức nhân dân vô tội. Khi được cha mẹ cho đi học chữ quốc ngữ và có điều kiện tiếp xúc với những sách báo có nội dung tiến bộ, với sự thông minh, ham học hỏi nên Trần Học Giới dần dần hiểu được thời cuộc, thấy được con đường mà mình phải đi.

Năm 1929, Trần Học Giới tham gia vào nhóm thanh niên yêu nước ở Bàn Than, hoạt động theo tôn chỉ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên do Hồ Đắc Thành và Phạm Cự Hải thành lập. Nội dung hoạt động theo đường lối của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên với các hình thức biến tướng như là tham gia các hội trồng dừa, hội đá bóng...

Ngày 28 tháng 3 năm 1930, Đảng bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Quảng Nam ra đời lãnh đạo phong trào cách mạng tỉnh nhà, đánh dấu mốc son lịch sử của nhân dân Quảng Nam bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đấu tranh dân tộc, dân chủ theo ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giữa lúc phong trào cách mạng trong tỉnh đang phát triển, cuối tháng 10 năm 1930, địch phát hiện ra cơ quan Tỉnh ủy Quảng Nam, nhiều tổ chức cơ sở Đảng trong tỉnh bị phá vỡ, hầu hết các đồng chí Tỉnh ủy bị bắt, toàn bộ tài liệu cơ quan Tỉnh ủy bị tịch thu. Vụ bể vỡ nhanh chóng lan ra toàn tỉnh. Phần lớn các đảng viên, các hội viên công hội đỏ, nông hội đỏ, cứu tế đỏ trong tỉnh đều bị bắt.

Tuy nhiên, lúc này ở vùng An Hòa cũng như các xã lân cận phía Nam của phủ Tam Kỳ, các tổ chức biến tướng vẫn tiếp tục hoạt động. Đến ngày 02 tháng 12 năm 1932, chi bộ Đảng An Hòa được thành lập lấy tên là chi bộ “Quang Ánh Minh”, gồm có 3 đảng viên: Võ Minh, Lương Hợp Phố và Trần Học Giới, do đồng chí Võ Minh làm Bí thư. Sau một thời gian, Chi bộ này được công nhận là Chi bộ độc lập trực thuộc sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Quảng Ngãi.

Sau khi được công nhận chi bộ độc lập, các đồng chí trong chi bộ phân công nhau tích cực tuyên truyền cách mạng và thành lập các tổ Cứu tế đỏ, đồng chí Trần Học Giới phụ trách tổ Ấp Thuận An (Bàn Than). Với vai trò trách nhiệm của mình, Trần Học Giới cùng với các đồng chí đảng viên trong chi bộ mở rộng tuyên truyền hoạt động cách mạng ra các xã trong vùng, liên lạc với số quần chúng trong các tổ chức yêu nước trước đây, chuẩn bị cho việc phát triển tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng, mở rộng phong trào ra toàn phủ Tam Kỳ. Cùng với các nhiệm vụ trên, đồng chí Trần Học Giới cùng với các đồng chí trong chi bộ vận động quần chúng trong tổng An Hòa đấu tranh chống lại bọn cường hào ức hiếp nhân dân.

Đầu năm 1933, tại rừng Định Phước (nay thuộc xã Tam Nghĩa), Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam được thành lập trên cơ sở chi bộ An Hòa. Đồng chí Trần Học Giới được cử làm Phó Bí thư Tỉnh ủy, Ủy viên Ban Cán sự miền Trung Trung bộ phụ trách liên lạc với Tỉnh ủy Quảng Ngãi và được giao nhiệm vụ ra Đà Nẵng gặp đồng chí Trương Quản Ngọc làm ở hỏa xa Đà Nẵng để bắt liên lạc với tổ chức “Vừng Hồng” ở Nghệ Tĩnh và Thanh Hóa, nhưng việc này chưa thực hiện được.

Để đẩy mạnh công tác khôi phục cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng cách mạng, trong hai ngày 27 và 28 tháng 02 năm 1933, Tỉnh ủy tổ chức một cuộc hội nghị. Đồng chí Trần Học Giới đã tích cực tham gia chuẩn bị nội dung cho Hội nghị, trên cơ sở đó Hội nghị đã đề ra nhiều chủ trương nhằm đưa phong trào cách mạng trong tỉnh phát triển lên một bước mới. Hội nghị nhận định: “Trong hai năm 1930 - 1931, đế quốc Pháp và phong kiến Nam triều ra tay khủng bố, nên nhiều đồng chí bị bắt bị tù đã đành mà quần chúng lao khổ có xu hướng cộng sản cũng liên lụy, thế nhưng thợ thuyền dân cày, binh lính, học sinh và các hạng người lao khổ không sợ cộng sản mà còn xu hướng cộng sản, ai nấy đều căm giận đế quốc phong kiến. “Hoàn cảnh này làm cho đồng chí ta dễ đường vận động”. Phong trào đấu tranh của quần chúng “từ sau khi bị khủng bố trắng, cách mạng vận động yếu nên đấu tranh của nhân dân cũng ít ỏi, gần đây phong trào đấu tranh có tiến bộ”.

Trên cơ sở phân tích tình hình trên, Hội nghị đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh. Hội nghị chủ trương về công tác xây dựng Đảng: “Tiến hành tổ chức các chi bộ ở các huyện đương có đồng chí chờ chủ trương, ở đâu có 3 chi bộ thì lập Huyện ủy hay phủ ủy lâm thời, tổ chức ở Tourane một ban cán sự đặc biệt, lấy hai đồng chí ở Tam Kỳ bổ sung vào lâm thời Tỉnh ủy, phái đồng chí vào Nam ra Bắc bắt liên lạc, mở một lớp huấn luyện, lấy tài liệu vừa xin được và tài liệu báo để giảng dạy, ra tờ báo lấy tên giải phóng”[1].

Những chủ trương trên đây được đồng chí Trần Học Giới và Tỉnh ủy tổ chức triển khai thực hiện. Tuy nhiên, không bao lâu sau đó, sau Hội nghị vào ngày 23 tháng 4 năm 1935 giữa các đại biểu của Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà họp tại Quảng Ngãi dưới sự chủ trì của đồng chí Tống Văn Trân - phái viên của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương về việc giúp đỡ xây dựng các đảng bộ địa phương ở các tỉnh miền Nam, Đảng bộ Quảng Nam bị địch đánh phá, tổn thất nặng nề, toàn bộ Tỉnh ủy lâm thời bị bắt. Đồng chí Trần Học Giới cùng các đồng chí trong Tỉnh ủy bị bắt giam tại nhà lao Hội An, bị kết án 5 năm tù và 20 năm quản chế.

Năm 1936, khi Mặt trận Bình dân ở Pháp lên nắm quyền, thực hiện một số chính sách dân chủ, tiến bộ, trả tự do cho một số tù chính trị ở các nước thuộc địa. Trước khi được trả tự do, đồng chí đã sáng tác bài thơ tựa đề “Chim trời cất cánh”[2] để thỏa lòng mong chờ bấy lâu được gặp gỡ đồng chí, đồng đội tiếp tục con đường cách mạng mà mình đã chọn với một lòng tin tưởng vào thắng lợi ngày mai.

Mặt trận Bình dân Pháp thắng rồi

Mở cùm người lính mách thầm tôi

Ngày mai anh được ra về đấy

Vui với vợ con sướng suốt đời

Mỉm cười, tôi đáp: “Cảm ơn lòng”

Nợ nước may ra sắp trả xong

Ai có biết chăng người cách mệnh

Quê nhà, đồng chí đang chờ mong

Từ giã nhà lao giữa hội này

Giã cùm, giã xích, rảnh chân tay

Bước đường dân chủ ta rong ruổi

Mặc sức chim trời cất cánh bay

Lúc này đồng chí Nguyễn Trác (Nguyễn Thiều) được trả tự do, từ nhà tù Côn Đảo về Sài Gòn, bị trục xuất về Quảng Nam móc nối hoạt động với các đồng chí Trịnh Quang Xuân và Trần Học Giới cũng vừa ra khỏi nhà tù. Các đồng chí đã thành lập Ủy ban vận động Đại hội Đông Dương, gặp gỡ bí mật tại nhà đồng chí Lê Văn Hiến để bàn việc thu thập nguyện vọng, lấy chữ ký của các tầng lớp nhân dân gửi lên Chính phủ Pháp. Sau Đại hội Đông Dương, các đồng chí vừa móc nối xây dựng cơ sở Đảng ở các phủ, huyện vừa tiến hành các công việc lập lại Tỉnh ủy lâm thời.

Cuối năm 1936, đồng chí Nguyễn Trác triệu tập cuộc họp tại nhà đồng chí Nguyễn Ngọc Kinh ở làng Tân Hạnh, huyện Hòa Vang (nay thuộc xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng). Hội nghị chủ trương phát triển thực lực Đảng, thực lực quần chúng cả bí mật và công khai một cách đều khắp hơn nữa, lập nhiều hội ái hữu, hội tương tế, nhóm đọc sách báo, tận dụng báo chí công khai, kết hợp được giữa hoạt động bất hợp pháp và hoạt động hợp pháp, phát động quần chúng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh theo khẩu hiệu của Mặt trận Dân chủ, ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân ngành xe lửa, ủng hộ các tờ báo có nội dung tiến bộ trong nước. Hội nghị quyết định thành lập Tỉnh ủy lâm thời gồm có 7 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Trác làm Bí thư; đồng chí Trần Học Giới được cử vào Tỉnh ủy lâm thời[3].

Sau hội nghị, Tỉnh ủy phân công các đồng chí Tỉnh ủy viên phụ trách các phủ, huyện để giúp các địa phương phát triển thêm cơ sở Đảng, mở rộng hoạt động của các tổ chức biến tướng, vận động thành lập các Phủ ủy, Huyện ủy, đưa phong trào đi lên. Theo sự phân công của Tỉnh ủy, đồng chí Trần Học Giới về phủ Thăng Bình liên lạc với các đồng chí Hoành Tánh, tập hợp một số thanh niên tiến bộ tổ chức hội đọc sách báo ở Tây Giang (nay thuộc xã Bình Sa, huyện Thăng Bình); để đánh lạc hướng kẻ thù, các đồng chí chung vốn mở hiệu thuốc Đông y mang tên “Nghĩa Hòa Đường” làm cơ sở đọc sách báo tiến bộ. Trên cơ sở đó, đồng chí Trần Học Giới đã thành lập chi bộ Đảng ở Tây Giang gồm các đồng chí: Nguyễn Niệm, Hoành Tánh, Nguyễn Ngẫu, do đồng chí Nguyễn Niệm làm Bí thư. Đây là Chi bộ Đảng đầu tiên của phủ Thăng Bình, sau khi ra đời chi bộ đã vận động phát triển được nhiều tổ chức biến tướng, ái hữu. Hiệu thuốc “Nghĩa Hòa Đường” đã trở thành nơi thu hút nhiều quần chúng đọc sách báo tiến bộ. Hoạt động của chi bộ Tây Giang đã có ảnh hưởng trong vùng đông nam Thăng Bình giáp với Tam Kỳ, đóng góp tích cực cho phong trào cách mạng của huyện những năm 1936 - 1939.

Sau đó đồng chí Trần Học Giới về Tam Kỳ, cùng với các đồng chí Nguyễn Phùng, Nguyễn Như Khuê, Lê Bá, phát triển đảng viên củng cố chi bộ An Hòa và chi bộ Xuân Quang để tiến đến thành lập lại Phủ ủy. Năm 1937, ngoài các chi bộ trên còn phát triển thêm một số chi bộ Diêm Trường, Vân Trai, Phú Vinh... Trên cơ sở đó, tháng 3 năm 1937, Phủ ủy Tam Kỳ được lập lại do đồng chí Nguyễn Phùng làm Bí thư.

Sau thất bại cay đắng về dự án tăng thuế lần thứ nhất, bọn thực dân Pháp ở Trung Kỳ tìm mọi cách đối phó với sự lớn mạnh của phong trào Mặt trận Dân chủ. Chúng đưa ra dự án tăng thuế lần thứ hai, ban đầu mới đọc qua thấy có giảm thuế một vài hạng ngạch nhưng xem kỹ mới biết chúng dùng thủ đoạn tăng tỉ lệ lên, nên mức thuế càng nặng hơn trước. Tháng 10 năm 1938, Tỉnh ủy bàn việc thi hành chủ trương tiếp tục chống thuế của Xứ ủy lâm thời Trung Kỳ, bằng hình thức làm đơn, lấy chữ ký rộng rãi ở các phủ, huyện gởi lên Viện Dân biểu Trung Kỳ để can thiệp. Nhiều nhân sĩ, hào lý đấu tranh trực diện với tên Công sứ Quảng Nam khi y đến Tam Kỳ. Cả phủ có 165 xã thì có 100 xã ký đơn chống thuế. Có nhiều lý trưởng, chánh tổng chẳng những ký tên mà còn đóng triện vào đơn chống thuế. Tất cả đơn được gởi thành một bó và cử người mang ra Huế nộp cho Viện dân biểu Trung Kỳ nhờ can thiệp.

Phong trào chống thuế lan rộng khắp các phủ, huyện nên địch rất lúng túng trong việc đàn áp, khủng bố. Chúng xuống trát đòi một số lý trưởng ở Điện Bàn, Tam Kỳ, Hòa Vang và một số tổng, lý ở Quế Sơn lên tỉnh hăm dọa. Việc bắt bớ lan rộng. Những người bị bắt phản đối kịch liệt, buộc bọn chúng phải nhượng bộ. Tuy không bị bắt, nhưng Trần Học Giới nằm trong diện bị tình nghi.

Với những hoạt động trên, cuối năm 1938, đồng chí Nguyễn Thành Hãn đề xuất đồng chí Trần Học Giới làm Bí thư Tỉnh ủy thay mình, nhưng bị mật thám theo dõi gắt gao, để tránh sự chú ý của địch đồng chí xin không tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nữa và cử đồng chí Nguyễn Như Khuê tham gia Ban Chấp hành, đề xuất của đồng chí Trần Học Giới được Tỉnh ủy nhất trí. Sau đó đồng chí về hoạt động bí mật ở địa phương[4].

Trong tháng 7 năm 1939, Tỉnh ủy chủ trương các địa phương trong tỉnh tổ chức kỷ niệm ngày Cách mạng Tư sản Pháp (14/7/1789), riêng các huyện Đại Lộc và Hòa Vang tập trung vận động tuyển cử cho Đặng Thai Mai vào Viện dân biểu Trung Kỳ thay cho Phan Thanh từ trần trước đó. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, ở Tam Kỳ, mít tinh được tổ chức tại Núi Chùa, Quảng Phú (nay thuộc thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ). Hàng chục chiếc thuyền chở các đại biểu, đông nhất là tổng An Hòa, Đức Hòa và các xã lân cận trong phủ về dự. Cùng thời gian trên, ở sân vận động Tam Kỳ cũng xuất hiện băng, cờ búa liềm.

Sau cuộc mitting, tháng 9 năm 1939, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Quảng Nam bị vỡ. Bọn mật thám Pháp lồng lộn bắt bớ, đàn áp, một số đảng viên hoạt động công khai ở Thọ Khương bị bắt, ở Quảng Phú, Tri phủ Nguyễn Hữu Tựu ra lệnh bắt hơn 70 người. Trần Học Giới tuy không tham gia mitting, nhưng bị nghi là lãnh đạo, nên cũng bị bắt giam tại nhà lao Hội An. Trong ngục thất, đồng chí vẫn tin tưởng rồi đây thời cuộc sẽ đổi thay, Đảng ta sẽ lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đánh thắng quân Pháp xâm lược:

...Dân chủ phản động thế thì thôi

Bình dân Pháp e rồi sụp đổ

Lửa chiến tranh bùng nổ trời Âu

Bình quyền, bình đẳng gì đâu

Đông Dương rặt lũ to đầu gớm ghê

Nhìn tổ quốc tái tê gan ruột

Ắt rồi đây thời cuộc đổi thay

Đảng ta - thuyền thợ, dân cày

Trải bao sóng gió, vững tay chống chèo

Dù bị xích, lính theo áp tải

Vững lòng tin, Đảng mãi không lùi[5]...

Tháng 12 năm 1939, đồng chí bị chúng đày lên nhà đày Buôn Ma Thuột. Trong nhà đày, bất chấp bọn cai ngục bắt lao động khổ sai, rồi thấy cảnh tù nhân chính trị bị đàn áp, khủng bố dã man mỗi lần có đấu tranh, song đồng chí vẫn không hề nao núng mà kiên trì chịu đựng, giữ vững khí tiết, tham gia hưởng ứng các cuộc đấu tranh, biến nhà tù thành trường học, thường xuyên học hỏi đồng chí, đồng đội. Năm 1943, đồng chí Trần Học Giới bị chúng giải đi an trí ở Ly Hy và sau đó chuyển sang Phú Bài, Huế.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (09/3/1945), đồng chí Trần Học Giới ra tù, về lại địa phương tiếp tục tham gia chuẩn bị và lãnh đạo quần chúng nổi dậy giành chính quyền tại đồn Thương Chánh - Hiệp Hòa, phủ Tam Kỳ. Để tăng cường cán bộ cho các tỉnh Tây Nguyên, từ giữa tháng 10 năm 1945, nhiều cán bộ ở các tỉnh đồng bằng được bổ sung cho các tỉnh Tây Nguyên. Đồng chí cùng với các đồng chí Nguyễn Thị Sâm, Phan Bình... được Xứ ủy điều lên công tác tại Tây Nguyên, tăng cương cho tỉnh Gia Lai, sau đó, đồng chí Trần Học Giới được bầu làm Ủy viên Mặt trận Việt Minh tỉnh Gia Lai, phụ trách huyện An Khê.

Ngày 03 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 58 thành lập Nha Dân tộc thiểu số với chức năng, nhiệm vụ xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam.

Xuất phát từ quan điểm đó, đồng thời xét quá trình lịch sử hình thành, cố kết cộng đồng của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Nam, Tỉnh ủy Quảng Nam đã rất coi trọng công tác dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Ngay sau khi Nha Dân tộc thiểu số ở Trung ương được thành lập, theo chủ trương của Ủy ban hành chính miền Nam Trung bộ và Tỉnh ủy Quảng Nam, Ủy ban hành chính Quảng Nam đã quyết định thành lập Phòng Quốc dân thiểu số tỉnh và cử đồng chí Trần Học Giới làm Trưởng phòng.

Phòng Quốc dân thiểu số là cơ quan giúp cho tỉnh nghiên cứu, giải quyết mọi vấn đề liên quan đến các dân tộc thiểu số ở địa phương. Sau khi thành lập, mặc dù số lượng cán bộ rất ít nhưng Phòng đã triển khai ngay một số công tác ở vùng dân tộc thiểu số Bến Hiên (nay là Đông Giang và Tây Giang), Bến Giằng (nay làm Nam Giang), Phước Sơn - Trà My (nay là Phước Sơn, Nam Trà My và Bắc Trà My)... cụ thể là tuyển chọn cán bộ và thành lập các đoàn cán bộ phụ trách các vùng theo các thành phần dân tộc; các đoàn cán bộ này đến các địa phương, đến với đồng bào dân tộc để tuyên truyền, vận động; hình thành các đơn vị hành chính xã và thành lập đơn vị hành chính Châu (tương đương với đơn vị hành chính cấp huyện ngày nay); hình thành các tổ chức đảng ở các thôn, làng, xã vùng thấp, mở dần lên vùng cao.

Từ năm 1946 đến năm 1948, với cương vị là Trưởng phòng Quốc dân thiểu số tỉnh Quảng Nam, đồng chí Trần Học Giới đã cùng tập thể triển khai nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ thực hiện 3 cùng “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” để thâm nhập, bám dân, vận động, tuyên truyền chính sách dân tộc của Đảng, Bác Hồ đến với người dân. Từ năm 1948 đến năm 1950, đồng chí được tin tưởng giao nhiệm vụ làm Trưởng phòng Dân tộc thiểu số miền Nam Trung Bộ, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy cơ quan Liên khu 5; Bí thư Thượng du vận Liên khu ủy 5. Từ năm 1951, đồng chí học lớp chỉnh Đảng khóa 2 tại Việt Bắc rồi công tác tại Ban chỉnh Đảng Trung ương tại Liên khu 5.

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đồng chí tiếp tục ở lại miền Nam, làm Trưởng đoàn xây dựng cơ sở vùng dân tộc thiểu số tại Liên khu 5, sau đó tập kết ra miền Bắc. Từ năm 1956 đến năm 1957, đồng chí là Bí thư Hiệu trưởng trường Dân tộc thiểu số Trung ương. Sau đó, đồng chí được phân công phụ trách công tác tổ chức tại Ủy ban Dân tộc Trung ương.

Để nâng cao trình độ lý luận, phục vụ cho nhiệm vụ mới, năm 1958, đồng chí được cử đi học tại trường Nguyễn Ái Quốc. Mãn học, đồng chí làm Phó Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền giáo dục. Từ năm 1963 đến năm 1974, đồng chí giữ chức Vụ trưởng Vụ miền Nam của Ủy ban Dân tộc thiểu số Trung ương. Trong thời gian này, đồng chí hai lần được biệt phái sang công tác tại Ban Thống nhất Trung ương vào các năm 1962 - 1963 và 1973. Năm 1975, đồng chí được nghỉ hưu và chuyển về sống tại Đà Nẵng. Mặc dù tuổi đã cao nhưng đồng chí rất tích cực tham gia vào các Câu lạc bộ thơ, tham gia đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho các công trình Lịch sử của tỉnh nhà. Do tuổi cao, sức yếu, đồng chí đã từ trần ngày 04 tháng 11 năm 1987, hưởng thọ 75 tuổi.

Sinh ra tại vùng biển nghèo, trước cảnh lầm than nô lệ, như bao người dân khác Trần Học Giới luôn ao ước sau này mình sẽ làm một việc gì đó có ích cho quê hương. Với tinh thần và ý chí quyết tâm đó, đồng chí sớm tham gia cách mạng và trở thành một trong những đảng viên thuộc lớp đầu tiên của Đảng bộ tỉnh. Đặc biệt, đồng chí có vai trò rất lớn trong việc lập lại Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam cuối năm 1932 (sau vụ bể vỡ năm 1930), sau đó đồng chí nhiều lần bị địch bắt, tù đày nhưng dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào đồng chí Trần Học Giới vẫn giữ vững bản lĩnh ý chí của người đảng viên Đảng Cộng sản.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, từ chiến trường Khu 5 đến những ngày tập kết ra miền Bắc xã hội chủ nghĩa đồng chí luôn được Đảng tin tưởng giao trọng trách giữ chức vụ quan trọng, đó là công tác dân tộc, để động viên, phát huy tinh thần đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, ngoài tinh thần và ý chí cách mạng, còn có một Trần Học Giới - nhà thơ cách mạng, tuy thơ của đồng chí để lại rất ít, nhưng tất cả những bài thơ đó đều thể hiện một ý chí cách mạng đến cùng.

Có thể nói, thơ Trần Học Giới thực sự trở thành một vũ khí sắc bén để đồng chí vạch mặt, đả kích bộ mặt gian trá của kẻ thù và đặc biệt hơn là nhằm cổ vũ lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, nêu gương các đảng viên kiên trung. Ghi nhận những cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của đồng chí, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng: Huy hiệu 50, 40 năm tuổi Đảng và nhiều phần thưởng khác.


[1] Báo cáo và Nghị quyết của Hội nghị Tỉnh uỷ Quảng Nam, tài liệu đã dẫn, tr1. [2] Theo: Phong trào đấu tranh của tù yêu nước ở Nhà lao Hội An (1908 - 1945), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam xuất bản 2003, Tr.167 – 168. [3] Tỉnh ủy lâm thời có 7 đồng chí là: Nguyễn Trác, Nguyễn Đức Thiệu, Nguyễn Thành Hãn, Trần Học Giới, Nguyễn Ngọc Kinh, Phan Xuân Hoàng, Nguyễn Thúy. [4] Theo Hồi ký hoạt động cách mạng của đồng chí Trần Học Giới từ năm 1936 - 1939, tài liệu số 11-V-D, bản viết tay lưu tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam. [5] Trích đoạn bài thơ: Đày Buôn Ma Thuột, được đồng chí Trần Học Giới sáng tác trước khi bị đày lên Nhà đày Buôn Ma Thuột tháng 12 năm 1939. Sách đd tr.168.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn