Trần Khánh Khương– người lính thông tin dành trọn gần ba mươi năm cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng và quân đội.
Tháng 3 năm 1959, đồng chí nhập ngũ, bước vào con đường binh nghiệp đầy gian khổ nhưng vẻ vang. Trưởng thành từ rèn luyện và học tập tại Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam, ông đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong lực lượng thông tin quân đội. Trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại và tại chiến trường Bình Trị Thiên ác liệt, ông cùng đồng đội ngày đêm giữ vững mạch máu thông tin liên lạc – yếu tố sống còn của công tác chỉ huy, chỉ đạo chiến đấu.
Gắn bó lâu dài với Sư đoàn 472, Đoàn 559, dù ở bất kỳ cương vị nào, đồng chí Trần Khánh Khương luôn nêu cao tinh thần kỷ luật, tận tụy và trách nhiệm, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến và công cuộc xây dựng đất nước sau năm 1975.
Gần ba mươi năm quân ngũ là hành trình của sự cống hiến thầm lặng và bền bỉ. Nhưng phía sau những dòng tiểu sử khô khan, phía sau những huân chương và chức danh, là một tuổi thơ nhiều thiếu thốn, là những năm tháng chiến tranh mà ký ức vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí người đã đi qua bom đạn.
Và hôm nay, chúng ta được lắng nghe chính đồng chí Trần Khánh Khương kể lại câu chuyện đời mình – hành trình trở về từ “Khu tử địa”, bằng tất cả sự chân thật và khiêm nhường.
Ông sinh ra trong một gia đình nghèo. Cha mất sớm, từ khi ông mới lên năm, lên bảy. Hồi đó nhà khó khăn lắm, ông ở với anh trai ở thôn Công Minh, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa. Tuổi thơ của ông gắn với ruộng đồng, đói khổ quen rồi.
Đến mười tám tuổi, ông đi khám nghĩa vụ quân sự. Người gầy, thiếu cân nên bị loại. Nhưng ông không chịu. Ông nghĩ, đất nước đang chiến tranh, mình là thanh niên thì phải đi. Hôm sau ông mặc thêm quần áo của anh, uống nhiều nước, ăn khoai lang cho đủ cân rồi đi khám lại. Lần đó thì được nhận. Năm 1959, ông nhập ngũ, lúc vừa tròn mười tám tuổi.
Vào bộ đội rồi, ông cố gắng rèn luyện. Những năm đầu vất vả nhưng quen dần. Năm 1962, ông được cử đi học Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam. Học xong, đến năm 1965 thì ra trường, mang quân hàm Thiếu úy, được phân công làm trợ lý thông tin đơn vị E57 – F304, thuộc Quân khu 3.
Đến năm 1967, ông nhận lệnh về Trung đoàn E138, trực thuộc Bộ. Sau đó không lâu thì được điều động vào chiến trường B, khu vực Bình Trị Thiên. Ông nói, lúc nhận lệnh ai cũng hiểu là đi vào nơi rất ác liệt, nhưng không ai xin ở lại.
Đơn vị ông chiến đấu ở Gio Linh – Dốc Miếu, Quảng Trị. Chỗ đó lính gọi là Khu tử địa. Ở đấy bom đạn ngày nào cũng có. Mỹ lập hàng rào điện tử Macnamara, mìn chôn dày đặc, dây thép gai giăng kín để chặn đường từ Bắc vào Nam. Chúng bắn phá liên tục, ngày cũng như đêm.
Ông kể, có những hôm vừa đào xong hầm thì bom đánh sập. Có trận đánh, buổi sáng còn đủ người, đến chiều chỉ còn lại vài chục. Có người chưa kịp biết tên nhau đã hy sinh. Có người ngã xuống khi cơm còn cầm trên tay, chưa kịp ăn. Chiến hào nhiều đoạn bị xe tăng cán nát, không còn hình dạng.
Ông làm công tác thông tin nên rất hiểu giá trị của từng đường dây liên lạc. Chỉ cần thông tin bị cắt là không điều quân, không chỉ huy được. Nhiều lúc để giữ được liên lạc, anh em phải bò ra giữa mưa bom. Có người đi nối dây là không trở về. Ông bảo, giữ được đường dây là giữ được cả trận địa.
Quân Mỹ rải truyền đơn kín khu vực, ngày nào cũng dùng loa gọi chiêu hồi, hứa hẹn đủ điều. Nhưng ông nói, lúc đó chẳng ai nghĩ đến chuyện khác. Đã vào đây rồi thì chỉ có tiến lên. Giấy báo tử gửi về nhiều đến mức chất thành đống, tính bằng cân.
Cuộc sống lúc đó thiếu thốn đủ bề. Đói, khát thường xuyên. Phà Long Đại bị đánh dữ, tiếp tế rất khó. Trên đầu là bom, dưới đất là mìn, bên tai là tiếng loa tâm lý chiến suốt ngày. Nhưng đơn vị vẫn bám trụ, vẫn giữ vị trí, không ai rời bỏ nhiệm vụ.
Bây giờ chiến tranh đã lùi xa. Nhiều đồng đội của ông đã nằm lại ở Gio Linh, Dốc Miếu. Những kỷ vật mang theo ngày ấy phần lớn cũng không còn. Ông chỉ giữ được vài tấm huân chương và những ký ức không thể quên.
Ông nói, ông không coi đó là điều gì lớn lao. Đó chỉ là việc của một người lính trong lúc đất nước cần. Nhưng với ông, đó là cả một quãng đời không thể quên.
Khép lại những trang hồi ức về ông Trần Khánh Phương, lòng ta không khỏi bàng hoàng trước một ý chí can trường được dệt nên từ những năm tháng gian lao nhất của lịch sử. Cuộc đời ông không chỉ là một danh xưng trên mặt giấy, mà là một hành trình tận hiến, nơi cái 'tôi' cá nhân đã hoàn toàn hòa quyện vào cái 'ta' chung của dân tộc. ông đã đi qua những bão giông của cuộc đời bằng một trái tim nóng hổi và một đôi chân không mỏi mệt, để lại sau lưng không phải là danh vọng, mà là một bóng cả đại ngàn che chở cho niềm tin của thế hệ mai sau. Nghe chuyện về ông ta chợt nhận ra rằng: Có những con người chọn cách sống như những ngọn nến, lặng lẽ cháy hết mình để xua tan bóng tối, để thắp lên ánh sáng cho một tương lai mà chính họ có thể chẳng kịp nhìn thấy. Đó là vẻ đẹp của sự hy sinh vô điều kiện. Những bài học về đạo đức và lòng trung kiên của ông Trần Khánh Khương sẽ mãi là kim chỉ nam, nhắc nhở chúng ta về giá trị của hai tiếng “đồng bào” và trách nhiệm với mảnh đất hình chữ S này. Soi mình vào tấm gương ấy thế hệ trẻ hôm nay như được tiếp thêm nguồn nhựa sống, để biết sống sâu sắc hơn, biết cống hiến mãnh liệt hơn, và để cùng nhau viết tiếp giấc mơ về một Việt Nam hùng cường, rạng rỡ, xứng đáng với từng giọt máu hồng đã đổ xuống cho nền độc lập hôm nay.



