Khác

Trần Kiên – Người cán bộ Khu 5 hoạt động giữa vòng vây của chiến tranh

Trần Kiên là bí danh của Nguyễn Tuấn Tài (1920–2003), quê Nghĩa Kỳ, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi. Ông tham gia cách mạng từ năm 1936, từng là một trong những chỉ huy Đội du kích Ba Tơ. Sau Hiệp định Genève 1954, thay vì tập kết ra Bắc, ông ở lại Tây Nguyên, giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum trong giai đoạn địch khủng bố “tố cộng, diệt cộng” rất khốc liệt. Từ năm 1960, ông trở thành cán bộ chủ chốt của Khu 5, lần lượt giữ các vị trí Phó Ban Quân sự, Ủy viên Thường vụ Khu ủy, Phó Tư lệnh và Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu 5. Ông nổi bật ở khả năng xây dựng cơ sở, tổ chức hậu cần tại chỗ và duy trì lực lượng trong điều kiện bị bao vây, đánh phá. Năm 1975, ông tham gia chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên và các chiến dịch giải phóng miền Trung, sau đó tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh

Quảng Ngãi21/08/2026Xã Lam Sơn (Xã Lam Sơn)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Trần Kiên – Người cán bộ Khu 5 hoạt động giữa vòng vây của chiến tranh

Thời kỳ lịch sử

Kháng chiến chống Pháp và đặc biệt là kháng chiến chống Mỹ tại Tây Nguyên – Khu 5, từ sau 1954 đến mùa Xuân 1975.
1. Nguyễn Tuấn Tài – người thanh niên bước vào cách mạng

Trần Kiên không phải tên thật của ông.

Ông tên là:

Nguyễn Tuấn Tài.

Sinh năm 1920, tại Nghĩa Kỳ, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi.

Năm 1936, khi phong trào cách mạng đang phát triển mạnh, chàng thanh niên Nguyễn Tuấn Tài bắt đầu tham gia hoạt động.

Đó là bước đi đầu tiên của một cuộc đời kéo dài qua gần bốn thập niên chiến tranh.

Năm 1945, ông vào Đảng và nhập ngũ.

Từ một cán bộ hoạt động bí mật, ông dần trở thành người chỉ huy trong lực lượng vũ trang.

Và rồi Tây Nguyên trở thành địa bàn gắn bó với ông gần như suốt cuộc đời.


2. Đội du kích Ba Tơ

Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Tuấn Tài từng là một trong những người chỉ huy Đội du kích Ba Tơ.

Ba Tơ là một địa danh đặc biệt của Quảng Ngãi và của phong trào cách mạng Khu 5.

Tại đây, lực lượng cách mạng phải chiến đấu trong điều kiện:

thiếu vũ khí.

thiếu lương thực.

thiếu phương tiện.

Nhưng có một thứ ngày càng lớn:

lòng dân.

Đó cũng là bài học đầu tiên mà Trần Kiên mang theo suốt cuộc đời:

Muốn giữ được chiến trường, trước hết phải giữ được dân.


3. Sau Genève 1954 – ông không đi tập kết

Năm 1954.

Hiệp định Genève được ký kết.

Một bộ phận lớn cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra miền Bắc.

Nhưng Nguyễn Tuấn Tài nhận nhiệm vụ:

ở lại.

Đây là một quyết định đặc biệt nguy hiểm.

Bởi sau 1954, chính quyền Việt Nam Cộng hòa triển khai những chiến dịch đàn áp mạnh nhằm tiêu diệt cơ sở cách mạng.

Ở Khu 5, chính sách “tố cộng, diệt cộng” khiến phong trào bị tổn thất rất nặng.

Những người ở lại phải sống trong một tình thế gần như không có vùng an toàn.

Và chính trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Tuấn Tài bắt đầu hoạt động dưới bí danh:

Trần Kiên.

https://images.openai.com/static-rsc-4/vcelY8LIVklwoOWdg9F7_pieBNUyJi5SCF7w7reFF5oZjbjtvYmT_OWXrDMPenzNMER6APVVuhM2nDojmSvQYutGqWf_yy7jNz6WiYqZCcF9cXyunuEeWWjOikZwk-K9BzTFKWQtMD9OSzT9OuyPlSa6EurxTYyZPXZzgwVj89IQEhRghPZPASUtwT3r4UL6?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/URkfG-i-uof2u_Chw5J_qGoFysd8WHfE4NUSAg8dBgwXCG5uMyT53B-kMp7PUoyCD7wIxSPZov4oM1Nu3uJwq-FowmUoIS54sMbbSwafCsO8tgrBqxM0o9WLEUtnA5klR54-J-Mnls8NqikW_jnipNlJNVriAIz7yBlC4Z6c9EpkGio6_OS9WlaTO2Z4r6QN?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/CI6teHCzqZjNKKACMOU656sH4ML_km0uMSanYLYVmiQ78WhWDQY9JuALrEUrvOM7A2l5OU2h0Wx2JvvZy2anKjfyCjmohlZd-tc3FeIWKbO376iA_AGZgs3pCUPffgdp76hV8ZJw_rZha1HxtHqVFelOQWqXywOa8yDuQDjT6BwSeFhAncEA-6qOYUUEYhun?purpose=fullsize

Chú thích: Tây Nguyên – địa bàn Trần Kiên ở lại hoạt động sau năm 1954, trong giai đoạn phong trào cách mạng Khu 5 chịu sự đàn áp khốc liệt.
Nguồn: Báo Nhân Dân; Báo Quân đội nhân dân.


4. Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum trong những năm đen tối

Từ cuối năm 1954 đến năm 1960, Trần Kiên giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum, đồng thời là Liên tỉnh ủy viên Liên tỉnh 4.

Đây là một trong những giai đoạn khó khăn nhất của cách mạng miền Nam.

Không phải chiến tranh theo nghĩa những trận đánh lớn.

Mà là một cuộc săn đuổi:

cán bộ.

cơ sở.

đảng viên.

người nuôi giấu cách mạng.

Người cán bộ muốn tồn tại phải biết:

ẩn.

di chuyển.

bám dân.

xây dựng lại cơ sở từ con số gần như bằng không.


5. Tây Nguyên – nơi cách mạng tìm thấy chỗ đứng

Sau này nhà văn Nguyên Ngọc từng viết rất sâu về những năm tháng ấy.

Ở Tây Nguyên, khi lực lượng cách mạng bị dồn ép, họ tìm đến nơi còn có thể che chở cho mình:

nhân dân.

Nhưng nhân dân Tây Nguyên không chỉ là nơi trú ẩn.

Họ trở thành:

người dẫn đường.

người bảo vệ.

người nuôi dưỡng.

người đưa tin.

người cùng chiến đấu.

Báo Tuổi Trẻ khi viết về Trần Kiên đã nhấn mạnh rằng công việc khó khăn nhất của người cán bộ Tây Nguyên thời kỳ ấy là kiên trì làm cho nhân dân hiểu, tin và từ đó che chở, bảo bọc cách mạng.

Đó chính là công việc Trần Kiên đã làm trong những năm 1954–1960.


6. “Không có một tấc đất đứng chân”

Điều đáng sợ nhất đối với một lực lượng cách mạng không phải lúc nào cũng là đối phương có nhiều quân.

Mà là:

không có nơi đứng chân.

Không căn cứ.

Không hậu cần.

Không cơ sở.

Không dân.

Không đường liên lạc.

Ở Tây Nguyên những năm đầu sau Genève, cách mạng phải từng bước giành lại tất cả những thứ đó.

Trần Kiên là một trong những cán bộ làm công việc ấy.

Không ồn ào.

Không có những trận đánh lớn để báo cáo.

Nhưng mỗi cơ sở được dựng lại là một thắng lợi.

Mỗi gia đình dám che giấu cán bộ là một thắng lợi.

Mỗi buôn làng đứng về phía cách mạng là một thắng lợi.


7. Năm 1960 – bước ngoặt của chiến trường Khu 5

Cuối năm 1960, Trần Kiên được điều về Ban Quân sự Khu 5, giữ chức Phó ban Quân sự.

Đây là thời điểm phong trào cách mạng miền Nam bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới.

Nghị quyết Trung ương 15 mở đường cho việc đẩy mạnh đấu tranh cách mạng.

Khu 5 cần một bộ máy quân sự có khả năng:

xây dựng lực lượng.

tổ chức chiến đấu.

mở rộng căn cứ.

bảo đảm hậu cần.

Và Trần Kiên là một trong những cán bộ được giao nhiệm vụ đó.


8. Quân khu 5 được thành lập

Tháng 5/1961, Trung ương quyết định tổ chức lại chiến trường miền Nam thành các khu.

Khu 5 gồm một địa bàn rộng lớn từ miền Trung đến Tây Nguyên.

Ngày 27/7/1961, tại căn cứ Nước Là, Bộ Tư lệnh và các cơ quan Quân khu 5 được thành lập.

Trong bộ máy lãnh đạo quân sự lúc đó có:

Nguyễn Đôn.

Võ Thứ.

Đặng Hòa.

và:

Nguyễn Tuấn Tài – Trần Kiên, Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu 5.

Một người từng phải tìm từng cơ sở để tồn tại giờ đây được giao một nhiệm vụ có quy mô toàn chiến trường:

bảo đảm hậu cần cho cả Quân khu 5.


9. Hậu cần – cuộc chiến phía sau tiếng súng

Người ta thường nhớ chiến tranh bằng:

trận đánh.

xe tăng.

máy bay.

pháo binh.

Nhưng phía sau mỗi trận đánh là:

gạo.

muối.

thuốc men.

đạn.

vũ khí.

quần áo.

đường vận chuyển.

Và hàng nghìn con người bảo đảm cho tất cả những thứ đó.

Trần Kiên trở thành người chịu trách nhiệm về một phần sống còn ấy.


10. Chủ nhiệm Hậu cần trong điều kiện khắc nghiệt

Những năm 1962–1964, Trần Kiên là Khu ủy viên, Ủy viên Thường vụ Khu ủy 5, Thường trực Quân khu ủy, kiêm Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu 5.

Đây là thời kỳ Mỹ và chính quyền Sài Gòn tăng cường các hoạt động quân sự.

Đường giao thông bị đánh phá.

Căn cứ bị càn quét.

Kho tàng phải di chuyển.

Lương thực phải phân tán.

Các tuyến vận tải bị máy bay săn đuổi.

Trong hoàn cảnh ấy:

hậu cần không thể tồn tại theo kiểu hậu phương bình thường.

Nó phải:

phân tán.

cơ động.

tại chỗ.

dựa vào dân.

dựa vào rừng núi.


11. “Hậu cần tại chỗ”

Trần Kiên hiểu rất rõ một thực tế:

Khu 5 quá rộng.

Địa hình hiểm trở.

Đường vận chuyển từ miền Bắc vào gặp vô số khó khăn.

Nếu chỉ trông chờ vào nguồn chi viện bên ngoài:

không đủ.

Vì vậy phải xây dựng khả năng:

tự sản xuất.

tự nuôi quân.

tự bảo đảm một phần hậu cần ngay trên chiến trường.

Đây là một trong những hướng công tác quan trọng của ông.

Và về sau, nó phát triển thành những mô hình quy mô lớn.


12. Đoàn 733 – đưa người lên Tây Nguyên

Một trong những nhiệm vụ đặc biệt được giao cho Trần Kiên là tổ chức Đoàn 733.

Mục tiêu:

đưa thanh niên và lực lượng từ miền Bắc vào Tây Nguyên, miền Tây Khu 5 để:

khai hoang.

trồng lương thực.

nuôi bộ đội.

huấn luyện lực lượng.

Đây không phải một chương trình kinh tế bình thường.

Đó là một phần của cuộc chiến.

https://images.openai.com/static-rsc-4/ue6KoX-hEsDWkO-dx3pzrrjYUydiX9OgZqCTZqMmQp7PpGJbp5zpJzTV2RUm76GvaPTFxSQkJMZwZzZPVoSwSlKfdsv3nly5a662NhvdsT77fsf-yD1YArZpugElA1nhJ6LMPS98CQUdBP_ZH9Np_aGiE0cLgbHOiT9ak1SVfJwsTnyOBsyAioJiGf2rfiCd?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/P6IRCvo5005e7KVkl69lQS9l4ie4G06KAHT9RcbpfpmdSP5E-5LjLph8enDrb_xXDjmfegaSsvWZPrEI7q5MqzX27TTEesn91XbPbYmXS3JxEUQeojlXDeKucyQNhcIVE51Y5OIjjFh12cs3yYuZWt6b_A8css3Ji_PatqjHvE32wEaRMlWnYoa-mUEAlTQm?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/e2bNGh0ku0sFiql9l0U4PH-Iu3_dvSXYdqtXwbO4Iwr83cKVgfqCvzk6zcruBJNapZY-NXoN0nUXLWYNptPNv-z_Rd24g6y39Yl3i4qipm9hmGD41jJyzKpTMfwGjqW7aRSjRweiCHdWNQyAcNi50htY5SOoBq3uItai5ECjnf8YglD4cReZ4w1ZjIfDwD5e?purpose=fullsize

Chú thích: Hoạt động khai hoang, sản xuất và xây dựng hậu cần tại chỗ ở Tây Nguyên trong chiến tranh.
Nguồn: Báo Quân đội nhân dân; tư liệu về Trần Kiên.


13. Hàng vạn héc-ta đất được khai hoang

Theo Báo Quân đội nhân dân, chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, Đoàn 733 đã tiếp nhận khoảng 30.000 người từ miền Bắc, khai hoang hàng vạn héc-ta đất canh tác để tạo nguồn lương thực phục vụ chiến trường.

Đó là một con số rất lớn.

Nhưng phía sau nó là một bài toán khó:

Làm sao đưa hàng vạn người vào một chiến trường đang bị đánh phá?

Làm sao tổ chức họ?

Làm sao bảo vệ?

Làm sao sản xuất?

Làm sao vận chuyển lương thực?

Và quan trọng nhất:

làm sao biến Tây Nguyên thành một hậu phương tại chỗ của chiến trường Khu 5?

Trần Kiên là một trong những người tổ chức và chỉ đạo công việc ấy.


14. Những người làm hậu cần cũng ở giữa vòng vây

Có một sự thật dễ bị bỏ quên:

Người làm hậu cần cũng là người lính.

Một kho gạo có thể bị đánh.

Một đoàn vận tải có thể bị phục kích.

Một khu sản xuất có thể bị máy bay oanh kích.

Một tuyến đường có thể bị cắt.

Vì vậy, Trần Kiên không làm hậu cần trong điều kiện an toàn.

Ông làm hậu cần:

ngay giữa chiến trường.


15. Năm 1964 – trở lại với Quảng Ngãi

Từ năm 1964 đến 1965, Trần Kiên giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, kiêm Chính trị viên Tỉnh đội.

Quảng Ngãi là quê hương của ông.

Nhưng lúc ấy quê hương cũng là chiến trường.

Một lần nữa, Trần Kiên phải giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ:

xây dựng phong trào chính trị

xây dựng lực lượng vũ trang.

Đó là thời điểm chiến tranh đang chuyển sang quy mô mới.


16. Mỹ đưa quân trực tiếp vào miền Nam

Từ năm 1965, quân Mỹ trực tiếp đổ bộ và mở rộng chiến tranh.

Đà Nẵng.

Chu Lai.

Quảng Ngãi.

Tây Nguyên.

Các địa bàn Khu 5 trở thành những trọng điểm chiến lược.

Trần Kiên trở lại cơ quan Khu 5 trong thời điểm ấy.

Từ 1966 đến 1969, ông là Thường vụ Khu ủy 5, Phó Tư lệnh Quân khu 5, Thường trực Quân khu ủy.


17. Một người chỉ huy không trực tiếp đứng ở mũi súng

Trần Kiên không nổi tiếng chủ yếu bởi một trận đánh cá nhân.

Vai trò của ông nằm ở cấp độ khác.

Ông phải nhìn:

toàn chiến trường.

Một đơn vị cần bao nhiêu gạo?

Một hướng chiến dịch cần bao nhiêu đạn?

Đường nào còn sử dụng được?

Căn cứ nào phải di chuyển?

Ở đâu có thể sản xuất?

Ở đâu cần bổ sung quân?

Đó là cuộc chiến của:

tổ chức.

Và đôi khi một quyết định hậu cần đúng lúc có thể quyết định việc một đơn vị có thể chiến đấu thêm bao nhiêu ngày.


18. Sa Huỳnh – một quyết định giữa chiến trường

Đầu năm 1972, khi Quân khu 5 chuẩn bị giải phóng Sa Huỳnh, Trần Kiên cùng Tham mưu trưởng Võ Thứ trực tiếp giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 141.

Mệnh lệnh rất rõ:

phải giải phóng Sa Huỳnh trước 7 giờ sáng 2/2/1972.

Nhưng điều đáng chú ý hơn là mục tiêu mà Trần Kiên nhấn mạnh:

giải phóng để lấy muối cho dân.

Một câu nói rất ngắn.

Nhưng cho thấy cách ông nhìn chiến tranh.

Chiến đấu không chỉ để chiếm một địa bàn.

Mà còn để:

giành lại nguồn sống cho nhân dân.


19. Hậu cần bắt đầu từ nhu cầu của người dân

Muối.

Gạo.

Thuốc.

Nước.

Những thứ tưởng như nhỏ bé.

Nhưng trong chiến tranh, chúng quyết định:

người dân có sống được hay không.

bộ đội có chiến đấu được hay không.

Đó là lý do công tác hậu cần của Trần Kiên không chỉ là cung cấp cho quân đội.

Nó gắn với:

đời sống nhân dân.


20. Mùa hè 1972 – những trận đánh giữ vùng giải phóng

Năm 1972, chiến trường Khu 5 bước vào một giai đoạn quyết liệt.

Quân đội cách mạng tiến hành nhiều chiến dịch nhằm mở rộng vùng giải phóng.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng là:

giữ vùng căn cứ.

giữ hành lang.

giữ đường vận tải.

giữ vùng sản xuất.

Đằng sau mỗi trận đánh như vậy đều có dấu ấn của hệ thống hậu cần mà Trần Kiên phụ trách.


21. “Rừng thiêng chiến khu”

Những ký ức về thời kỳ này sau chiến tranh đã được ghi lại trong nhiều hồi ký và tác phẩm.

Một tập ký về bốn mật khu của Khu 5 mô tả không gian ấy bằng những địa danh như:

Nước Oa.

Tây Tiên Phước.

Nam cầu Bà Huỳnh.

suối Ca Da – Hòn Bà.

Đó là những nơi mà cán bộ, chiến sĩ phải xây dựng lực lượng, vận chuyển lương thực, mở đường và chiến đấu giữa rừng sâu.

Và trong những câu chuyện ấy, Trần Kiên xuất hiện như một nhà lãnh đạo đứng giữa mưa bão, chỉ huy lực lượng vượt sông Liên để giải phóng Ba Tơ.

https://images.openai.com/static-rsc-4/UEZKRMTWU1LGcs7GbbSEsAuTAIkY4Iuj1R2guvGgfgg2VON0nfJWywPUWH4oeaI5DDkGEvd0wDAQrjTqtFq0QVQiMS8hzuGklV1Q032jIoABz71hFdL0wvwn1cjWsTlhw5o-9mTAfCKjmVOXf3mA53nwAWuJoW-TFbS8sZumBIP4KlY5Y1_B_-SJyUh2pCJ4?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/2NDOGGqc2SN3-DFH0e9D5pmk2hcTOQJBsyPu0NbNgPtrZ1mJS2b77flvMGKs0MkvB6CF39TDT18kFEyCmQYv2EUlEb7cmGc6oM95cuGAnYW-wCJeFrJhE8ayfx7qOSGX1hA-FFPl3Nzv2Sx9w716xwIk0pJKMXQWgL1AzmiKn71HXCGxsWm8Rm3ZjuL8EGMj?purpose=fullsize

Chú thích: Các căn cứ rừng núi của Khu 5 – không gian hoạt động, chiến đấu và tổ chức hậu cần của lực lượng cách mạng trong chiến tranh.
Nguồn: Tư liệu về các mật khu Khu 5.


22. Những con đường giữa bom đạn

Một đạo quân không thể chiến đấu nếu không có đường.

Nhưng ở Khu 5, đường chiến lược thường phải:

mở trong rừng.

vượt núi.

qua sông.

né máy bay.

né các cuộc càn quét.

Những người làm đường phải làm việc trong điều kiện chiến tranh.

Người vận tải phải đi trong đêm.

Người gùi hàng phải vượt dốc.

Người bảo vệ đường phải đối mặt với phục kích.

Và người chỉ huy hậu cần phải bảo đảm tất cả những mắt xích ấy hoạt động.

Đó là cuộc chiến phía sau chiến trường mà Trần Kiên dành nhiều năm để tổ chức.


23. Trần Kiên và những người lính hậu cần

Có lẽ câu chuyện về Trần Kiên sẽ thiếu nếu chỉ nói về ông.

Bởi phía sau ông là hàng vạn người:

dân công.

thanh niên xung phong.

lái xe.

người gùi hàng.

công nhân sản xuất.

cán bộ hậu cần.

chiến sĩ bảo vệ đường.

Họ ít khi xuất hiện trong những bức ảnh chiến thắng.

Nhưng nếu không có họ:

không có chiến dịch.


24. Năm 1975 – thời cơ lớn

Sau Hiệp định Paris 1973, cục diện chiến tranh thay đổi nhanh.

Đến đầu năm 1975, thời cơ chiến lược xuất hiện.

Trần Kiên được giao tham gia Ban chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên và các chiến dịch giải phóng Tam Kỳ – Quảng Ngãi, Huế – Đà Nẵng.

Những năm tháng chuẩn bị hậu cần giờ đây chuyển thành:

bảo đảm cho một cuộc tổng tiến công quy mô lớn.


25. Từ hậu cần sang tổng tiến công

Một cuộc tiến công lớn cần:

quân số.

đạn dược.

xăng dầu.

lương thực.

đường vận tải.

thông tin liên lạc.

khả năng tiếp tế liên tục.

Những hệ thống được xây dựng trong nhiều năm nay được huy động cho chiến dịch.

Đây chính là thời điểm mà công việc hậu cần của Trần Kiên phát huy ý nghĩa lớn nhất.


26. Tây Nguyên sụp đổ – cánh cửa miền Trung mở ra

Tháng 3/1975.

Chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi.

Quân đội Sài Gòn rút lui trong tình trạng hỗn loạn.

Huế.

Đà Nẵng.

Quảng Nam.

Quảng Ngãi.

Toàn bộ thế trận miền Trung thay đổi rất nhanh.

Trần Kiên tham gia vào quá trình chỉ đạo các chiến dịch tiếp theo.


27. Những vùng đất từng sống trong vòng vây

Có một nghịch lý trong cuộc đời Trần Kiên.

Những năm 1950, ông phải tìm cách giữ một cơ sở nhỏ giữa vòng vây.

Những năm 1960, ông phải bảo đảm hậu cần cho cả một chiến trường.

Đến năm 1975, ông tham gia chỉ đạo những chiến dịch giải phóng quy mô lớn.

Từ:

ẩn mình

đến:

đánh lớn.

Đó cũng là quá trình phát triển của cách mạng Khu 5.


28. Chiến dịch Hồ Chí Minh

Sau những chiến thắng liên tiếp ở miền Trung, Trần Kiên tiếp tục tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày 30/4/1975, chiến tranh kết thúc.

Đối với Trần Kiên, đó là kết thúc của gần bốn mươi năm hoạt động cách mạng.

Từ người thanh niên tham gia cách mạng năm 1936,

đến người cán bộ ở lại Tây Nguyên sau 1954,

đến lãnh đạo hậu cần Khu 5,

ông đã đi hết một vòng lịch sử.


29. Sau ngày thống nhất

Cuối năm 1975, Trần Kiên được phân công làm Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai – Kon Tum.

Tây Nguyên một lần nữa trở thành nơi ông công tác.

Nhưng lần này không còn là chiến trường.

Ông phải đối mặt với những nhiệm vụ khác:

khôi phục kinh tế.

ổn định đời sống.

xây dựng chính quyền.

hàn gắn hậu quả chiến tranh.


30. Một con người của Tây Nguyên

Dù quê gốc ở Quảng Ngãi, phần lớn cuộc đời cách mạng của Trần Kiên gắn với Tây Nguyên.

Ông hiểu vùng đất này.

Hiểu đồng bào.

Hiểu địa hình.

Hiểu những con đường.

Hiểu những khó khăn mà chiến tranh để lại.

Có lẽ vì vậy ông tiếp tục được giao nhiều trọng trách ở Tây Nguyên sau năm 1975.


31. Không chỉ là một cán bộ quân sự

Sau chiến tranh, Trần Kiên tiếp tục giữ nhiều trọng trách cao cấp.

Ông từng là:

Bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình.

Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai – Kon Tum.

Sau đó là:

Bí thư Trung ương Đảng.

Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Nhưng khi những người từng chiến đấu cùng ông nhắc lại Trần Kiên, ký ức thường quay về với:

Tây Nguyên.

Khu 5.

những năm tháng thiếu thốn.

những căn cứ trong rừng.

những người dân đã che chở cách mạng.


32. Một người cán bộ giữa vòng vây

Danh hiệu hay chức vụ về sau không nói hết được những năm tháng đầu tiên của Trần Kiên.

Điều đáng nhớ nhất có lẽ là hình ảnh:

một người cán bộ ở lại miền Nam năm 1954.

Không biết tương lai sẽ thế nào.

Không biết bao giờ chiến tranh kết thúc.

Chỉ biết:

phải giữ được phong trào.

Và ông cùng đồng đội đã làm điều ấy trong nhiều năm.


33. Bài học từ Tây Nguyên

Cuộc đời Trần Kiên cho thấy một điều:

Trong chiến tranh, một vùng đất không thể đứng vững chỉ nhờ vũ khí.

Nó cần:

lòng dân.

căn cứ.

hậu cần.

tổ chức.

niềm tin.

Trần Kiên đã lần lượt làm cả năm việc đó.

Từ xây dựng cơ sở ở Tây Nguyên,

đến xây dựng lực lượng,

đến tổ chức hậu cần,

đến chỉ đạo chiến trường,

và cuối cùng tham gia tổng tiến công năm 1975.


34. Người làm hậu cần cũng là người đi qua chiến tranh

Có những người được nhớ bởi một trận đánh.

Trần Kiên được nhớ bởi:

một hệ thống.

Hệ thống hậu cần Khu 5.

Những căn cứ sản xuất.

Những tuyến vận tải.

Những đơn vị hậu cần.

Những vùng dân cư bảo đảm lương thực.

Những con đường đưa quân và hàng vào chiến trường.

Đó là thứ khó nhìn thấy trên bản đồ chiến trận.

Nhưng không thể thiếu để tạo nên chiến thắng.


35. Một người bạn chiến đấu

Đại tướng Hoàng Minh Thắng từng kể nhiều về Trần Kiên.

Điều đáng chú ý là khi nhắc đến những năm tháng gây dựng phong trào, ông Thắng không nói nhiều về mình.

Ông nói về người bạn chiến đấu:

Trần Kiên.

Bởi trong ký ức của những người cùng thời, Trần Kiên là một cán bộ có khả năng tổ chức, kiên trì và đặc biệt am hiểu Tây Nguyên.

Đó là một sự ghi nhận rất đáng giá:

từ đồng đội.


36. Trần Kiên trong Phần XVI

Trong danh sách XVI. NHÂN VẬT TỪ CÁC CHIẾN TRƯỜNG KHU 5 – QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG, Trần Kiên là nhân vật có căn cứ lịch sử rất rõ.

Ông gắn với:

Khu 5.

Tây Nguyên.

Quảng Ngãi.

Quảng Nam.

Nước Là.

công tác hậu cần Quân khu 5.

các chiến dịch năm 1975.

Đặc biệt, ông đại diện cho một lớp cán bộ mà câu chuyện không nằm ở một trận đánh đơn lẻ mà nằm ở:

khả năng giữ cho cả chiến trường tồn tại và phát triển giữa vòng vây.


37. Lời kết – Người giữ mạch sống của chiến trường

Năm 1954, Trần Kiên ở lại.

Tây Nguyên lúc ấy là một vùng đất mà cách mạng đang bị dồn đến chân tường.

Ông cùng đồng đội tìm đến nhân dân.

Từ nhân dân, họ dựng lại cơ sở.

Từ cơ sở, dựng căn cứ.

Từ căn cứ, xây dựng lực lượng.

Từ lực lượng, xây dựng chiến trường.

Và từ chiến trường ấy, đến năm 1975, những đoàn quân tiến xuống giải phóng miền Trung rồi tiến về Sài Gòn.

Chú thích: Đồng chí Trần Kiên (Nguyễn Tuấn Tài) – cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Khu 5, gắn bó đặc biệt với chiến trường Tây Nguyên và công tác hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ.
Nguồn: Báo Nhân Dân; Báo Quân đội nhân dân.

Cuộc đời ông vì thế có thể nhìn như một đường dài:

1936 – bước vào cách mạng.

1945 – vào Đảng, nhập ngũ.

1954 – ở lại miền Nam.

1954–1960 – giữ phong trào ở Tây Nguyên.

1961–1975 – cán bộ chủ chốt của Khu 5.

1975 – tham gia những chiến dịch cuối cùng của cuộc chiến.

Sau chiến tranh, ông tiếp tục phục vụ đất nước cho đến khi qua đời năm 2003.

Nhưng có lẽ hình ảnh đáng nhớ nhất về Trần Kiên không phải ở những chức vụ cao nhất ông từng đảm nhiệm.

Mà là hình ảnh một người cán bộ ở lại giữa vòng vây, kiên trì giữ lấy từng cơ sở, từng con đường, từng nguồn lương thực, từng vùng dân cư – để rồi từ những thứ nhỏ bé ấy tạo nên sức mạnh của cả một chiến trường.

Trần Kiên – người cán bộ Khu 5 đã sống nhiều năm giữa vòng vây của chiến tranh, lấy lòng dân làm chỗ đứng, lấy rừng núi làm căn cứ, lấy hậu cần làm mạch sống và góp phần đưa chiến trường Khu 5 đi từ những năm tháng tưởng như chỉ còn cách tồn tại đến mùa Xuân toàn thắng năm 1975.

image.png

Cục trưởng Trần Kiên (thứ hai, từ trái sang) cùng cán bộ ngành hậu cần trong một chuyến công tác ở Quân khu 5, năm 1973. Ảnh tư liệu

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn