Người có công giúp đỡ cách mạng

TRẦN NHÂN TÔNG

VỊ VUA LỊCH SỬ VÀ THIỀN SƯ VĨ ĐẠI

Thái Nguyên06/03/2026Nguyễn Minh Tuấn (Trường đại học Y Dược)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có thể nói, Trần Nhân Tông là vị vua hiếm có trong lịch sử, không chỉ có cônglớn trong việc chiến thắng giặc ngoại xâm hùng mạnh nhất thời bấy giờ mà còn sánglập ra thiền phái Trúc Lâm - một dòng thiền riêng của Việt Nam tồn tại tới ngày nay.1. Tóm tắt tiểu sử Trần Nhân TôngĐức vua Trần Nhân Tông tên húy là Khâm, sinh ngày 07/12/1258, là con trưởngcủa vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu Trần Thị Thiều.Ngài là vị vua thứ ba của nhà Trần nước Đại Việt. Quê Ngài ở hương Tức Mặc, phủThiên Trường (nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định).Sinh thời, Ngài có tướng mạo rất phi phàm. Vì khi sinh ra, thân Ngài có màu sắchoàng kim, nước da vàng sáng rất đẹp, nên Ngài được gọi là Phật kim. Ngài rất thôngminh, hiếu học, đọc hết sách vở, suốt thông nội điển (kinh Phật) và ngoại điển (sáchđời).Ông nổi bật ở cả ba mặt: Giữ nước, dựng nước, mở nước:

- Sự nghiệp giữ nước: Quân Nguyên Mông là một đế chế mạnh nhưng hai lầntrong ba lần xâm lược nước ta đều bị thất bại. Tài thao lược của ông thể hiện ở chínhsách dùng người. Sau thắng lợi lịch sử năm 1285, ông thực hiện ngay việc điều tra dânsố để nắm được tiềm lực quốc gia. Trong cả hai lần kháng chiến (năm 1285 và năm1288), vua Trần Nhân Tông là ngọn cờ đoàn kết dân tộc, lãnh đạo quân dân vượt nhiềuthời khắc khó khăn. Nhiều lần nhà vua trực tiếp cầm quân đánh trận như một vị tướngdũng cảm. Bên cạnh đó, vẫn đưa ra nhiều quyết sách táo bạo như một nhà chiến lượctài ba lịch sử.

- Sự nghiệp dựng nước: Ông đã xây dựng đất nước bằng những chính sách rấtsáng suốt và thông minh trong lịch sử như phong thần cho những người có công vớiĐại Việt, chủ trương phát triển chữ Nôm, chữ Quốc ngữ trong cả công việc lẫn đờisống xã hội và văn học, sáng lập ra Thiền Trúc Lâm Yên Tử là môn phái có tinh thầnnhập thế mãnh liệt.

- Sự nghiệp mở nước: Trần Nhân Tông đã ngoại giao với Hoàng đế Chăm-paChế Mân bằng đường hòa hảo. Kết quả la Chế Mân đã dâng hai Châu Ô và Châu Lícho Đại Việt để làm sính lễ cưới lịch sử với công chúa Huyền Trân - con gái duy nhấtcủa Trần Nhân Tông.

2. Cuộc đời Trần Nhân Tôngđến trại Bố Chính lập am Tri Kiến (nay thuộc tỉnh Quảng Bình) và ở lại đó. Tại đây,Ngài cũng đã hoằng dương Phật Pháp, làm lợi lạc cho chúng sinh.Năm 1308, sau nhiều năm xuất gia tu tập, Ngài viên tịch tại đỉnh Ngọa Vân, núi Yên Tử. Với những đóng góp to lớn cho đạo pháp và dân tộc, Ngài đã được Người đờikính trọng, sau được suy tôn là Phật Hoàng Trần Nhân Tông (hay còn gọi là vua PhậtViệt Nam).

3. Sự nghiệp sáng tác của Trần Nhân TôngTrần Nhân Tông còn để lại trên ba mươi tác phẩm, trong đó có các bài tán,minh, thơ chữ Hán và hai bài phú chữ Nôm. Các sáng tác của Trần Nhân Tông trảirộng diện đề tài từ dòng thơ chiến trận đến tâm sự buồn vui đời thường, từ vận mệnhquốc gia đến nỗi niềm người khuê phụ, từ lối thơ xướng họa đến tức sự, từ thơ banggiao đến vịnh cảnh non sông tươi đẹp, từ tiếng nói bậc đế vương đến sâu thẳm chấtThiền... Chỉ đọc nhan đề các bài thơ cũng thấy bước chân ông đã đi qua nhiều miền xứsở, từ miền quê Thiên Trường (Nam Ðịnh) đến động Vũ Lâm (Ninh Bình), hương CổChâu, chùa Thần Quang (Bắc Ninh), Châu Lạng (Bắc Giang), từ một cuộc Tây chinhđến hồ Ðộng Thiên - Yên Tử (Quảng Ninh)...Ông vui với một nhành mai, bâng khuâng trong một sớm mùa xuân, một chiềutrước cánh đồng làng, một ngày thu nơi non cao chùa vắng, một sự hòa nhập nội tâmtrong cõi thiền trầm tư sâu lắng. Ðặc biệt với hai tác phẩm Phú ở cõi trần vui đạo (Cưtrần lạc đạo phú) và Bài ca được thú lâm tuyền thành đạo (Ðắc thú lâm tuyền thành đạo ca), Trần Nhân Tông đã trở thành một trong những thi nhân Việt Nam đầu tiên sử dụngchữ Nôm để sáng tác thơ ca, khơi mở cho dòng thơ Quốc âm của dân tộc phát triểnmạnh mẽ trong suốt các giai đoạn sau này.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn