Khác

TRẬN PAK PHẢNG

(Giữa tháng 6-1946), Anh Trần Hoàn còn ở bên Xiêng Khan thì sáng sớm một ngày giữa tháng 6-1916, một đại đội địch, có nhiều tên Pháp chỉ huy, từ Luang Prabăng hành quân bằng tàu thúy đổ bộ lên rồi tiến vào Pak Phảng. Đại đội anh Trương Đình Nghị bố trí sẵn sàng đánh địch. Cuộc chạm súng bắt đầu. Những phát đạn cối 60 ly của địch bắn vào trận địa ta. Quân ta im lặng, chờ cho quân địch tiến đến thật gần mới nổ súng. Từng loạt súng trường, trung liên và súng phóng đạn 40 ly của ta tới tấp nã vào qu

Lai Châu22/03/2026Sưu tầm (Đoàn xã Tà Tổng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tỉnh Vientiane có dân số lớn nhất trong các tỉnh, thành phố của nước Lào và cũng là một tỉnh có số Việt kiều nhiều nhất. Trong khoảng một vạn rưỡi Việt kiều thì thành phố Vientiane có đến gần một vạn người. Việt kiều ở Lào có đủ người Trung, Nam, Bắc. Nhưng ở Vientiane nhiều nhất là người Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh. Bà con sống tập trung gần nhau thành từng khu vực, từng làng. Chủ yếu sống bằng nghề may mặc, đóng giày, dép, trồng rau. Còn ở các bản, làng xa thành phố thì phần nhiều bà con làm ruộng rẫy. Ngoài ra, còn có nhiều người làm việc ở các công sở Lào và quân đội khố xanh, khố đỏ. Mối quan hệ giữa Việt kiều với nhân dân Lào rất mật thiết, gắn bó giúp đỡ và bảo vệ nhau. Con cháu Việt kiều và Lào đều học chung trường học.

Ngày 19-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam đã thành công ở Hà Nội. Tin đó nhanh chóng truyền đến Vientiane và các tỉnh ở Lào. Lực lượng vũ trang Itxala Lào và bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane đã huy động gần 10.000 người Lào và Việt kiều nổi dậy giành chính quyền. Cuộc mít tinh được tổ chức tại Chợ Mới ngày 23-8-1945 với khẩu hiệu: “Nước Lào độc lập muôn năm”, “Hoan hô Việt Nam độc lập”. Tên tỉnh trưởng Vientiane phải bó tay trước sức mạnh khởi nghĩa vũ trang của quần chúng. Đến ngày 12-10-1945, chính phủ lâm thời Itxala được thành lập ở Vientiane. Một cuộc mít tinh lớn chưa từng có của trên 15.000 đồng bào tỉnh Vientiane với khí thế hào hùng, vô cùng phấn khởi. Sân vận động đặc người và cờ Mặt trận Lào Itxala (lá quốc kỳ của nước Lào độc lập từ đó tới nay) và cờ đỏ sao vàng của Việt Nam. Nhiều băng khẩu hiệu: “Nước Lào độc lập muôn năm”. “Hoan hô Việt Nam độc lập”, “Hoàng thân Xuphanuvông muôn năm”. Hôm ấy, Chủ tịch Xuphanuvông đọc lời tuyên bố độc lập và kêu gọi nhân dân Lào - Việt đoàn kết một lòng quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng. Tiếp theo, cuộc diễu hành của quân đội Itxala, tiểu đoàn Việt kiều giải phóng quân và lực lượng bán vũ trang của các trung đội tự vệ chiến đấu, của các phân hội Việt kiều cứu quốc tiến qua lễ đài.

Cách mạng thành công. Lòng người mừng vui khôn xiết. Liên tiếp trong những ngày cuối tháng 8 và đầu tháng 9 năm 1945, phong trào khởi nghĩa của nhân dân Lào lan rộng khắp cả nước. Ngày 23-8-1945, nhân dân Savanakhet nổi dậy giành chính quyền, ngày 25-8-1945 Thakhek, sau đó là Xiêngkhoảng, Sầm Nưa, Phôngxalỳ... Ngày 6-9-1945, gần 10.000 nhân dân Lào ở Savanakhet tổ chức mít tinh nồng nhiệt đón chào Hoàng thân Chủ tịch Xuphanuvông, lãnh tụ cách mạng Lào. Kể từ ngày 12 tháng 10 năm 1945, tỉnh Vientiane được đặt là Thủ đô cho nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Việt kiều ở Vientiane có một Chi hội Việt kiều cứu quốc. Riêng nội thành có gần 10.000 người được tổ chức thành nhiều phân hội như: Phân hội Wạt xi mường Thạt khảo, phân hội Xăng phin, phân hội Thạt Luổng, phân hội Wạt Tày, phân hội Lò Bò, phân hội làng An Nam v.v... Mỗi phân hội đều thành lập trung đội tự vệ tập trung, hầu hết là nam nữ thanh niên. Họ được trang bị vài khẩu súng trường Pháp, súng săn, lựu đạn, kiếm, giáo, mác tự rèn v.v... Bộ tư lệnh Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane liên tiếp mở 4 khóa đào tạo cán bộ chỉ huy các cấp cho lực lượng, tự vệ các phân hội.

Lực lượng quân đội Itxala Lào có một tiểu đoàn, trang bị vũ khí đầy đủ. Bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane có một tiểu đoàn với quân số 520 người, vũ khí gồm một khẩu pháo 20 ly, một khẩu đại liên 13 ly 2, và nhiều súng phóng lựu (moọc ta) của Nhật. Toàn bộ vũ khí này ta lấy từ tay của Pháp và của Nhật. Các tiểu đoàn chủ lực đều có máy vô tuyến điện. Bộ đội Việt kiều giải phóng quân Vientiane lúc đầu đóng tại chiến khu Phôn Khên. Sau đó dời sang trại Mobile, gần Thạt Luổng và giữa tháng 5-1946 thì dời ra trường trung học Pavi (Collège Pavi Vientiane). Sau ngày Vientiane giành được chính quyền cho đến tháng 6 năm 1946, Bộ đội Việt kiều giải phóng quân Vientiane đóng ở trại Môbin (mobile) Thạt Luổng. Tại đây có một nhà sư trẻ xin nhập ngũ để trở thành chiến sĩ. Anh Đào Mạnh Duệ đã tặng nhà sư - chiến sĩ trẻ mấy câu thơ với tựa đề:

“TẶNG NHÀ SƯ - CHIẾN SĨ”

“Cời áo cà sa cứu nước nhà

Hận thù bao nỗi quyết xông pha

Ra đi một lòng vì non nước

Cho thỏa lòng trai Tổ quốc ta”.

(Thạt Luổng - Vientiane - Lào, ngày 22-12-1945

Để bảo vệ chính quyền cách mạng và bảo vệ nhân dân, liên quân Lào - Việt đã phối hợp chặt chẽ và nhờ tin tức của nhân dân ở các bán, làng ở xa thành phố cung cấp tình hình hoạt động của quân Pháp (bỏ chạy khi quân Nhật tới) nên liên quân Lào - Việt đã tiến đánh địch nhiều trận, tiêu diệt nhiều tên, thu nhiều vũ khí, không cho địch đi khủng bố nhân dân, bắt thanh niên vào lính. Nhiều trận đánh đã diễn ra quyết liệt. Ta tấn công địch tại các căn cứ có hầm hào, dây thép gai, và gài mìn chung quanh. Ta chặn đánh các đại đội, trung đội địch hành quân khủng bố. Có trận diệt gần hết một trung đội địch.

Chỉ huy bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane khi ấy được thành lập. Đó là tháng 9-1945. Bộ tư lệnh có năm người:

1. Vũ Hữu Bỉnh, Tư lệnh;

2. Trần Hoàn, Phó tư lệnh;

3. Đỗ Huy Rừa, Phó tư lệnh;

4. Vũ Huy Liệu, Phó tư lệnh chính trị;

5. Đào Mạnh Duệ, Phó tư lệnh chính trị.

Đơn vị có 4 đại đội, và hai trung đội trợ chiến, quân khí do các anh Nguyễn Duy Hóa, anh Đẩu, anh Thi và anh Trương Đình Nghị đại đội trưởng. Các anh đều là đội, cai khố xanh, khố đỏ của quân đội Pháp cũ.

Sau đây xin kể lại một vài trận đánh tiêu biểu:

TRẬN PAK PHẢNG

(Giữa tháng 6-1946), Anh Trần Hoàn còn ở bên Xiêng Khan thì sáng sớm một ngày giữa tháng 6-1916, một đại đội địch, có nhiều tên Pháp chỉ huy, từ Luang Prabăng hành quân bằng tàu thúy đổ bộ lên rồi tiến vào Pak Phảng. Đại đội anh Trương Đình Nghị bố trí sẵn sàng đánh địch. Cuộc chạm súng bắt đầu. Những phát đạn cối 60 ly của địch bắn vào trận địa ta. Quân ta im lặng, chờ cho quân địch tiến đến thật gần mới nổ súng. Từng loạt súng trường, trung liên và súng phóng đạn 40 ly của ta tới tấp nã vào quân địch. Nhiều tên chết và bị thương tại trận địa. Chúng tiếp tục ngoan cố dàn hàng ngang tiến lên. Nhưng càng lên, chúng càng chết nhiều. Trận đánh kết thúc. Địch bỏ lại 41 xác chết, trong đó có một số tên Pháp, ta thu nhiều vũ khí.

Anh Trần Hoàn từ Xiêng Khan về Pak Phảng cho biết: Bạn đồng ý chuẩn bị mọi phương tiện để đưa bộ đội sang Xiêng Khan. Vào khoảng 6 giờ chiều., từng đại đội lần lượt xuống thuyền để sang Thái Lan. Vừa chuyển quân, ta vừa bố trí sẵn sàng chiến đấu. Sau 6 tiếng đồng hồ, bộ đội đã qua sông an toàn.
Toàn đơn vị tập kết tại sân một trường học rộng lớn của thị trấn Xiêng Khan. Toàn bộ vũ khí đạn dược, kể cả súng ngắn các loại đều phải đóng thùng. Sau đó, xe vận tải của nhà binh Thái Lan chở về giao cho ta tại Ouđon. AnhVũ Hữu Bỉnh trực tiếp nhận đầy đủ số vũ khí này.

Hôm sau, toàn đơn vị hành quân, không vũ trang đi 20 km vào thị trấn Mường Lợi. Tại Mường Lợi, Ban chỉ huy Bộ đội cấp cho mỗi cán bộ chiến sĩ 5 bạt (5 đồng) tiền Thái Lan, lá tiền ăn đường cho anh em đi bộ trên 100 km về gia đình ở Oudon và đi về các tính khác như Noỏng Khay, Thà-bò v.v... Đó là khoảng giữa tháng 6-1946.

Đến Oudon, được anh Nguyễn Văn Chấn và anh Vũ Hữu Bỉnh, cùng Việt kiều thị xã Oudon đón tiếp, mừng quân ta bảo toàn được lực lượng, không một ai hy sinh, bộ đội có kỷ luật nghiêm, được nhân dân Lào và nhân dân Thái Lan yêu mến, giúp đỡ hết lòng.

Cuối năm 1946, sau khi Việt kiều và bộ đội Việt kiều giải phóng quân các tỉnh ở Lào rút sang Thái Lan, anh em về sống với gia đình. Lúc bấy giờ xuất hiện một số tổ chức chính trị phản động thân Nhật là “Thanh niên Đại Việt” ở một số địa phương như Oudon, Noỏng Khay, Thà bò v.v... đã hoạt động chống lại Hội Việt kiều cứu quốc. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Tổng ủy Hội Việt kiều cứu quốc và ở từng địa phương, các Chi hội Việt kiều cứu quốc đã tập hợp Việt kiều, tuyên truyền giải thích, vạch mặt mọi luận điệu chống Đảng cộng sản, chống phá cách mạng của bọn phản động. Chi ủy Hội Việt kiều cứu quốc Oudon đã họp Việt kiều, nhất là thanh niên nam nữ, để nghe nói chuyện, nghe những bài viết vạch rõ chân tướng tổ chức “Thanh niên Đại Việt” phản động. Bị tấn công mạnh, những tên cầm đầu đều bị bắt. Chúng đã thất bại.

Cũng như Việt kiều các tỉnh khác ở Lào, phong trào yêu nước, giúp bạn của một vạn rưỡi Việt kiều tỉnh Vientiane đạt được một số thành tích chính là nhờ các tổ chức cơ sở cách mạng bí mật của Đảng cộng sản Đông dương lãnh đạo mà trực tiếp là xứ ủy Ai Lao từ những năm 1930. Các hình thức hội Ái hữu yêu nước và của Tổng hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan và Ai Lao đã giúp bà con những cơ sở để phát huy lòng yêu nước của mình. Sự đoàn kết mật thiết của Việt kiều Thái - Lào lại luôn được sự giúp đỡ tận tình, quý báu của nhân dân Thái Lan, nhất là của các nhà lãnh đạo Đáng Séri Thay (Thái tự do). Đó là các ông Pridi Phnôm Yông, Nai Thông In, Nai Tiêng Siri Khăn do ông Pridi Phnôm Yông làm thủ tướng chính phủ Thái Lan. Anh Hoàng Phúc, nguyên trung đội trưởng tự vệ Phân hội Wạt xi mường thạt khảo Viêntiane hồi đó, cho biết “Cũng như các tỉnh khác ở Lào, Việt kiều ở Vientiane đã hết lòng hết sức ủng hộ cách mạng. Ngoài việc động viên con em mình gia nhập bộ đội Việt kiều giải phóng, còn tổ chức tuàn lễ vàng, đóng góp tiền bạc, mua sắm vũ khí và cung cấp lương thực, thực phẩm, quần áo, nuôi dưỡng Việt kiều giải phóng quân, nuôi dưỡng các đơn vị tự vệ tập trung của các Phân hội Việt kiều cứu quốc. Bà con còn rèn các loại vũ khí thô sơ như: gươm, giáo, mác, lưỡi lê cho bộ đội và cho tự vệ. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ở Vientiane Việt kiều đã mở nhiều trường lớp vỡ lòng, các trường cấp I, bình dân học vụ xóa nạn mù chữ, động viên những người chưa biết chữ đi học. Tuyên truyền bài trừ mê tín dị đoan, không cờ bạc, rượu chè say sưa. Thanh niên nào rượu chè say sưa đều bị tự vệ gởi vô chiến khu để giáo dục. Đám cưới đều được tổ chức theo đời sống mới. Hồi ấy làm được những điều kỳ diệu đó thật là không ngờ. Tới bây giờ chúng tôi vẫn còn nghĩ như vậy. Và tự hỏi: Tại sao trong hoàn cảnh khó khăn như thế mà chúng tôi vẫn tổ chức được cuộc sống văn minh?

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn