Trần Quý Khoáng
Trùng Quang Đế (chữ Hán: 重光帝 ? – 3 tháng 5 năm 1414) là vị hoàng đế thứ hai và là vị hoàng đế cuối cùng của nhà Hậu Trần, một triều đại được dựng lên ở miền nam Đại Việt để chống lại sự đô hộ của đế quốc Minh sau năm 1407. Ông có tên húy là Trần Quý Khoáng (陳季擴) hay Trần Quý Khoách, là cháu nội của Trần Nghệ Tông. Khi chú ông là Giản Định Đế dựng nhà Hậu Trần (1407), ông giữ chức Nhập nội thị trung. Năm 1408, các tướng Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bất bình với Giản Định Đế mới vào Nghệ An lập Trầ
"Trong suốt thời gian giữ ngôi, Trùng Quang Đế cùng các tể thần Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị và Nguyễn Súy đã tận lực chiến đấu chống quân đội Minh do Anh quốc công Trương Phụ chỉ huy. Các ông từng đánh bại quân Minh ở La Châu, Hạ Hồng, nhân đà truy kích tới tận Bình Than, nhưng cuối cùng bị thiệt hại nặng, phải lui về Nghệ An và Hóa Châu. Sau trận thư hùng đẫm máu ở kênh Thái Đà năm 1413, lực lượng Hậu Trần tan vỡ, Trùng Quang Đế chạy sang Lão Qua nhưng bị Trương Phụ bắt giữ. Tháng 4 năm 1414, trên đường áp giải về Đại Minh, Trùng Quang Đế trầm mình xuống biển tự tử. Nhà Trần diệt vong.
Tuy thất bại nhưng Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng vẫn được các bộ sử sau này của nước Đại Việt coi là vị vua chính thống nối nghiệp nhà Trần, được nhân dân phối thờ trong đền Trần (nơi thờ các vua nhà Trần). Sử thần đời Hậu Lê Ngô Sĩ Liên trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư (hoàn tất năm 1479) đã ca ngợi tấm gương của Trùng Quang Đế là ""quốc quân chết vì xã tắc"".
Trần Quý Khoáng là con của Trang Định vương Trần Ngạc (anh trai vua Trần Thuận Tông) và là cháu nội vua Trần Nghệ Tông. Cuối đời Trần, chính sự suy yếu, Đồng bình chương sự Hồ Quý Ly được Nghệ Tông tin tưởng nên nắm hết đại quyền trong triều. Nhiều tôn thất hoàng gia chống đối Quý Ly đã bị sát hại, trong đó có Thái úy Trang Định vương Ngạc (1391). Năm 1399 Hồ Quý Ly giết vua Trần Thuận Tông (chú của Trùng Quang Đế), năm sau Hồ Quý Ly lên ngôi Hoàng đế, lập nên nhà Hồ.
Tháng 9 âm lịch năm 1406, lấy cớ khôi phục nhà Trần, đế quốc Minh-Trung Quốc mang 80 vạn quân do Tân Thành hầu Trương Phụ, Tây Bình hầu Mộc Thạnh đánh chiếm nước Việt. Hai vua Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương liên tục thua trận, đến tháng 5 (âm lịch) năm 1407 thì đều bị bắt về Trung Quốc. Ngày 2 tháng 10 âm lịch năm 1407, con thứ Trần Nghệ Tông là Trần Ngỗi lên ngôi Hoàng đế ở Mô Độ (Ninh Bình), dựng nhà Hậu Trần, lấy hiệu là Giản Định Đế. Không lâu sau, vua Giản Định bị quân Minh đánh bại, phải chạy vào Nghệ An. Các hào kiệt về theo khá đông trong đó có Quốc công Đặng Tất và Đồng Tri khu mật tham mưu quân sự Nguyễn Cảnh Chân. Được hai tướng họ Nguyễn, Đặng trợ giúp, Giản Định làm chủ khu vực phía nam nước Việt từ Nghệ An vào Thuận Hóa, sau đó tiến ra bắc đụng độ quân tiếp viện Minh một trận lớn ở bến Bô Cô (1408). Quân Giản Định thắng to, người Minh chạy về cố thủ Đông Quan.
Năm 1409, do nghe lời gièm pha của hoạn giả Nguyễn Quỹ và học sinh Nguyễn Mộng Trang, Giản Định giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung (con của Đặng Tất) và Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) bất bình với vua Giản Định, bèn về Nghệ An tôn Trần Quý Khoáng làm vua mới. Theo sách Đại Việt Sử ký Toàn thư do sử thần đời Lê Ngô Sĩ Liên soạn, ở thời điểm năm 1409 Trần Quý Khoáng làm chức Nhập nội thị trung ở Nghệ An.
Ngày 17 tháng 3 âm lịch (tức ngày 20 tháng 4 dương lịch) năm 1409, Trần Quý Khoáng lên ngôi Hoàng đế ở Chi La, nay thuộc huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Tân hoàng đế đặt niên hiệu Trùng Quang (重光), phong Nguyễn Súy làm Thái phó, Nguyễn Cảnh Dị làm Thái bảo, Đặng Dung làm Đồng bình chương sự, Nguyễn Chương làm Tư mã. Bấy giờ Giản Định đang đóng giữ thành Ngự Thiên; Trùng Quang sai Nguyễn Súy đem quân đánh úp, bắt được Giản Định. Ngày 7 tháng 4 âm lịch cùng năm, Hưng Khánh thái hậu (mẹ của Giản Định Đế) liên kết với Hành khiển Lê Triệt và Lê Nguyên Đỉnh dấy quân ở Hát Giang, định đánh úp vua Trùng Quang. Người Nghệ An là Nguyễn Trạo phát giác báo cho Trùng Quang Đế. Nhà vua giết Triệt và Đỉnh nhưng tha hết quân của họ. Đối chiếu sự kiện này với việc Giản Định giết 2 tôn thất theo Minh là Trần Nhật Chiêu, Trần Thúc Giao cùng hơn 500 thuộc hạ ở Diễn Châu, Nghệ An (1407), sử thần đời Lê Ngô Sĩ Liên cho rằng vua Trùng Quang có phẩm chất lãnh đạo tốt hơn Giản Định:
Ngày 20 tháng 4 âm lịch, Giản Định bị dẫn về Nghệ An, Trùng Quang khiêm nhường mặc thường phục xuống thuyền đón rước, tôn Giản Định làm Thái thượng hoàng. Ở thời Trần, tên nước là Đại Việt, từ khi nhà Hồ soán ngôi đã đổi thành Đại Ngu. Sử Việt không chép tên nước của Trùng Quang Đế; tuy nhiên, trong Hoàng Minh thực lục có ghi Trùng Quang Đế là ""ngụy hoàng đế Đại Việt"", vậy chứng tỏ Trùng Quang Đế đã dùng quốc hiệu Đại Việt.
Tháng 7 âm lịch năm 1409, vua Trùng Quang cùng Thượng hoàng chia quân hai đường đánh quân Minh. Thượng hoàng Trần Ngỗi đóng ở Hạ Hồng (Ninh Giang, Hải Dương), vua Trùng Quang đóng ở Bình Than. Quân Minh cố thủ không dám ra đánh. Trùng Quang sai quân đi tuần tra 4-5 ngày 1 lần. Hai vua được hào kiệt các lộ ủng hộ nhiệt liệt, duy chỉ có Tri phủ Tam Giang là Đỗ Duy Trung vẫn theo Minh. Đến khi vua Minh sai Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ đeo ấn Chinh Di tướng quân đem quân cứu viện, quân Minh lại mạnh lên. Thượng hoàng thấy liền rời thuyền chạy lên trấn Thiên Quan, Trùng Quang nghi ngờ Thượng hoàng có lòng khác, liền sai người đuổi theo. Nguyễn Súy đuổi theo không kịp, nhưng Trương Phụ lại bắt được Thượng hoàng Trần Ngỗi, giải về Kim Lăng giết chết.
Tháng 8 âm lịch năm 1409, vua Trùng Quang chống nhau với Trương Phụ ở Bình Than. Nhà vua sai Đặng Dung trấn giữ cửa Hàm Tử. Quân Việt thiếu lương thực trầm trọng, Đặng Dung bèn chia quân đi gặt lúa sớm để cấp cho binh lính. Trương Phụ nhân lúc quân Việt đang yếu liền đem thủy quân đánh vào cửa Hàm Tử. Đặng Dung thua to. Trùng Quang nghe tin, tự liệu chống không nổi, bèn dẫn quân lui về Nghệ An.
Đại Việt Sử ký Toàn thư kể Trùng Quang Đế có một bà phi mất vào tháng 6 âm lịch năm 1409.
Đế quốc Minh muốn đánh chiếm Đại Việt lâu dài nên năm 1410, Tổng binh Trương Phụ sai quân mở đồn điền ở địa bàn Tuyên Quang, Thái Nguyên, Tam Giang tạo lương thực cho quân, lại cấp ruộng đất cho các thổ quan đầu hàng để họ thu tô thay cho bổng lộc, cấp ruộng đất cho quân đội để cày cấy lấy lương thực. Ngoài ra, Trương Phụ thực hiện chính sách đàn áp rất tàn bạo để khủng bố tinh thần người Việt, như Đại Việt Sử ký Toàn thư thuật lại:
Đại Minh còn cấp bằng ghi công trạng cho các thổ quan đi đánh dẹp quân khởi nghĩa người Việt. Vì vậy có một bộ phận người Việt là thổ quan, hàng tướng phản bội, cùng với những người đã từng tiếp tay cho người Minh diệt nhà Hồ, nay lại tiếp tay cho Trung Quốc đàn áp cuộc khởi nghĩa của Trùng Quang Đế, khiến cuộc khởi nghĩa gặp trăm ngàn khó khăn. Nhưng vua tôi Trùng Quang vẫn dũng cảm chiến đấu."



