Trần Thái Tông – vị vua đầu triều Trần
Vua Trần Thái Tông húy là Cảnh (trước húy là Bồ), vị vua đầu tiên của nhà Trần, cùng tuổi với Lý Chiêu Hoàng. Ông sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần (1218) niên hiệu Kiến Gia thứ 8 đời Lý Huệ Tông, tại hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là thôn Tức Mặc, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Thân phụ của ông là Trần Thừa (1183-1234), thân mẫu là người họ Lê. Trần Cảnh là cháu gọi Trần Thủ Độ bằng chú. Năm 1224 được tuyển vào cung làm chức Chi hậu chính chi ứng cục (lo việc phục vụ cho công chúa rồi vua triều Lý là Chiêu Hoàng). Tháng 12 năm Ất Dậu (1225), do Trần Thủ Độ bố trí, Trần Cảnh kết hôn với Lý Chiêu Hoàng và sau đó được Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi vào lúc ông mới có 8 tuổi, lấy niên hiệu Trần Thái Tông.
Trần Thủ Độ là người có công khởi dựng sự nghiệp triều Trần. Trần Thủ Độ sinh năm Giáp Dần (1194) ở làng Lưu Xá (Hưng Hà, Thái Bình). Ông đã nổi lên là người có tài xuất chúng trong số những người con ưu tú khác của họ Trần, giúp triều Lý đánh dẹp các thế lực cát cứ, khôi phục cơ nghiệp nhà Lý. Ông có bản lĩnh, thẳng thắn và quyết đoán. Cuối triều Lý, các vua ăn chơi sa đọa, kinh tế suy thoái, thiên tai, mất mùa liên tiếp xảy ra. Nhân cơ hội đó, các thế lực phong kiến nổi lên chống lại triều đình, đánh giết lẫn nhau, cướp bóc bừa bãi. Ngoài biên thùy, đế quốc Nguyên Mông đang tung hoành đánh Kim, diệt Tây Hạ, chiếm Triều Tiên, sửa soạn đại binh xâm lược Tống và Đại Việt.
Trong lúc ấy, vua Lý Huệ Tông thì ốm yếu, trễ nải việc triều chính, truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới 8 tuổi rồi đi tu ở chùa Chân Giáo. Bởi vậy, Trần Thủ Độ đã thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho Trần Cảnh là hợp lẽ. Làm cuộc đảo chính thay đổi triều đại mà không xảy ra đổ máu và đảo lộn lớn trong nước, chứng tỏ Trần Thủ Độ là nhà chính trị sáng suốt, khôn ngoan.
Sau khi lên làm vua, Trần Thái Tông phong cho Trần Thủ Độ làm Thái sư nắm giữ mọi binh quyền. Trong một thời gian ngắn, Trần Thủ Độ đã thu phục được các thế lực đối địch, tổ chức lại bộ máy từ trung ương đến cấp xã.
Tuy Trần Cảnh lên ngôi, những việc quân sự chủ yếu do Trần Thủ Độ nắm giữ, việc chính trị thì nhờ có cha là Trần Thừa làm Thượng hoàng giúp đỡ, song những người này cũng có nhiều hạn chế. Các quan nhà Lý ở lại phục vụ nhiều, song không thấy nói một ai được chính thức giúp vua làm phụ chính. Vậy mà suốt những năm đầu, ở tuổi thiếu nhi, Trần Thái Tông đã được sử sách ghi chép là một vị vua có tài.
Năm 1227, nhà vua cho mở khoa thi Tam giáo, khuyến khích người học tập Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo nhằm nâng cao trình độ kiến thức và học thuật của dân chúng. Triều đình tiếp tục tổ chức lễ ăn thề hàng năm ở đền Đồng Cổ (phía tây Hà Nội).
Tất cả các quan phải mặc nhung phục xếp thành đội ngũ, có nghi trượng, ra đền họp nhau uống máu ăn thề. Quản Trung thư đọc lời thề: "Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết". Hội thề tiến hành có sự chứng kiến của dân chúng: "Trai gái bốn phương đứng chật ních bên đường để xem như một ngày hội lớn". Năm vua 12 tuổi (1230), triều đình được lệnh soạn bộ sách Quốc triều thông chế, khảo xét luật lệ các đời trước, để sửa đổi hình luật, ấn định lễ nghi. Cùng năm này, vua ngự về Tức Mặc thăm hỏi bà con quê hương, ban yến cho các bô lão trong làng. Nhà Trần có nhiều vị vua có tiếng là vì dân, thân dân, mà khởi đầu là vua Trần Thái Tông.
Những quan lại có tài năng ở triều Lý trước đây đều được sử dụng để phục vụ cho vương triều mới, vì lúc này, các nhân vật xuất sắc trong họ Trần còn phải được tôi luyện dần dần cho đến độ trưởng thành. Do vậy, những viên quan như Phùng Tá Chu, Phạm Kính Ân đều được giao trọng trách lớn, phong quan chức rất hậu.
Dần dần, Trần Cảnh đã phát huy ngày càng rõ rệt tài năng xuất chúng của mình. Nhưng trước khi thực sự nắm quyền hành, ông đã phải chịu một nỗi đau khiến ông phải xót xa ân hận mà không tự mình xử trí được, cuối cùng đành phải chiều theo cảnh ngộ. Đó là lúc ông vừa tròn 20 tuổi (1237), Chiêu Thánh Hoàng hậu lấy ông đã được 12 năm mà vẫn chưa có con trong khi triều Trần cần kíp phải có hoàng tử.
Trần Thủ Độ đã nhiều lần nói riêng điều này với Trần Cảnh, nhưng nhà vua không để ý. Vua nghĩ rằng cả hai vợ chồng đang độ son rỗi, việc có con không mấy gấp gáp, vả lại anh em con cháu họ Trần lúc ấy rất đông, khó gì mà không kiếm được người nối nghiệp. Nhưng Trần Thủ Độ lại cho rằng nếu Trần Cảnh không có con chắc chắn bản thân ông sẽ bị người ta dè bỉu: chọn một ông vua mở mang cơ nghiệp nhà Trần chấm dứt dòng họ Lý không có con trai, vậy mà đã chọn nhầm một ông vua bất lực! Vì vậy ông nhất quyết buộc Trần Cảnh phải bỏ Chiêu Thánh, giáng xuống làm công chúa. Mặt khác, Thủ Độ nhanh chóng tìm cho Trần Cảnh một hoàng hậu mới. Trong số con cháu, thân thuộc của họ Trần, lúc này có Công chúa Thuận Thiên - chị ruột của Chiêu Thánh hiện là vợ của Trần Liễu (anh trai Trần Cảnh) đang có mang; đưa Thuận Thiên thay vào chỗ Chiêu Thánh là thuận lợi.
Với mưu đồ lớn, Trần Thủ Độ ra lệnh làm ngay. Cùng một lúc, trong hoàng tộc nhà Trần diễn ra cảnh ngộ bất bình, một cuộc khủng hoảng trong nội tộc hết sức gay gắt. Hoàng hậu Chiêu Thánh bị giáng xuống làm công chúa, phải ra khỏi cung, sống âm thầm đau khổ. Còn nàng Thuận Thiên ngơ ngác vừa hôm qua còn là vợ của người anh, sống bình thường trong phủ đệ, hôm nay bỗng trở thành vợ của người em và là một bà hoàng hậu trong chốn điện ngọc, lầu vàng. Người tức giận hơn cả là Trần Liễu. Bỗng nhiên bị cướp vợ, gia đình đang yên ổn bị phá vỡ, chia rẽ, địa vị xáo trộn. Trần Liễu liền họp quân lính bản bộ của mình, kéo ra bến sông Hồng, dựng cờ nổi loạn. Trần Thủ Độ lập tức đem quân ra đàn áp.
Riêng Trần Cảnh vô cùng đau khổ. Mối tình với Chiêu Hoàng bền vững, sâu sắc từ lâu, nhà vua luôn luôn trân trọng người vợ của mình. Chiêu Thánh đem cả ngôi báu của dòng họ trao cho chồng, hơn nữa ăn ở với chồng rất thuận hòa êm ấm. Mặt khác, tình anh em là trọng, nay lại là một người đi cướp vợ, mà là vợ của anh! Trần Cảnh vô cùng đau xót.



