Trận tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột
Trận tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột
Vào những ngày trung tuần tháng 3 cách đây 42 năm, đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên (tiền thân của Quân đoàn 3) đã đẩy quân địch thất bại từ chiến thuật dẫn đến thất bại về chiến lược, buộc phải rút bỏ Tây Nguyên. Chiến thắng quan trọng này đã góp phần làm xoay chuyển cục diện chiến trường tạo tiền đề cho ta giải phóng hoàn toàn miền Nam vào 30/4/1975. Mùa Xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đang bước vào giai đoạn quyết định. Địch không còn sức phản kích, phải lui vào thế phòng ngự. Bộ chính trị - Ban chấp hành Trung ương Đảng chủ trương quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976 và chỉ rõ nhiệm vụ: “Đòn tiến công chính của chủ lực là ở Tây Nguyên”. Để giành những đòn thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tháng 12/1974 Bộ tổng tư lệnh bổ sung cho Mặt trận Tây Nguyên 2 sư đoàn bộ binh 316, 968 và một số đơn vị binh chủng. Nâng lực lượng chủ lực của ta ở Tây Nguyên lên 5 sư đoàn và 4 trung đoàn bộ binh; 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công; 1 trung đoàn tăng thiết giáp; 2 trung đoàn pháo binh; 3 trung đoàn phòng không; 2 trung đoàn công binh; 1 trung đoàn thông tin và các đơn vị phục vụ cùng lực lượng địa phương. Ngày 5/2/1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên được thành lập. Trung tướng Hoàng Minh Thảo - Phó Tư lệnh Quân khu V được cử làm Tư lệnh; Đại tá Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên làm Bí thư Đảng ủy - Chính uỷ chiến dịch. Thiếu tướng Vũ Lăng và các đồng chí Đại tá Phan Hàm, Nguyễn Năng, Nguyễn Lang làm Phó Tư lệnh, Đại tá Phí Triệu Hàm làm Phó Chính ủy Chiến dịch. 
Đồng chí Trung tướng Hoàng Minh Thảo – Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên báo cáo quyết tâm chiến đấu của chiến dịch Tây Nguyên tháng 3/1975. Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược năm 1975 có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt lớn lao nên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã cử Đại tướng Văn Tiến Dũng - Uỷ viên BCT, Phó bí thư Quân uỷ TW - Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam vào trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Lực lượng địch ở Tây Nguyên được bố trí thế phòng thủ hoàn chỉnh gồm toàn bộ Quân đoàn 2, Quân khu 2 nguỵ và lực lượng tăng cường. Trong đó có Sư đoàn 23, Lữ đoàn dù 3, Trung đoàn 40 bộ binh, 8 liên đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn tăng thiết giáp, 30 tiểu đoàn bảo an và các đơn vị binh chủng chuyên môn kỹ thuật. Để tiêu diệt địch giải phóng Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã sử dụng chiến thuật nghi binh làm cho địch tưởng ta chuẩn bị mở chiến dịch tiến công ở hướng bắc Tây Nguyên. Chúng tập trung lực lượng phòng thủ ở Kon Tum và Plây Ku. Trong khi đó các đơn vị chủ lực của ta tham gia chiến dịch gồm Sư đoàn 10, 316, 320, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng 273 và một số lực lượng khác bí mật di chuyển đội hình vào nam Tây Nguyên chuẩn bị chiến dịch chỉ để lại Sư đoàn 968 và một số đơn vị nhỏ cùng lực lượng bộ đội địa phương hoạt động nghi binh. Mục tiêu then chốt là điểm huyệt vào Buôn Ma Thuột. Để cô lập địch ở Buôn Ma Thuột, từ ngày 4 đến 9/3 ta tổ chức đánh tạo thế chia cắt Tây Nguyên khỏi đồng bằng ven biển ở các đường 19, 21, 14 nam Tây Nguyên: Trung đoàn 95A tiến công tiêu diệt địch làm chủ 20 km Đường 19 đoạn đông Plây Ku; Sư đoàn 3 (Quân khu V) tiến công tiêu diệt địch ở An Khê cắt đứt Đường 19; Trung đoàn 25 tiêu diệt đoàn xe địch trên Đường 21 làm chủ đoạn đường đông Chư Cúc (Đắk Lắk); Trung đoàn 9 (Sư đoàn 320) tiêu diệt địch ở Buôn Hồ cắt đứt Đường 14 ở bắc Buôn Ma Thuột. Ngày 9/3/1975, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 40 pháo binh tiến công chi khu quận lị Đức Lập. Đây là tuyến phòng thủ vững chắc của địch gồm 5 cứ điểm liên hoàn nằm trên Đường 14 tây nam Buôn Ma Thuột. Sau hơn 1 ngày chiến đấu Sư đoàn 10 làm chủ hoàn toàn Đức Lập. Để đề phòng địch ứng cứu đường không, lực lượng pháo binh đã bố trí sẵn sàng đánh vào sân bay Hoà Bình ở Buôn Ma Thuột, Tiểu đoàn 33 ĐKZ đánh vào sân bay Cù Hanh ở Plây Ku. Đến đêm 9/3 Buôn Ma Thuột bị cô lập, quân nguỵ ở đây bị trói chặt, lực lượng ứng cứu của chúng bị chặn từ các hướng. Để chuẩn bị cho trận tiến công vào mục tiêu then chốt Buôn Ma Thuột, các đơn vị công binh, thông tin, quân y, vận tải đã bí mật chuẩn bị các phương án phục vụ chiến đấu, kịp thời cứu chữa thương binh, tiếp tế hậu cần... đặc biệt sự sáng tạo của cán bộ, chiến sỹ công binh Trung đoàn 7. Do yêu cầu đảm bảo bí mật, hệ thống đường giao thông chỉ được lệnh thi công thông suốt trước giờ xuất kích 5 tiếng đồng hồ, các chiến sỹ công binh đã bí mật cưa trước 3/4 những thân cây to và liên kết các khối thuốc nổ ở những dốc cao, bến vượt có khối lượng đất đá lớn, khi xe tăng và bộ binh xuất kích chỉ cần 1 vài tiếng đồng hồ là hệ thống đường được khai thông. 1giờ 55 phút ngày 10/3 cuộc tiến công vào Buôn Ma Thuột bắt đầu. Lực lượng đặc công bất ngờ tiến công Ngã Sáu, khu kho Mai Hắc Đế, sân bay Hoà Bình. Sau đó 15 phút pháo binh chiến dịch bắn vào Sư đoàn bộ binh 23, Tiểu khu Đắk Lắk, Khu thiết giáp, Khu pháo binh. Đã được công binh phục vụ kịp thời, các lực lượng của ta hình thành 5 mũi vượt sông Sêrêpốc tiến vào Buôn Ma Thuột. 6 giờ các chiến sỹ Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 95B vượt qua khu vực sân bay thị xã đánh chiếm Ngã Sáu. 7 giờ 10 phút Trung đoàn 148 đánh chiếm Khu pháo binh, Khu thiết giáp. 11 giờ 30 phút Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24 và xe tăng Trung đoàn 273 làm chủ khu truyền tin. 16 giờ làm chủ tiểu đoàn 23 quân y và áp sát vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Quân địch hoảng loạn, chúng kêu cứu khẩn cấp và cho máy bay ném bom dữ dội ngay trên đường phố hòng ngăn chặn đường tiến công của quân ta. Trong các mục tiêu chúng cố thủ quyết liệt và tổ chức các đợt phản kích. Lực lượng phòng không của ta luôn theo sát phối hợp chiến đấu bảo vệ đội hình tiến công. Ngày 11/3, sau khi pháo binh chiến dịch bắn cấp tập 2 tiếng đồng hồ, từ 4 hướng, các mũi tiến công của ta xung phong đánh chiếm sào huyệt cuối cùng của quân nguỵ ở Buôn Ma Thuột. Trong giờ phút tuyệt vọng quân địch dồn hết sức lực chống đỡ, xe tăng M48, M41, các loại hoả lực từ lỗ châu mai, lô cốt cố thủ đổ đạn dựng bức tường lửa trước cổng Sở chỉ huy Sư đoàn 23. 10 giờ ngày 11/3, xe tăng 980 và 985 của Trung đoàn 273 cùng bộ đội ta tiến vào cổng chính. Xe tăng 980 bắn sập và húc đổ cổng sắt tạo điều kiện cho đồng đội tiến vào tiêu diệt các ổ đề kháng làm chủ Sở Chỉ huy Sư đoàn 23 nguỵ. Đến 11 giờ ngày 11/3 toàn bộ quân địch ở Buôn Ma Thuột bị tiêu diệt. Hai tên Tỉnh trưởng Nguyễn Trọng Luật và Sư đoàn phó Sư đoàn 23 Vũ Thế Quang của địch bị bắt sống. Đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột đã làm chấn động Nhà trắng và Lầu Năm Góc, nhưng Tổng thống nguỵ quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu vẫn ngoan cố lao vào canh bạc cùng Cao Văn Viên ký lệnh tử thủ Buôn Ma Thuột để xin viện trợ tiếp tục chiến tranh.

Đồng chí Trung tướng Hoàng Minh Thảo – Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên báo cáo quyết tâm chiến đấu của chiến dịch Tây Nguyên tháng 3/1975. Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược năm 1975 có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt lớn lao nên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã cử Đại tướng Văn Tiến Dũng - Uỷ viên BCT, Phó bí thư Quân uỷ TW - Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam vào trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Lực lượng địch ở Tây Nguyên được bố trí thế phòng thủ hoàn chỉnh gồm toàn bộ Quân đoàn 2, Quân khu 2 nguỵ và lực lượng tăng cường. Trong đó có Sư đoàn 23, Lữ đoàn dù 3, Trung đoàn 40 bộ binh, 8 liên đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn tăng thiết giáp, 30 tiểu đoàn bảo an và các đơn vị binh chủng chuyên môn kỹ thuật. Để tiêu diệt địch giải phóng Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã sử dụng chiến thuật nghi binh làm cho địch tưởng ta chuẩn bị mở chiến dịch tiến công ở hướng bắc Tây Nguyên. Chúng tập trung lực lượng phòng thủ ở Kon Tum và Plây Ku. Trong khi đó các đơn vị chủ lực của ta tham gia chiến dịch gồm Sư đoàn 10, 316, 320, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng 273 và một số lực lượng khác bí mật di chuyển đội hình vào nam Tây Nguyên chuẩn bị chiến dịch chỉ để lại Sư đoàn 968 và một số đơn vị nhỏ cùng lực lượng bộ đội địa phương hoạt động nghi binh. Mục tiêu then chốt là điểm huyệt vào Buôn Ma Thuột. Để cô lập địch ở Buôn Ma Thuột, từ ngày 4 đến 9/3 ta tổ chức đánh tạo thế chia cắt Tây Nguyên khỏi đồng bằng ven biển ở các đường 19, 21, 14 nam Tây Nguyên: Trung đoàn 95A tiến công tiêu diệt địch làm chủ 20 km Đường 19 đoạn đông Plây Ku; Sư đoàn 3 (Quân khu V) tiến công tiêu diệt địch ở An Khê cắt đứt Đường 19; Trung đoàn 25 tiêu diệt đoàn xe địch trên Đường 21 làm chủ đoạn đường đông Chư Cúc (Đắk Lắk); Trung đoàn 9 (Sư đoàn 320) tiêu diệt địch ở Buôn Hồ cắt đứt Đường 14 ở bắc Buôn Ma Thuột. Ngày 9/3/1975, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 40 pháo binh tiến công chi khu quận lị Đức Lập. Đây là tuyến phòng thủ vững chắc của địch gồm 5 cứ điểm liên hoàn nằm trên Đường 14 tây nam Buôn Ma Thuột. Sau hơn 1 ngày chiến đấu Sư đoàn 10 làm chủ hoàn toàn Đức Lập. Để đề phòng địch ứng cứu đường không, lực lượng pháo binh đã bố trí sẵn sàng đánh vào sân bay Hoà Bình ở Buôn Ma Thuột, Tiểu đoàn 33 ĐKZ đánh vào sân bay Cù Hanh ở Plây Ku. Đến đêm 9/3 Buôn Ma Thuột bị cô lập, quân nguỵ ở đây bị trói chặt, lực lượng ứng cứu của chúng bị chặn từ các hướng. Để chuẩn bị cho trận tiến công vào mục tiêu then chốt Buôn Ma Thuột, các đơn vị công binh, thông tin, quân y, vận tải đã bí mật chuẩn bị các phương án phục vụ chiến đấu, kịp thời cứu chữa thương binh, tiếp tế hậu cần... đặc biệt sự sáng tạo của cán bộ, chiến sỹ công binh Trung đoàn 7. Do yêu cầu đảm bảo bí mật, hệ thống đường giao thông chỉ được lệnh thi công thông suốt trước giờ xuất kích 5 tiếng đồng hồ, các chiến sỹ công binh đã bí mật cưa trước 3/4 những thân cây to và liên kết các khối thuốc nổ ở những dốc cao, bến vượt có khối lượng đất đá lớn, khi xe tăng và bộ binh xuất kích chỉ cần 1 vài tiếng đồng hồ là hệ thống đường được khai thông. 1giờ 55 phút ngày 10/3 cuộc tiến công vào Buôn Ma Thuột bắt đầu. Lực lượng đặc công bất ngờ tiến công Ngã Sáu, khu kho Mai Hắc Đế, sân bay Hoà Bình. Sau đó 15 phút pháo binh chiến dịch bắn vào Sư đoàn bộ binh 23, Tiểu khu Đắk Lắk, Khu thiết giáp, Khu pháo binh. Đã được công binh phục vụ kịp thời, các lực lượng của ta hình thành 5 mũi vượt sông Sêrêpốc tiến vào Buôn Ma Thuột. 6 giờ các chiến sỹ Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 95B vượt qua khu vực sân bay thị xã đánh chiếm Ngã Sáu. 7 giờ 10 phút Trung đoàn 148 đánh chiếm Khu pháo binh, Khu thiết giáp. 11 giờ 30 phút Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24 và xe tăng Trung đoàn 273 làm chủ khu truyền tin. 16 giờ làm chủ tiểu đoàn 23 quân y và áp sát vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Quân địch hoảng loạn, chúng kêu cứu khẩn cấp và cho máy bay ném bom dữ dội ngay trên đường phố hòng ngăn chặn đường tiến công của quân ta. Trong các mục tiêu chúng cố thủ quyết liệt và tổ chức các đợt phản kích. Lực lượng phòng không của ta luôn theo sát phối hợp chiến đấu bảo vệ đội hình tiến công. Ngày 11/3, sau khi pháo binh chiến dịch bắn cấp tập 2 tiếng đồng hồ, từ 4 hướng, các mũi tiến công của ta xung phong đánh chiếm sào huyệt cuối cùng của quân nguỵ ở Buôn Ma Thuột. Trong giờ phút tuyệt vọng quân địch dồn hết sức lực chống đỡ, xe tăng M48, M41, các loại hoả lực từ lỗ châu mai, lô cốt cố thủ đổ đạn dựng bức tường lửa trước cổng Sở chỉ huy Sư đoàn 23. 10 giờ ngày 11/3, xe tăng 980 và 985 của Trung đoàn 273 cùng bộ đội ta tiến vào cổng chính. Xe tăng 980 bắn sập và húc đổ cổng sắt tạo điều kiện cho đồng đội tiến vào tiêu diệt các ổ đề kháng làm chủ Sở Chỉ huy Sư đoàn 23 nguỵ. Đến 11 giờ ngày 11/3 toàn bộ quân địch ở Buôn Ma Thuột bị tiêu diệt. Hai tên Tỉnh trưởng Nguyễn Trọng Luật và Sư đoàn phó Sư đoàn 23 Vũ Thế Quang của địch bị bắt sống. Đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột đã làm chấn động Nhà trắng và Lầu Năm Góc, nhưng Tổng thống nguỵ quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu vẫn ngoan cố lao vào canh bạc cùng Cao Văn Viên ký lệnh tử thủ Buôn Ma Thuột để xin viện trợ tiếp tục chiến tranh.




