Trần Văn Lai (
Đó là Cụ Trần Văn Lai, Đốc lý Hà Nội từ ngày 20/7/1945 đến ngày Cách mạng tháng Tám bùng nổ - người đã ra quyết định đổi tên đường phố mang tên người Tây thành tên các anh hùng dân tộc. Sinh năm 1894 ở Hà Nội và là người Tây học, nhưng Cụ lại mang nặng tình dân tộc, yêu nước, thương nòi. Chính vì vậy, Cụ là tấm gương sáng cho nhân sĩ trí thức Hà Nội trong nghững năm thành phố bị chúng chiếm đóng. Trò chuyện cùng ông Nguyễn Bắc, người đã từng phụ trách công tác trí vận nội thành thời kỳ đó và bà Dương Lan Hải, Tiến sĩ sử học, là con dâu cụ và được bà cho xem những kỷ vật của gia đình, tôi vẫn như thấy bóng dáng Cụ trong ngôi nhà cổ cuối ngõ Tức Mạc.

Chân dung Cụ Trần Văn Lai (1894-1975).
*Hạ tượng Tây, đặt tên phố ta
Gia tộc vốn có nghề khảm trai để lập nghiệp ở đất Kinh kỳ, nhưng anh thanh niên Trần Văn Lai lại được cha mẹ cho học trường Y để làm Đốc –tờ- cái nghề rất được trọng vọng trong xã hội thời Hà Nội đang chuyển mình theo khuynh hướng Tây học. Anh học cùng khoá với bác sĩ Vũ Đình Tụng. Những tưởng sẽ chuyên theo nghiệp cứu chữa người bệnh, nhưng bọn thực dân cũng không để anh yên. Yêu nước, ghét Pháp, bác sĩ bị chúng đày lên nhà tù Sơn La. Nhà văn Hoàng Công Khanh, người đã từng bị tù đày ở Sơn La vẫn còn nhớ: “Ông Trần Văn Lai là trí thức nên chúng giam ở khu riêng, không ở chung với tù cộng sản như anh em chúng tôi. Thỉnh thoảng, tôi có nhìn thấy ông đi trước sân bên đó”. Ra tù, về ngôi nhà cũ ở ngõ Tân Hưng, anh lại mẫn cán, tận tâm với nghề ở nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt Đức)
Đầu năm 1945, thời cuộc biến chuyển: Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim thành lập. Bác sĩ Trần Văn Lai được bổ nhiệm làm Thị Trưởng thành phố. Ngày 20-7-1945, bác sĩ chính thức nhậm chức.
Việc “động trời” mà trước đó không ai dám làm là Cụ cho hạ tất cả các pho tượng mà thực dân Pháp cho dựng ở các vườn hoa: tượng “mụ đầm xoè” ở vườn hoa Cửa Nam; tượng sĩ nông công thương ở vườn hoa Canh Nông (nay là vườn hoa In đi ra Găng đi); tượng toàn quyền Pôn –be ở vườn hoa Pôn –be (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ). Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã viết rất sinh động về việc này trong sách “Nhớ một thưở: “Sau ngày phát xít Nhật hất cẳng Pháp ở Đông Dương(9/3/1945), người Việt Nam được cử làm Đốc lý Hà Nội, bác sĩ Trần Văn Lai, tổ chức hạ cái tượng quốc sỉ ấy. Trong những người đi xem, có một ông già là ông Mỹ Ký. Thuở bé, hôm dựng tượng Pôn –be, ông Mỹ Ký có đi xem. Hôm nay hạ tượng, ông lại đi xem. Ông sướng quá, ôm mặt khóc nức nở”. Có sống trong cảnh tủi nhục của người dân nô lệ thì mới thấm thía nỗi đau quốc sỉ của dòng giống con Lạc cháu Hồng, ở giữa đất Thăng Long văn hiến nhưng thực dân Pháp nghênh ngang khoe quyền lực và văn minh Pháp, coi thường dân An Nam mà chúng cho rằng cần phải khai hoá. Nguyễn Công Hoan đã miêu tả từng chi tiết bức tượng: “Tượng Pôn-be bằng đồng hun, tay phải cầm chiếc cờ của nước Pháp, tay trái giơ về phía sau, năm ngón xòe ra… Cạnh chân nó là một người Việt Nam mặc áo cộc, đội khăn chít, chân giẫm đất, ngồi xổm, nghểng mặt lên nhìn cái bàn tay, như cái vẻ cầu khẩn . Ở giáng điệu thằng cướp nước thì như cái vẻ: “cứ yên tâm đã có ta”
Cùng với việc lật nhào các tượng do thực dân Pháp dựng nên, Thị trưởng Trần Văn Lai đã đổi một loạt tên các phố Tây thành phố ta: đại lộ đẹp nhất Hà Nội như Henri D’orleans thành Phùng Hưng, F.Ganier thành Đinh Tiên Hoàng, Gambetta đổi thành Trần Hưng Đạo… mang tên các vị vua và anh hùng dân tộc đến các phố mà bây giờ chúng ta vẫn gọi như: Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Yên Thế, Nguyễn Công Trứ… ông đều đổi lại hết. Ngõ nhỏ ông đang ở không còn cái tên Tân Hưng mang hơi hướng Tàu mà mang tên quê hương Tức Mặc thân yêu. Và cả vườn hoa cũng được đổi tên mang tinh thần tự tôn dân tộc như Vườn hoa trước cửa phủ Khâm Sai, dân quen gọi là “Con cóc”, ông đặt là Diên Hồng, vườn hoa Pôn- be đổi là Chí Linh. Đặc biệt quảng trường rất rộng trước cửa Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch) ra đến đường Điện Biên Phủ bây giờ, ông đặt tên là Quảng trường Ba Đình - căn cứ chống Pháp của nghĩa quân Đinh Công Tráng ở Thanh Hoá. Tinh thần dân tộc, yêu nước của ông thể hiện trên những việc làm, trên từng con phố mang đầy hồn Việt. Và rồi sau ngày khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, tên Quảng trường Ba Đình gắn liền với sự kiện vĩ đại của dân tộc: Lễ Độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Công hòa.
* Đứng đầu bản kiến nghị đòi hoà bình của nhân sĩ, trí thức Hà Nội đầu năm 1954
Hà Nội mùa đông 1946 trở thành chiến địa chống thực dân Pháp xâm lược. Người con trai duy nhất của Cụ, anh sinh viên Trần Mạnh Chu đang học trường Y để nối nghiệp cha, theo kháng chiến lên Việt Bắc tiếp tục học rồi làm bác sĩ ở căn cứ, trở thành Đội trưởng Đội quân y được thành lập ngày 1/9/1950 - tiền thân của Viện Quân y 105. Còn Cụ không đi tản cư mà ở lại ngôi nhà thân thuộc trong ngõ Tức Mạc khám chữa bệnh cho dân không lấy tiền. Hàng tháng, qua đường dây bí mật, Cụ gửi thư cho con trai và nhận thư của anh từ Việt Bắc gửi về. Đó không chỉ là tình cảm cha con mà còn chứa đựng cả tình cảm đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa mà người con trai duy nhất của Cụ đang phục vụ thương binh. Cũng như một số trí thức lớn thời đó như Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Văn Hiền, Bùi Tường Chiểu, Phạm Khắc Quảng, Đặng Văn Chung, Đinh Văn Thắng, Cụ ghét thực dân Pháp, một lòng hướng về kháng chiến, giữ tấm lòng son, ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, kiên quyết không cộng tác với chính quyền tay sai bù nhìn. Bọn chúng rất tức mà không làm gì được, gọi họ là “trí thức trùm chăn” (Les attentistes), “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản”. Ông Nguyễn Bắc, người phụ trách công tác trí vận nội thành rất nhớ ấn tượng và phẩm cách của Cụ Trần Văn Lai khi được tiếp kiến tại ngôi nhà cổ: “Cụ bà ra mở cửa đưa khách vào ngồi chơi trong bộ sa lông kiểu Tàu đen bóng. Cụ từ từ đi ra với bộ quần áo bằng vải thô Nam Định. Đầu cụ hói cao, trán bóng, chòm râu lưa thưa. Cụ tiếp khách bằng chè mạn. Hôm ấy, tôi đặt vấn đề viết kiến nghị đòi lập lại hoà bình và lấy chữ kí của nhân sĩ trí thức, Cụ nói ngay: Pháp không thể thắng được rồi! Bây giờ hai bên ngồi thương lượng là đúng lúc để chấm dứt đổ máu. Tôi tán thành”.
Đó là thời điểm ta tấn công cứ điểm Điện Biên Phủ, Thành ủy chủ trương vận động trí thức tiêu biểu ký vào bản kiến nghị đòi hoà bình nhằm tạo thành làn sóng đấu tranh công khai, ủng hộ cuộc đấu tranh ngoại giao của Chính phủ ở Genevơ. Bản kiến nghị đáp ứng nguyện vọng tha thiết của nhân dân mong được sống trong hoà bình. Nhưng viết như thế nào để thể hiện được tiếng nói của nhân sĩ, trí thức Hà Nội trước thời cuộc và có lợi cho kháng chiến? Ai sẽ là người đầu tiên ký vào bản kiến nghị? Ông Nguyễn Bắc đến xin ý kiến Cụ Lai và được Cụ tận tình chỉ bảo, cho ý kiến xác đáng vào bản dự thảo. Sau này, trong hồi ký “Giữa thành phố bị tạm chiếm”(NXBHN,1994), ông Nguyễn Bắc nhớ lại: “Tôi đề nghị viết:Chúng tôi yêu cầu chính phủ Pháp và Chính phủ kháng chiến thương lượng để giải quyết hoà bình ở Đông Dương. Suy nghĩ một lát, Cụ nói: Viết như thế không được, ta phải tỏ ra neutre (trung lập) thì kiến nghị mới có giá trị. Viết như anh thì rõ là đứng về Chính phủ kháng chiến rồi”. Sau đó, bản kiến nghị được sửa lại theo tinh thần mà Cụ Lai gợi ý và các ông luật sư Bùi Tường Chiểu, Nguyễn Huy Mẫn, Vũ Văn Hiền, các bác sĩ Phạm Khắc Quảng, Võ Tấn cũng đồng ý dùng Les parties (các bên) thay cho từ Les deux parties (hai bên) khi thể hiện tính chính trị trong văn bản, vừa mang tính trung lập, vừa đạt mục đích, công khai đòi hoà bình trước sự theo dõi và kiểm soát gắt gao của địch.
Thống nhất được các ý kiến, ông Nguyễn Bắc mang bản kiến nghị tới nhà cụ Lai. Cụ rất bằng lòng, ký ngay. Tên Cụ được đưa lên hàng đầu trong danh sách các nhân sĩ, trí thức ký kiến nghị, thể hiện uy tín và ảnh hưởng rất lớn của Cụ trong giới trí thức. Đức độ, thanh cao, Cụ là tấm gương cho những trí thức yêu nước, có tinh thần dân tộc. Ông Nguyễn Bắc nhắc đi nhắc lại khi trò chuyện với tôi: Cụ vẫn thường nói với những người kính trọng và hay lui tới nhà rằng “Nếu không tham gia được thì đừng làm gì có hại cho kháng chiến”. Từ nhóm nhân sĩ trí thức này, bản kiến nghị được ông Nguyễn Bắc đưa tới các nhóm trung kiên trong giới giáo sư, giáo viên các trường và giới văn nghệ sĩ ở một số báo. Lúc ấy, bác sĩ Đặng Văn Chung và Vũ Công Hoè chuẩn bị sang Pháp lấy bằng Thạc sĩ Y khoa, do đó, bác sĩ Phạm Khắc Quảng đã nhờ ông Chung chuyển tới luật sư Nguyễn Mạnh Hà đang ở Pháp. Ông Hà gửi bản kiến nghị cho báo Le Monde và L’ Humanité; dưới nhan đề “Les notabilites”(Những nhân sĩ Hà Nội). Hai tờ báo lớn của nước Pháp đã đăng bản kiến nghị đòi hoà bình, gây tiếng vang lớn trong các tầng lớp nhân dân yêu chuộng hoà bình và dân chủ ở Pháp.
Điện Biên Phủ toàn thắng, mọi người hân hoan vui mừng; nhưng bọn đầu sỏ phản động phao tin: Việt Minh chia cắt đất nước. Các báo đăng tin Hoàng Cơ Bình - chủ bút báo Giang sơn, tờ báo chống kháng chiến lập ra “Uỷ ban bảo vệ Bắc Việt”và “Trung đoàn Thủ đô”, quyết tử thủ với Việt Minh. Để tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu tình hình mới, tin tưởng vào thắng lợi mới, Quận ủy Nội thành chủ trương tiếp tục ra báo công khai, tiếp nối tờ Dân Ý mới ra được 5 số thì bị đình bản. Ông Vũ Đức Toa lại xoay sở xin được giấy phép ra báo hàng ngày. Ban biên tập chọn tên báo là Niềm Vui và mời Cụ Trần Văn Lai làm chủ nhiệm chính trị để bọn địch khỏi quấy phá. Cụ vui vẻ nhận lời ngay. Tấm lòng của Cụ đối với kháng chiến ở bất kỳ hoàn cảnh nào cũng sáng trong, đầy đặn. Sau này, khi ông Nguyễn Bắc thực hiện chỉ thị của Chủ tịch thành phố Trần Duy Hưng đến mời Cụ làm phó chủ tịch, cụ nói: “Tôi trùm chăn với Tây, không trùm chăn với ta”. Chỉ một câu đó thôi, đã hàm chứa tất cả lập trường yêu nước, không xu thời của người trí thức trong lòng Hà Nội bị địch kìm kẹp, khủng bố và tinh thần trách nhiệm của Cụ đóng góp trí tuệ, công sức xây dựng Thủ đô trong hoà bình.
Ngay sau ngày Hà Nội được giải phóng, Cụ Lai là một trong bốn nhân sĩ của thành phố được Bác mời lên gặp, ân cần trò chuyện và tặng chiếc Radio. Cảm động vì sự tin cậy của Bác và Chính phủ, Cụ đã dốc sức mình làm việc nước.
Ngày 4-11-1954, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban Hành chính Thành phố Hà Nội được thành lập do ông Trần Duy Hưng làm Chủ tịch, ông Trần Danh Tuyên làm Phó Chủ tịch; các ủy viên gồm: Khuất Duy Tiến, Trần Văn Lai, Lê Quốc Thân, Hà Kế Tấn. Tài đức vẹn toàn, Cụ có uy tín lớn trong các tầng lớp nhân dân. Vì vậy, là Thứ trưởng Bộ Thương binh Xã hội (Cụ Vũ Đình Tụng là Bộ trưởng) rồi Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Thành phố, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố, Cụ đã tích cực góp phần vào việc vận động nhân dân, nhất là các nhà công thương gia, trí thức ở các ngành văn hoá - khoa học vào công cuộc cải tạo và xây dựng Thủ đô những năm 1955-1965. Dù ở cương vị: Đại biểu quốc hội (khoá II, III), Uỷ viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Thương binh Xã hội, nhưng Cụ vẫn giữ nếp nhà thanh đạm. Cụ thường bảo với người thân: “Nhà mình ở thế này là đủ rồi”. Và ngôi nhà Cụ mua từ năm 1926, giờ vẫn lưu giữ bao kỷ vật thân yêu của hai cha con Cụ. Người con duy nhất - ông Trần Mạnh Chu noi gương Cha, tận tụy phục vụ cứu chữa thương binh ở Viện Quân Y 105, sau đó trở thành chuyên gia đầu ngành Tiết niệu ngoại khoa Quân Y, trực tiếp chăm sóc sức khoẻ cho một số cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước.Với những đóng góp của mình, Giáo sư-Tiến sĩ Trần Mạnh Chu đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba.
Năm 1975, Cụ Trần Văn Lai đã thanh thản về với tổ tiên, quây quần với gia tộc ở làng Mọc Quan Nhân. Cùng những trí thức tiêu biểu của Hà Nội nửa đầu thế kỷ trước, họ đã cống hiến cho sự nghiệp cứu nước và xây dựng đất nước với tất cả Đạo - Nhân - Nghĩa của truyền thống dân tộc và đem tài năng, tâm huyết của người trí thức phục vụ nhân dân.

Đường phố mang tên Thị trưởng Trần Văn Lai tại Mễ Trì, Hà Nội.
Tết Nhâm Thìn 2012, bà Dương Lan Hải, vui mừng báo cho tôi biết, tháng 12 năm 2011, Hội đồng Nhân dân Thành phố đã quyết định đặt tên đường phố Trần Văn Lai thuộc xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm. Đó là niềm vinh hạnh của gia tộc và của cả văn sĩ, trí thức Hà Nội. Còn ông Nguyễn Bắc và nhà văn Hoàng Công Khanh, những người đã kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện về cụ Trần Văn Lai, để tôi hoàn thành chân dung Cụ khi viết bản thảo cuốn sách Sông Hồng cuộn sóng, mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội cũng đã quy tiên vài năm rồi. Đời nào thời nào, những văn nghệ sĩ, trí thức chân chính cũng đem ánh sáng của tri thức phục vụ nhân dân như thế.
Kim Thanh(Thành ủy Hà Nội)
Bảo tàng Lịch sử quốc gia



