Bài viết

TRẦN VĂN QUẾ ( 1922- nay) (1)

Đà Nẵng02/12/2025Đoàn xã Tam Xuân (Đoàn xã Tam Xuân)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Trần Văn Quế, bí danh Sáng, Vân, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1922, tại thôn Thọ Khương, tổng Đức Hoà, phủ Tam Kỳ; nay là thôn Thọ Khương, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra ở vùng quê nghèo, có truyền thống yêu nước, gia đình là cơ sở cách mạng từng nuôi dưỡng, che dấu các đồng chí cán bộ cách mạng như: đồng chí Chu Huy Mân, đồng chí Võ Chí Công…

Ông nội là Trần Công Nhật quê ở làng Đức Bố, nay thuộc xã Tam Anh Bắc, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, là người học rất giỏi, đỗ đạt, từng làm quan ở Kinh đô Huế, nhưng chán cảnh quan trường thối nát nên cáo quan về quê mở trường dạy học. Ở làng không yên, ông vào Thọ Khương là một vùng rừng núi sinh sống trong cảnh bần hàn cho đến cuối đời (mất năm 1884).

Cha là Trần Công Cuộc, còn gọi là Cả Phô, từng tham gia phong trào Cần vương và sau đó là phong trào đấu tranh đòi giảm sưu, giảm thuế. Tuy có thời gian làm lý trưởng nhưng do không đồng loã với quan phủ nên ông bị chính quyền Nam triều phế truất. Từ truyền thống đấu tranh yêu nước của gia đình, đã hun đúc nên tinh thần yêu nước và ý chí cách mạng cho các con như: đồng chí Năm Đoa (Trần Thị Bút), có chồng và con tham gia cách mạng, bản thân được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; đồng chí Sáu Thoá (Trần Thị Nguyên - Trần Thị Tú), Phó trưởng Ban Phụ vận tỉnh Quảng Nam, đã được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì; Trần Huệ, Bí thư Huyện ủy Trà My (nay là huyện Bắc Trà My và Nam Trà My).

Mặc dù nhà nghèo nhưng Trần Văn Quế vẫn được gia đình tạo điều kiện ăn học, tham gia cách mạng từ rất sớm; khi 14, 15 tuổi đã làm tự vệ, làm giao liên đưa thư từ cho các đồng chí thoát ly và hoạt động trong nhà mình. Khi còn đi học Trần Văn Quế đã vận động phong trào học sinh bãi khoá, tổ chức các hội tương trợ học đường, tham gia phong trào đón Gô-da, tham gia mitting kỷ niệm ngày cách mạng Pháp 14-7.

Năm 1936, đỗ bằng Sơ học yếu lược và tiếp tục vào Bình Sơn, Quảng Ngãi học tiếp ở trường tiểu học thị trấn Châu Ổ. Trong những năm 1936 - 1939, phong trào dân chủ phát triển mạnh. Trong trường học xuất hiện nhiều tổ chức, đoàn hội. Theo sự hướng dẫn của đồng chí Nguyễn Đức Thưởng, Trần Văn Quế đã vận động những anh em thân quen với mình lập một số nhóm nhỏ gọi là tổ tương trợ học đường, tổ tương thân huynh đệ, các tổ này đã có nhiều hoạt động trong cao trào đấu tranh đòi dân sinh - dân chủ. Đó là những hoạt động cách mạng đầu tiên mà Trần Văn Quế tham gia. Trên cơ sở những thành tựu của cuộc vận động dân chủ trong những 1936 - 1938. Chi bộ Đảng Cộng sản ở địa phương quyết định thành lập tổ chức Đoàn Thanh niên phản đế, đồng chí Trần Văn Quế và đồng chí Nguyễn Ngọc Anh được chọn làm hạt nhân của tổ chức.

Theo sự gợi ý của đồng chí Nguyễn Sắc Kim[1], đồng chí Trần Văn Quế mở một lớp học tại Thọ Khương, vì là người đỗ Primaire nên lớp học thu hút được nhiều học sinh, thanh niên trong xóm (khoảng 20 người), ngoài giờ học còn giúp nhau làm kinh tế, lập quỹ…

Về tổ chức Đoàn thanh niên, sau một thời gian hoạt động, Chi đoàn đầu tiên được thành lập gồm 6 đồng chí: Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Diêu (Út Diêu), Trần Văn Huệ, Lê Giảng, Nguyễn Viên (Ba Tộ), do đồng chí Trần Văn Quế làm Bí thư.

Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ở Đông Dương thực dân Pháp tiến hành khủng bố, đàn áp dã man. Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương Quảng Nam bị vỡ; ở Thọ Khương, địch bắt một số đảng viên hoạt động công khai, trong đó có đồng chí Phan Khắc (Phan Thêm) là anh rể của đồng chí Trần Văn Quế. Trước tình hình đó, Chi đoàn phải đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, xây dựng nhiều đoàn viên thanh niên để bổ sung lực lượng cho Đảng.

Tháng 12 năm 1939, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Sắc Kim, đồng chí Trần Văn Quế được kết nạp vào hàng ngũ của Đảng. Tháng 6 năm 1940, đồng chí bị bắt cùng với 31 người trong xã và các xã lân cận do tham gia phong trào “Chung tát biển đông”, chủ yếu là những người tham dự đám cưới anh Nguyễn Cán, một hội viên thanh niên Phản đế ở Tịnh Sơn (nay thuộc Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành)[2]. Các đồng chí bị chúng đưa ra phủ tra tấn, đánh đập hơn 20 ngày rồi đưa ra nhà lao tỉnh ở Vĩnh Điện tiếp tục dọa nạt, tra khảo, ép cung gần một tháng trời. Không khai thác được gì ở Trần Văn Quế và các đồng chí khác nên chúng lại đưa các đồng chí xuống nhà lao Hội An. Ở đây, chúng dùng đủ hình thức dã man để tra tấn, ròng rã suốt hơn hai mươi ngày nhưng cuối cùng đều thất bại. Cả một quá trình từ phủ, tỉnh đến Toà mật thám Hội An, đồng chí Trần Văn Quế vẫn một mực không khai báo điều gì, ngoài câu trả lời: “Tôi còn nhỏ, còn đi học, không biết gì”.

Cuối cùng, chúng kết án đồng chí 5 năm tù, án khổ sai, chúng gọi là án kiên, án không khai, đồng chí phản đối vì còn nhỏ, buộc bọn chúng phải hạ xuống còn 3 năm và giam tại phòng cấm nhà lao Hội An. Tại đây, Trần Văn Quế cùng các đồng chí tiếp tục đấu tranh phản đối chế độ hà khắc của nhà tù. Chúng nhận định đây là một thanh niên cứng đầu, nên ở nhà lao Hội An được 4 tháng chúng đày đồng chí lên nhà lao Buôn Ma Thuột.

Tháng 01 năm 1941, Trần Văn Quế cùng với các đồng chí Nguyễn Giám (Nguyễn Tiến Chế), Nguyễn Hội, Nguyễn Ngọc Anh, Bùi Thuyên, Nguyễn Cán, Trần Khoa, Nguyễn Tâm, Ngô Quyền và Nguyễn Đình Phước bị đày đi Buôn Ma Thuột với bản án ghi rõ “Án không khai báo, phải trừng trị nghiêm khắc”. Khung cảnh nhà tù thật kinh khủng: tường cao cắm đầy những mảnh chai sắc nhọn, cai ngục hình dạng hung dữ đeo súng, đeo roi, nói tiếng người dân tộc. Nhưng tất cả không áp đảo được ý chí của những người cộng sản. Nhà tù trở thành trường học chính trị: trong ngục có nhiều lớp học như Pháp văn, Trung văn, lịch sử, địa lý, chủ nghĩa Mác - Lênin, các lớp huấn luyện tuyên truyền vận động quần chúng tổ chức hoạt động bí mật.

Khi các đồng chí vừa đến nhà lao thì nơi đây vừa nổ ra các cuộc đấu tranh chống đi làm ngày chủ nhật, chống cai ngục bớt khẩu phần ăn và cắt phần báo chí của tù nhân…; trước tinh thần đấu tranh quyết liệt của tù nhân, chúng phải nhượng bộ, đáp ứng các nguyện vọng của tù nhân.

Đầu năm 1944, khi sắp được mãn hạn tù, Trần Văn Quế cùng các đồng chí anh em ở Quảng Nam đã bàn kế hoạch trở về hoạt động tại quê hương. Bỗng một hôm các đồng chí lãnh đạo tại nhà tù gọi riêng 4 đồng chí là Nguyễn Giám, Lê Tự Nhiên, Trần Khoa và Trần Văn Quế để thông báo một thông tin bí mật do cơ sở của ta ở phòng giấy tờ cung cấp rằng kỳ này chúng sẽ không thả các đồng chí theo thời gian quy định mà chúng sẽ đày đi nơi khác. Đây cũng là lúc phong trào cách mạng trong nước đang ở thời điểm quyết định, yêu cầu đặt ra lúc này là tranh thủ lúc địch đưa đi đến nơi khác, các đồng chí phải trốn ra ngoài để hoạt động lãnh đạo phong trào. Được sự chuẩn bị tốt, Chi bộ nhà tù đã quyết định cho các đồng chí vượt ngục trong dịp này về hoạt động.

Ngày 20 tháng 02 năm 1944, Trần Văn Quế cùng các đồng chí Nguyễn Giám, Lê Tự Nhiên (người Huế) và đồng chí Trần Khoa bị bọn chúng giải đi nhà tù khác, đoàn tù lúc bấy giờ có khoảng 10 người, bị bọn chúng canh giữ rất chặt, không những thế chúng còn còng từng đôi một và dùng dây cột tất cả mọi người thành một xâu. Khoảng 8 giờ tối ngày 25 tháng 02 năm 1944, tàu chạy đến đoạn đèo Thủy Thạch, Mỹ Trang, Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, thừa lúc chúng mở giây trói cho mọi người ăn cơm và đúng lúc này do tàu lên dốc nên chạy chậm lại, theo kế hoạch đã chuẩn bị từ trước đồng chí Quế hô to khẩu lệnh “Lênin”. Từng đôi một ôm chặt lấy nhau cả 4 người cùng rơi xuống đường như một vật rơi tự do, cuộc nhảy tàu vượt ngục diễn ra thành công mà không ai bị thương gì đáng kể.

Vượt ngục đã khó, tránh được sự truy lùng gắt gao, tìm về cơ sở hoạt động lại càng khó hơn vì lúc này chúng lùng sục khắp nơi, sau khi 4 đồng chí nhảy tàu thành công thì không thể liên lạc được với nhau, đồng chí Nhiên và Khoa đi vào phía Nam; đồng chí Quế và Giám đi ra phía Bắc vượt đèo Kẻ Thá về Tam Kỳ.Trên đường đi, để tránh bị lộ, hai người đã đổi tên cho dễ hoạt động, đồng chí Quế đổi tên là Sáng, đồng chí Giám đổi tên là Chế và hai cái tên Sáng và Chế đã theo các đồng chí trong nhiều năm hoạt động bí mật.

Đúng lúc này phong trào trong tỉnh đang bị khủng hoảng nghiêm trọng, lý hương, mã tà, mật thám lùng sục bắt bớ gắt gao, Trần Văn Quế và Nguyễn Tiến Chế vẫn cố gắng bắt nối, tìm các cơ sở mà các đồng chí Võ Toàn (Võ Chí Công) và Nguyễn Sắc Kim đã giới thiệu trong nhà tù Buôn Ma Thuột. Cơ sở đó là đồng chí Nguyễn Văn Ưng (Nguyễn Văn Tấn) ở Hội An, Nguyễn Thị Phiên ở Tam Nghĩa, Núi Thành và một số cơ sở ở các phủ huyện.

Sau khi tìm về được với cơ sở, công việc đầu tiên là xây dựng phong trào từ phủ Tam Kỳ đến Thăng Bình rồi đến phủ Duy Xuyên. Vừa tổ chức cơ sở Đảng vừa tập hợp quần chúng, lập ra đội tự vệ Cứu quốc cho luyện tập và giao nhiệm vụ giao liên, canh gác, đưa đón cán bộ thoát ly, bảo vệ các cuộc họp…

Sau khi bắt được liên lạc, đến tháng 4 năm 1944, một cuộc hội nghị được tổ chức tại chùa Kim Bồng, Hội An. Hội nghị đã quyết định thành lập lại Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam gồm 3 đồng chí: Trần Văn Quế, Nguyễn Tiến Chế, Nguyễn Văn Ưng và phân công đồng chí Trần Văn Quế làm Bí thư Tỉnh ủy lâm thời. Tỉnh ủy đặt cơ quan tại Diêm Trường, Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Giang, huyện Núi Thành) và Kim Bồng, Hội An. Hội nghị xác định nhiệm vụ cấp bách của Tỉnh ủy lúc này là nhanh chóng móc nối với các phủ, huyện để xây dựng lại hệ thống tổ chức Đảng và các đoàn thể, tiếp tục ra tờ báo “Cờ Độc Lập” số 11 (các đồng chí Nguyễn Sắc Kim, Võ Toàn… và các đồng chí trong Ban Tỉnh ủy khi chưa bị bắt đã ra số 10) và in một số tài liệu mật để tuyên truyền.

Tháng 5 năm 1945, Tỉnh ủy lâm thời quyết định triệu tập cuộc họp trên một chiếc thuyền tại bến đò Ông Đốc (Đại Lộc) dọc sông Thu Bồn. Tỉnh ủy quyết định một số việc quan trọng: Gấp rút đẩy mạnh phong trào trong toàn tỉnh thành cao trào, chống các luận điệu sai trái, giả hiệu do Nhật bày ra, tích cực xây dựng lực lượng vũ trang… Tỉnh ủy bổ sung thêm một số đồng chí mới ra tù.

Tình hình trong tỉnh vào những ngày đầu tháng 8 năm 1945, bộ máy thống trị tay sai của Nhật từ phủ, huyện đến cơ sở đã bị tê liệt, quần chúng được tập hợp dưới ngọn cờ hiệu triệu của Mặt trận Việt Minh, sẵn sàng hưởng ứng khởi nghĩa. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy triệu tập cuộc họp khẩn cấp tại nhà ông Tòng ở Khương Mỹ, Tam Kỳ (nay là thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành), vào các ngày 12 và 13 tháng 8 năm 1945, bàn kế hoạch chớp thời cơ khởi nghĩa. Cuộc họp đang tiến hành thì chiều ngày 13 tháng 8 năm 1945, từ Đà Nẵng đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ vào cấp báo: Nhật Hoàng đã đầu hàng Đồng minh không điều kiện.

Nhờ quán triệt chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, của Trung ương về các khả năng cuộc khởi nghĩa của ta có thể nổ ra giành thắng lợi, cuộc họp chuyển xuống nhà ông Nguyễn Chiến ở Khương Mỹ, Tam Kỳ vào đêm 13 và ngày 14 tháng 8 năm 1945. Hội nghị Tỉnh ủy liền chuyển trọng tâm sang bàn chủ trương khởi nghĩa và quyết định: Chuẩn bị mọi điều kiện, ấn định ngày giờ phát động toàn dân trong tỉnh nổi dậy giành chính quyền; thành lập Ủy ban bạo động giành chính quyền ở tỉnh gồm 17 đồng chí. Bộ phận gồm có 5 đồng chí, trong đó có đồng chí Trần Văn Quế.

Cách mạng tháng Tám thành công trong toàn tỉnh thì đến cuối tháng Tám năm 1945, Tỉnh ủy tiến hành cuộc họp tại Miếu Đường, Hội An quyết định bầu Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh Quảng Nam và ra mắt quốc dân đồng bào đúng ngày 02 tháng 9 năm 1945, đồng chí Trần Văn Quế được cử làm Ủy trưởng Tuyên truyền.

Tháng 4 năm 1946, đồng chí Trần Văn Quế được Xứ ủy điều ra làm phái viên điều tra ở Huế. Đến đầu năm 1947, đồng chí được điều làm Giám đốc tuyên truyền thuộc Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam ở Quảng Ngãi cũng trong lúc này đồng chí được bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp quốc dân tỉnh Quảng Ngãi, Trưởng Ty Thông tin Quảng Ngãi. Đầu năm 1948, Ban Cán sự khu 15 (Tây Nguyên) được thành lập, đồng chí lại cùng với một số anh em lên hoạt động ở Tây Nguyên, làm Giám đốc thông tin và Dân vận Liên khu.

Tháng 6 năm 1948, đồng chí được bổ sung vào Ban Thường vụ Ban Cán sự Gia Lai. Khi hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum nhập lại thành tỉnh Gia Lai - Kon Tum, đồng chí được cử vào Ban Thường vụ Liên Tỉnh ủy cho đến năm 1950.

Tháng 02 năm 1950, sau khi biên giới được giải phóng, đồng chí được điều ra Bắc học Trường Mác - Lê ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Tháng 4 năm 1953, đồng chí được Trung ương quyết định về lại Liên khu 5, làm Bí thư Thanh vận, chỉ đạo phong trào thanh niên trong toàn Liên khu, Đoàn Thanh niên xung phong phục vụ hoả tuyến. Với sức khoẻ hăng say không ngại nguy nan, gian khổ, đồng chí đã cùng với thanh niên xung phong khi nằm rừng khi xông vào trận địa, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Tháng 7 năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi. Với Hiệp định , đất nước bị chia làm hai miền. Theo sự phân công của Đảng, đồng chí lại phải ra miền Bắc tham gia theo dõi tình hình miền Nam trong Ban Quan hệ Bắc Nam, lo công tác mật của Đảng, nghiên cứu theo dõi chọn lọc cán bộ.

Trong thời gian công tác ở Ban Quan hệ Bắc Nam, có lúc đồng chí được phân công phụ trách chính sách tập kết và tham gia sửa sai trong việc thực hiện cải cách ruộng đất ở Liên khu 4. Khi mọi việc tạm yên ổn đồng chí được cử đi học trường Nguyễn Ái Quốc. Đến tháng 02 năm 1960, đồng chí Trần Văn Quế được chuyển sang công tác ở Tổng cục Lâm nghiệp, phụ trách công tác chuyên môn như khai thác, chế biến, vận chuyển, phân phối lâm sản.

Tháng 3 năm 1970, do yêu cầu về nhiệm vụ xây dựng ngành lâm nghiệp ở vùng giải phóng miền Nam, đồng chí cùng một số anh em đăng ký đi B và được phân công về Khu 5. Dưới sự chỉ đạo của Thường vụ Khu ủy, đồng chí được giao nhiệm vụ làm Trưởng ban Lâm nghiệp Trung Trung bộ. Trong hoàn cảnh chiến tranh, khó khăn về mọi mặt nhưng đồng chí vẫn cùng anh chị em dốc hết tâm sức của mình lo xây dựng ngành từ khâu tổ chức lâm trường, vườn ươm, trại nghiên cứu, tổ chức khai thác lấy gỗ phục vụ chiến trường, xây dựng doanh trại đến tổ chức mạng lưới tổ chức lâm nghiệp từ đồng bằng đến miền núi.

Với thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nước được giải phóng, đồng chí tiếp tục đóng góp tài năng và công sức của mình trong công cuộc tái thiết quê hương. Bằng công lao và kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, đồng chí được bầu vào Ủy ban Nhân dân cách mạng Trung Trung bộ, giữ chức ủy viên, sau là Phó Chủ tịch, phụ trách kinh tế.

Đầu năm 1976, đồng chí được điều ra Hà Nội làm Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp, Trưởng ban Cán sự Đảng Bộ, Thường vụ Đảng ủy cơ quan. Dù bất cứ ở đâu và trong hoàn cảnh nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cuối năm 1985, đồng chí Trần Văn Quế nghỉ hưu tại Hà Nội.

Nghỉ hưu nhưng với nhiệt huyết cách mạng, với tinh thần lao động hăng say, nhiệt tình, đồng chí lại tiếp tục công việc, nhiệm vụ mới đó là làm Trưởng ban hưu trí ngành Lâm nghiệp. Sau một chặng đường dài đầy nguy hiểm và chông gai với bao thành tích, cống hiến cho cách mạng, cho dân tộc, cho quê hương, đồng chí đã trở về sinh hoạt cùng những anh em từng chiến đấu với mình trong suốt 30 - 40 năm trong ngành.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đồng chí Trần Văn Quế luôn tỏ rõ là một chiến sĩ cách mạng kiên trung, một cán bộ lãnh đạo sáng tạo có tâm, có tài, luôn luôn phấn đấu xây dựng vì sự nghiệp chung của đất nước. Dù ở đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, từ miền xuôi lên miền núi lăn lộn khắp các địa bàn, trải qua bao khó khăn gian khổ có lúc tưởng không vượt qua nổi, nhưng với ý chí của người cộng sản, ý chí con người Việt Nam kiên trung, bất khuất, luôn giữ ý chí tiến công cách mạng, tích cực, hăng say lo làm tròn nhiệm vụ, làm tròn sứ mệnh của một đảng viên. Bài học từ gương sáng của đồng chí là luôn luôn chấp hành nghiêm túc mọi sự phân công của Đảng, không đòi hỏi lợi ích cho cá nhân mình mà sẵn sàng phục vụ ở mức cao nhất cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Với những cống hiến to lớn trên, đồng chí Trần Văn Quế đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương cao quý: Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng; Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất và nhiều Huy chương hữu nghị cao quý khác.


[1] Đồng chí Nguyễn Sắc Kim làm Bí thư Chi bộ ghép vùng Phú Quý Đại, Thạnh Trung, Tịch Tây. Đến đầu năm 1938, Chi bộ ghép này không còn hoạt động vì phần đông các đồng chí chuyển sinh hoạt đi nơi khác. [2] Đám cưới này do ta lồng vào tổ chức để qua đó tập hợp quần chúng và những người đến dự đi cho đôi vợ chồng trẻ tấm hoàng phi mang dòng chữ “Chung tát biển Đông”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn