Anh hùng Lực lượng vũ trang

TRẦN VĂN THỌ – NGƯỜI ANH HÙNG GIỮA LÒNG DÂN NƠI NGÃ BA BIÊN GIỚI

Phú Thọ22/08/2026xã Krông Ana (Xã Krông Ana)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
TRẦN VĂN THỌ – NGƯỜI ANH HÙNG GIỮA LÒNG DÂN NƠI NGÃ BA BIÊN GIỚI

TRẦN VĂN THỌ – NGƯỜI ANH HÙNG GIỮA LÒNG DÂN NƠI NGÃ BA BIÊN GIỚI

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, có những người anh hùng được nhớ đến bởi những chiến công vang dội giữa chiến trường, nhưng cũng có những người để lại dấu ấn bằng những việc làm lặng thầm giữa cuộc sống của nhân dân. Anh hùng, liệt sĩ Trần Văn Thọ là một người như thế. Tuổi đời chỉ vừa 26, thời gian công tác nơi biên cương chưa dài, nhưng những gì anh để lại trên vùng đất Xính Phình, nơi ngã ba biên giới Việt Nam – Trung Quốc – Lào, đã trở thành một câu chuyện đẹp về người chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang hết lòng vì nhân dân, vì biên giới và vì sự bình yên của Tổ quốc.

Anh Trần Văn Thọ sinh năm 1935 tại xã Nỗ Lực, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, trong một gia đình nông dân nghèo. Sớm giác ngộ cách mạng, khi mới 15 tuổi, anh đã tham gia du kích. Năm 1952, anh nhập ngũ và sau đó công tác tại Đồn 5 Công an vũ trang nhân dân, nay là Đồn Biên phòng Leng Su Sìn, tỉnh Điện Biên. Những năm tháng đầu tiên ở vùng biên giới Tây Bắc đã đưa người chiến sĩ trẻ đến với một cuộc chiến đấu rất đặc biệt: không chỉ cầm súng bảo vệ từng tấc đất biên cương mà còn phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, xây dựng lòng tin trong nhân dân để cùng nhân dân giữ bản, giữ làng, giữ biên giới.

Cuối năm 1958, đơn vị phân công anh Trần Văn Thọ thực hiện công tác vận động quần chúng tại xã Xính Phình, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, nay là xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Đây là vùng đất hiểm trở, dân cư thưa thớt, giao thông cách trở và tình hình an ninh vô cùng phức tạp. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, miền Bắc được hòa bình, nhưng tại vùng biên giới này, các đối tượng gián điệp, đặc vụ và lực lượng phỉ vẫn lén lút hoạt động, tìm cách chống phá chính quyền cách mạng, gây mất ổn định trong nhân dân. Trong hoàn cảnh ấy, anh Thọ đã chọn cách đến với đồng bào bằng chính sự chân thành của một người lính.

Anh thực hiện phương châm “ba bám, bốn cùng”, bám địa bàn, bám dân, bám nhiệm vụ; cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào. Anh không đứng ngoài cuộc sống của nhân dân để tuyên truyền, vận động mà trực tiếp hòa mình vào cuộc sống ấy, cùng bà con lao động, chia sẻ khó khăn và từng bước tạo dựng niềm tin. Chính từ sự tin tưởng của nhân dân, anh phối hợp với cán bộ địa phương vận động, gọi hàng được 5 tên phỉ. Từ những nguồn tin thu được, anh tiếp tục phát hiện và bắt giữ 6 tên đặc vụ của quân Tưởng nằm vùng, thu nhiều vũ khí và tài liệu quan trọng. Những chiến công ấy cho thấy sự mưu trí, dũng cảm của một người chiến sĩ, nhưng phía sau mỗi chiến công còn là một quá trình bền bỉ xây dựng thế trận lòng dân.

Điều đáng quý ở người chiến sĩ trẻ ấy là anh không chỉ nghĩ đến việc bảo vệ an ninh trước mắt mà còn nghĩ đến tương lai lâu dài của vùng biên giới. Anh trực tiếp giáo dục, bồi dưỡng quần chúng ưu tú, giới thiệu lên cấp trên kết nạp 13 người vào Đảng, góp phần thành lập chi bộ đầu tiên ở xã Xính Phình. Anh vận động đồng bào xóa bỏ những tập quán lạc hậu, từ bỏ mê tín dị đoan, ổn định cuộc sống, không du canh du cư và từng bước phát triển sản xuất. Với anh, giữ vững biên cương không chỉ là cầm chắc tay súng mà còn phải giúp đồng bào có cuộc sống ổn định, có niềm tin và có tương lai trên chính mảnh đất quê hương mình.

Có một câu chuyện về anh Trần Văn Thọ khiến người ta càng cảm nhận rõ hơn tấm lòng của người chiến sĩ đối với nhân dân. Năm 1957, trong quá trình xây dựng cơ sở tại địa bàn phụ trách, anh nhận thấy gia đình ông Pờ Pú Chừ, một người Hà Nhì, rất nghèo lại đông con, quần áo không đủ mặc. Giữa mùa đông giá lạnh, ông Chừ chỉ có một chiếc áo trên người. Anh Thọ đã nhường lại chiếc áo trấn thủ của mình cho ông mặc. Chiếc áo tưởng như chỉ là một vật dụng nhỏ bé giữa vùng biên cương khắc nghiệt, nhưng lại trở thành biểu tượng của tình quân dân. Sau đó, anh tiếp tục bồi dưỡng, đào tạo ông Pờ Pú Chừ trở thành một cơ sở tin cậy và giới thiệu ông vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1959.

Tình cảm ấy không dừng lại ở một chiếc áo. Mỗi lần được nghỉ phép về xuôi, anh Thọ lại dành tiền mua thóc giống, lưỡi cày mang lên tặng đồng bào. Anh trực tiếp hướng dẫn người Hà Nhì khai phá đất hoang, đắp bờ làm ruộng nước và cầm tay chỉ việc cách trồng lúa. Vụ mùa đầu tiên, những thửa ruộng do anh hướng dẫn cho năng suất cao hơn nhiều so với lúa nương. Bà con thấy hiệu quả, bắt đầu tin tưởng và làm theo. Từ đó, nhiều người Hà Nhì xuống núi lập bản định cư, lấy tên là bản Đoàn Kết và tham gia hợp tác xã.

Anh cùng đồng đội còn giúp bà con dựng nhà, làm đường ống dẫn nước sinh hoạt, chia sẻ muối ăn, chăn ấm và những vật dụng cần thiết. Mỗi chuyến đi công tác trở về, anh thường mang theo những món quà giản dị: bao hạt giống, dụng cụ sản xuất và những vật dụng mà bà con đang cần. Chính những điều tưởng như rất nhỏ ấy đã làm nên một người chiến sĩ gần gũi với nhân dân. Anh không chỉ bảo vệ đồng bào mà còn giúp đồng bào tự mình dựng xây cuộc sống, để vùng đất biên cương ngày càng vững vàng hơn.

Những nỗ lực ấy đã đem lại những đổi thay rõ rệt. Đến năm 1961, toàn xã Xính Phình xây dựng được 5 hợp tác xã, trong đó Phù Bì – hợp tác xã do anh Thọ trực tiếp hướng dẫn – trở thành lá cờ đầu ở vùng cao. Vụ mùa năm 1961, bình quân mỗi người thu hoạch trên một tấn lương thực và hợp tác xã được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. Đặc biệt, trong khi trước đó hầu hết người dân còn mù chữ và tình trạng nghiện thuốc phiện rất nghiêm trọng, anh Thọ đã kiên trì vận động bà con học chữ, từ bỏ thuốc phiện và các tập quán lạc hậu. Đến năm 1960, toàn xã Xính Phình không còn người nghiện thuốc phiện. Nhân dân ngày càng tin tưởng, gắn bó và chủ động giúp đỡ cán bộ Biên phòng bảo vệ an ninh vùng biên giới.

Nhưng chính trong những ngày tháng bình dị ấy, cuộc đời người chiến sĩ trẻ đã dừng lại quá sớm. Đầu tháng 8 năm 1961, mưa lớn kéo dài khiến nước suối dâng cao, cuốn đổ guồng nước và làm hư hỏng nặng nhà kho của hợp tác xã trên nương. Lo lắng cho công việc của bà con, anh Trần Văn Thọ mặc áo mưa đi sửa lại guồng nước, khắc phục nhà kho. Công việc vừa hoàn thành cũng là lúc cơn sốt rét ác tính quật ngã người chiến sĩ 26 tuổi. Ngày 8/8/1961, anh Trần Văn Thọ hy sinh giữa vùng biên cương mà mình đã dành trọn tuổi thanh xuân để gắn bó.

Anh ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, nhưng với đồng bào nơi đây, anh không chỉ là một người cán bộ, một người lính mà đã trở thành người thân của bản làng. Những người dân Hà Nhì từng được anh giúp đỡ đã dựng bia tưởng niệm để ghi nhớ công lao. Chiếc áo trấn thủ anh từng trao cho ông Pờ Pú Chừ cũng được lưu giữ trang trọng tại Bảo tàng Biên phòng. Một chiếc áo đã cũ theo năm tháng, nhưng câu chuyện phía sau nó vẫn còn nguyên giá trị: đó là câu chuyện về một người lính biết đặt cái lạnh của đồng bào lên trên cái lạnh của chính mình.

Ghi nhận những cống hiến đặc biệt ấy, anh Trần Văn Thọ được Bộ trưởng Bộ Công an truy phong vượt cấp từ Thượng sĩ lên Thiếu úy. Ngày 1/1/1967, Quốc hội và Chính phủ truy tặng liệt sĩ Trần Văn Thọ danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Anh là một trong năm chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang đầu tiên được tuyên dương danh hiệu cao quý này.

Hơn sáu thập kỷ đã đi qua kể từ ngày người chiến sĩ trẻ nằm lại nơi biên cương Tây Bắc. Những bản làng hôm nay đã đổi thay, cuộc sống của đồng bào Hà Nhì ngày càng khởi sắc, những con đường đến vùng ngã ba biên giới cũng không còn cách trở như xưa. Thế nhưng, trong ký ức của nhân dân và trong truyền thống của những người lính Biên phòng, hình ảnh Anh hùng, liệt sĩ Trần Văn Thọ vẫn còn đó: một người chiến sĩ không chỉ biết chiến đấu với kẻ thù mà còn biết gieo những hạt giống của niềm tin, của tri thức, của cuộc sống ấm no trên miền biên giới.

Tuổi thanh xuân của anh đã gửi lại nơi đất biên cương, nhưng những gì anh vun đắp thì vẫn tiếp tục sinh sôi. Đó là những bản làng bình yên, là niềm tin của nhân dân đối với người lính, là từng tấc đất biên giới được giữ gìn bằng sức mạnh của lòng dân. Câu chuyện về Trần Văn Thọ vì thế không chỉ là câu chuyện về một người anh hùng đã hy sinh, mà còn là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của sự cống hiến: khi một người biết sống vì nhân dân, những điều tốt đẹp họ gieo xuống sẽ vượt qua giới hạn của một đời người.

Xin được cúi đầu trước người Anh hùng, liệt sĩ Trần Văn Thọ – người đã dành những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ cho biên cương Tổ quốc, dành sự chân thành cho đồng bào và dành cả cuộc đời mình cho bình yên của một vùng đất. Danh hiệu Anh hùng có thể được trao từ nhiều năm trước, nhưng danh thơm của một người sống hết lòng vì nhân dân thì sẽ còn mãi trong ký ức của núi rừng Tây Bắc và trong lòng những thế hệ hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn