Trên con đường không cột số
Những điều tôi sắp kể giống như một chuyến đi kì lạ nhất mà dấu ấn của nó để lại đã trở thành chứng tích của thời gian. Chuyện về con đường “một đi không trở lại” ấy bắt đầu từ một làng quê có cái tên thô mộc ngắn gọn độc mỗi chữ Ho. Làng Ho. Không ngờ cái địa danh ít người biết đến ấy nằm chon von cuối miền đất Quảng Bình lại là điểm cuối cùng của đường dây miền Bắc, nơi chúng tôi thật sự bắt đầu bước vào cuộc hành trình có một không hai trong lịch sử. Lớp trước chúng tôi vài chục năm đã có m
Đường tới cửa rừng
Những điều tôi sắp kể giống như một chuyến đi kì lạ nhất mà dấu ấn của nó để lại đã trở thành chứng tích của thời gian. Chuyện về con đường “một đi không trở lại” ấy bắt đầu từ một làng quê có cái tên thô mộc ngắn gọn độc mỗi chữ Ho.
Làng Ho. Không ngờ cái địa danh ít người biết đến ấy nằm chon von cuối miền đất Quảng Bình lại là điểm cuối cùng của đường dây miền Bắc, nơi chúng tôi thật sự bắt đầu bước vào cuộc hành trình có một không hai trong lịch sử. Lớp trước chúng tôi vài chục năm đã có một cuộc Nam tiến lừng danh nhưng qui mô và thử thách không thể sánh bằng cuộc hành trình đi cứu nước hôm nay. Chiến trường miền Nam là cái đích chúng tôi phải đến. Hai tiếng “miền Nam” lúc đó là cái “biển báo chiến tranh" của toàn thế giới.
Từ đây đối với chúng tôi chỉ còn rừng núi, suối khe, đèo dốc, cây cối, thú rừng, trời mây, sông nước… làm bạn đồng hành.
Đã hơn ba mươi năm, làng Ho trở thành “điểm nhớ” trong tôi và biết bao đồng đội từng đặt chân qua đó. Những kỷ niệm nung nấu suốt một thời đã khắc sâu vào tâm khảm con người, mà năm tháng dẫu qua đi cũng không thể làm ta phai nhạt nguôi quên.
Đoàn 308, tên gọi nguỵ trang của trung đoàn 52, Sư đoàn 320 chính quy, rời khỏi làng Ho, đi vào cửa ngõ Trường Sơn tháng 3 năm 1966. Trước đó, đoàn người đã “ngốn” hết quãng đường trên nửa ngàn cây số từ Kim Bôi, Hạ Bi (Hoà Bình) tới đây bằng cả tháng trời cuốc bộ dằng dặc, được coi như là chuyến thực tập dài ngày nhất chuẩn bị cho cuộc hành trình vạn dặm vượt Trường Sơn.
Tôi ở đại đội trợ chiến cối 82 ly mang phiên hiệu C.17 trực thuộc trung đoàn, làm trinh sát pháo binh kiêm liên lạc cho trung uý đại đội trưởng Nguyễn Văn Ty, trung uý chính trị viên Nguyễn Hoàng, chuẩn uý phó chính trị viên Lý Thế Vinh và thiếu uý đại đội phó Nguyễn Vân. Đại đội 17 là đơn vị “Quyết thắng” của toàn quân rất xuất sắc trong xây dựng và huấn luyện ở miền Bắc. Tháng 3 năm 1965, khi tôi nhập ngũ vào C.17 cho đến ngày được lệnh đi Nam đã chứng kiến, chưa đầy một năm mà đơn vị nổi như cồn về mọi mặt, báo đài thường xuyên nhắc tới. Thành tích này có một phần công lao của chính trị viên Nguyễn Hoành, người duy nhất quê ở miền Nam (Bến Tre) trong bộ tứ chỉ huy C.17. Ông ngoài 30 tuổi, người đô con khoẻ mạnh, có năng lực động viên, khai thác tiềm năng của đơn vị ở mức độ cao, nhưng có nhược điểm là lắm lúc tác phong gia trưởng, lấn lướt cán bộ cùng vai vế. Ở ông cá tính bộc lộ mạnh mẽ, là cán bộ chính trị mà có khi trở thành”Trương Phi”. Lúc không kìm được nóng giận là bùng lên cơn thịnh nộ tưởng chừng “ăn tươi nuốt sống” kẻ khác. Tôi nhớ có lần đơn vị dã ngoại ở một bản Mường tỉnh Hoà Bình, ông sấn sổ lao vào định “chơi” ông Phát, đại đội trưởng C.16, cũng là đơn vị hoả lực trợ chiến của trung đoàn. Ông Phát người thấp nhỏ, mặt tái xanh, bước lùi trước ông Hoành cao lớn như hộ pháp mặt đỏ tía, trông đến tội nghiệp.
Sau những giây phút mất tự chủ, ông Hoành lại trở về với bản thể của mình: chân thành, vị tha, cởi mở… với vẻ hối hận, ông cười nói với bọn tôi: “Mình vô lý quá, thằng Phát nó cũng chẳng có gì đáng tội. Mình chỉ tức hắn nói mình địa phương chủ nghĩa. Có lẽ mình phải kiếm chút gì nhậu để xin lỗi cậu ta…”. Đúng là “chưa đánh được người mặt đỏ như vang, đánh được người rồi mặt vàng như nghệ”. Dù có được cấp trên ưu ái, ông Hoành cũng thấy việc làm ấy là hạ sách đối với một cán bộ chính trị viên đang dược trung đoàn chú ý như ông. Sự việc “nổi đình đám” nhưng trung đoàn chỉ rầy qua loa. Thiếu tá Biền trung đoàn trưởng và thiếu tá Chức chính uỷ quê ở miền Bắc xử sự bình tĩnh, bao dung khiến ông Hoành hối lỗi soi xét lại mình. Trong trung đoàn, hai ông là người đức độ, mực thước, được cán bộ, chiến sĩ hết lòng kính phục. Là lính nhưng tôi rất cảm tình với hai ông, và dường như thời ấy, quân đội ta, cán bộ hầu hết là những người như ông Chức, ông Biền. Bây giờ các ông đã là “lớp nười xưa nay hiếm” cả rồi. Và hình như ông Biền “an nghỉ” ở quân hàm cấp tướng.
Phó chính trị viên Lý Thế Binh trước ngày đi B (chiến trường miền Nam) còn là binh nhất, làm pháo thủ số 1, đùng một cái nhảy lên chuẩn uý, giữ chức phó cho ông Hoành. Anh là nhân vật triển vọng kế vị đệ nhất chính trị đại đội. Trước khi mặc áo lính, Vinh đã là đảng viên, bí thư chi bộ một xã ở Hà Tây. Vào bộ đội anh phát huy được sở trường thế mạnh và lên như diều. Vinh là người có năng lực và phẩm chất tốt, đặc biệt là có khiếu công tác chính trị. Chính anh đã dùng dao rạch tay mình lấy máu viết đơn xin vào Nam chiến đấu trong một đêm diễn đàn của đại đội, khiến mọi người phải một phen kinh hoàng. Ngày ấy báo chí nói nhiều về chuyện nhiều người tự lấy máu viết đơn xin đi chiến đấu. Khi tận mắt chứng kiến hành động dứt khoát của bí thư chi đoàn, tôi cảm thấy không khí sinh hoạt “bốc” hẳn lên.
Đại đội trưởng Ty quê ở Thái Bình là thủ trưởng quân chính hiền lành, điềm đạm, ít nói, làm việc chắc chắn nhưng có khi chậm chạp rề rà bị thủ trưởng Hoành cằn nhằn. Lúc quá lắm, ông Ty mới cự lại ông Hoành. Đại thể là: “Anh đừng nói quá… tôi đâu muốn thế… chỉ láy nữa là xong thôi…”.
Ông Hoành hay “hiếp đáp” ông Ty như vậy nhưng lại rất thương và tôn trọng ông Ty. Ông Ty biết thế nên chẳng bao giờ chấp nhặt. Đức tính đó càng tôn ông Ty lên cao. Đại đội phó Vân là người thủ phận, tránh va chạm với ba người kia trong ban chỉ huy. Mà trình độ cũng chỉ đến thế, không làm sao “phát sáng” như ông Vinh được. Ngày gần đi Nam, anh được trên điều về C.17, nhưng đã nhanh chóng hoà nhập được với đại đội. Có chuyện nực cười là nốt nhạc bẻ đôi không biết nhưng anh được phân công vác cây đàn ghita trầy trụa, sai dây, do hành quân lâu ngày, chẳng ai sờ tới, y như cái của nợ, khi vào rừng Trường Sơn độ một tháng, anh quẳng nó từ lúc nào cũng chẳng ai biết nữa. Tuy vậy trong cuộc hành quân vĩ đại này, anh có một vai trò đặc biệt quan trọng của cấp phó là “bao đuôi đội hình đại đội".
Tính từ khi xuất phát hành quân vào Nam cho tới làng Ho, C.17 coi như chưa có gì sứt mẻ đáng kể so với toàn Đoàn 308 kéo dài như rồng rắn trên đường dây, mà lai rai đơn vị nào cũng có người “đi B ngược” hay còn gọi hài hước là “bê quay”. Chỉ có một trường hợp duy nhất là H, chiến sĩ trung đội 1 biến mất ở quãng Hà Tĩnh. Đại đội đã cho người quay lại một ngày đường nhưng không tìm được anh ta. Chính trị viên Hoành đành rút tập giấy thông báo đào ngũ “lưu không” ra, viết tên tuổi, quê quán… gửi về địa phương. Có lẽ không còn biện pháp nào tối ưu trong hoàn cảnh này. Những “thất thoát” này cấp trên đã trù liệu nhưng rơi vào C.17 là quá sớm, gây một cú sốc cho cả đơn vị khi đã vào cuộc ngon trớn.
Nhưng có một trường hợp nghiêm trọng nhất đối với đại đội 17 lại thời điểm hết sức quan trọng là đơn vị nhận lệnh đi B vào tháng 1 năm 1966. Lúc đó trung đoàn đang đóng quân dã ngoại ở Hưng Yên. Chúng tôi đinh ninh sẽ sinh hoạt, tập luyện ổn định ở đây một thời gian dài thì tự nhiên đảo lộn tất cả. Trung đoàn 52 được lệnh vào Nam chiến đấu. Đang trong không khí phấn khởi chộn rộn chuẩn bị đón tết với đồng bào địa phương, tin ấy làm mọi người chưng hửng. Đơn vị phổ biến nhiệm vụ tối mật và cho tất cả về nhà ăn tết với gia đình. Sau tết tập trung đúng giờ ở địa điểm quy định để đến vị trí bí mật rèn luyện thể lực và làm công chuẩn bị trước khi vào Nam. Nhưng đầu tháng giêng âm lịch, khi cán bộ chiến sĩ đã tề tựu đông đủ ở Kim Bôi-Hạ Bì làm lán trại tập căn cứ rèn luyện chuẩn bị đi B giữa vùng núi đá nhấp nhô thì thiếu hạ sĩ Ch, đảng viên. Sự chậm trễ này không thể chấp nhận, vì Ch. Là đảng viên, một trong những trụ cột của đơn vị, đáng lý phải có mặt trả phép sớm nhất. Cả đại đội hơn 120 người, chi bộ có mười đảng viên. Anh thuộc dạng hiếm hoi, lính trơn như tôi còn lâu mới được thế.
Mấy hôm sau tôi nghe chính trị viên Hoành nói với ông Ty là Ch. Đào ngũ vì sợ phải vào Nam chiến đấu. Chúng tôi ai cũng ngạc nhiên đến mức không tin được. Đơn vị cử cán bộ về quê Ch. tìm hiểu vấn đề và kiên quyết đưa anh trở lại đại đội. Nhưng khi đến nhà, anh ta trốn trong buồng. Bên ngoài, cán bộ thuyết phục gia đình. Vợ Ch. nói ngay thật:
-Tôi cũng khuyên anh ấy cứ đi với anh em vào Nam, nhưng anh nhất định bỏ đơn vị. Mẹ tôi cũng giảng giải rằng: đánh nhau có chết chóc nhưng không phải ai cũng chết hết, nhưng anh ấy vẫn nhất quyết không chịu đi.
Ý định trốn ngũ của Ch. để khỏi đi Nam đã rõ. Anh ta tìm mọi cách để trì néo với đơn vị và chính quyền. Vì thế, tổ cán bộ đi giải quyết việc của Ch. trở về tay không. Chuyện đi “thuyết khách” đối với người đảng viên, ban chỉ huy đại đội không đặt thành vấn đề nữa và báo cáo lên Đảng uỷ trung đoàn xin ý kiến xử lý. Đêm đó nằm trong lán tôi lén nghe chi bộ họp quyết định xoá tên Ch. trong danh sách đảng viên.
Tôi nghe lạnh người và thao thức suy nghĩ về quyết định ấy, giống như bản án đối với con người hèn nhát. Là đảng viên sao anh ta tồi tệ thế! Là người thanh niên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc, trong khí thế cả nước lên đường đánh Mỹ, mới nghe nói đi Nam chiến đấu mà bỏ trốn về nhà thì còn mặt mũi nào nhìn bà con chòm xóm, bạn bề. Chuyện một đảng viên đào ngũ, khi ấy nghe hoang đường như lại là chuyện có thật xảy ra ở C.17 Quyết thắng. Ông Hoành cay đắng không tả được. Hình ảnh bạc nhược đớn hèn của Ch. đối nghịch lạ những câu thơ “nằm lòng” của chúng tôi lúc đó:
Là mặt trời toả sáng nhuộm đời xuân
.
Ngoài trường hợp đào ngũ của Ch. tiếp theo là hai trường hợp rơi rụng sớm nhất là Tuỳ và Mạc, khi đơn vị đến địa phận Quảng Bình, gần hết đường dây miền Bắc. Một cậu bị lên bướu cổ sưng tấy trông rất sợ. Cậu kia cơ thể suy nhược, người còm nhom như ông cụ. Cả hai đều quyết tâm đi giải phóng nhưng “lực bất tòng tâm” đành phải lưu luyến chia tay đồng đội đang lúc tràn đầy khí thế hành quân… Lúc này Đoàn 308 đã đi được một chặng dài và bắt đầu đối diện với đồi núi phía tây Quảng Bình.
Hai người đều có giấy chứng nhận trở lại đơn vị. Ai cũng tiếc cho hai chàng trai trẻ bỏ dở cuộc hành trình ngay ở chặng đầu.
Đây mới chỉ là khúc dạo đầu về sự hao hụt quân số. Đúng là khi còn dễ dàng sung mãn mọi thứ, nhất là sức khoẻ, ít ai nghĩ đến những “biến cố” phức tạp về sau. Bệnh thành tích, thiếu tôn trọng thực tế khách quan bước đầu có đất dụng võ. Hậu quả của sự thiếu tư duy khoa học đã phải trả giá đắt bằng sinh mạng nhiều cán bộ chiến sĩ, chứ không phải khuyết điểm chung chung.
Tất cả vẫn háo hức tiến về phía trước với một ý chí sắt đá trong một khối tổ chức chặt chẽ từ đầu đến cuối đội hình. Công tác động viên chính trị kịp thời cùng với sự cung ứng vật chất dọc đường làm tăng thêm sức mạn của đoàn quân. Đêm đi, ngày nghỉ. Bước chân người lính rầm rập trên con đường bí mật phía tây Tổ quốc.
Giai đoạn này được coi như thử nghiệm rèn luyện sức dẻo dai bền bỉ và bồi dưỡng thể lực chuẩn bị cho giai đoạn vượt núi băng rừng đầy thử thách cam go phía trước, mặc dù chưa ai hình dung đường đi sẽ ra sao, chỉ mường tượng rằng nó sẽ rất khó khăn nhưng không thể khuất phục được sức trẻ, khuất phục được trung đoàn. Theo chủ nhiệm chính trị trung đoàn thì “đường Trường Sơn cũng giống như đường đồi núi Hoà Bình mà các đồng chí đã thực tập rèn luyện năm ngoái. Đi bộ ba tháng là ta đến chiến trường miền Nam…”. Nghe thế mọi người đều yên tâm và thích thú, mong được thử sức với khó khăn. Đối với lính trẻ thì ba tháng trời có đáng là bao…
Một tháng hành quân trên đường miền Bắc tương đối bằng phẳng lại hầu hết đi qua các làng, bản có các trạm tiếp tế dọc hành lang, coi như chưa có gì để thử thách đối với Đoàn 308. Tuy nhiên vì là hành quân “thực binh” mang vác nặng đầy đủ vũ khí, quân trang quân dụng thì không thể không gian khổ. Một ngày đi khoảng 25 đến 30 kilômét. Lính ta mướt mồ hôi, vai rêm, người đau nhừ. Ai nấy lòng bàn chân dộp phòng lên, mọng nước, phải xỏ sợi chỉ qua chỗ mọng cho nó xẹp đi, hôm sau mới hành quân được. Mỗi sáng mai ngủ dậy nghe mình mẩy đau nhức, đi đứng khó khăn, nhưng khi mang ba lô hành quân một quãng thì đâu lại vào đó, bước đi bình thường, giống như cầu thủ bóng đá, khi ra sân là quên mọi đau đớn chấn thương.
Đây là một tháng đầy ắp kỷ niệm về tình quân dân, bộ đội được tiếp xúc với những phong cảnh thiên nhiên đầy mới lạ. Để giữ bí mật chúng tôi hầu như chỉ đi ban đêm, vì địch đang tập trung theo dõi các sư đoàn miền Bắc di chuyển về phía Nam. Mỗi chiều, khi hoàng hôn xuống, mọi người hành lý gọn gàng ra trục đường nối ráp vào đội hình theo một mệnh lệnh thống nhất và xuất phát. Chỉ một lúc đã chìm trong bóng tối. Thỉnh thoảng đoàn mới rời các bản hẻo lánh vào lúc còn mặt trời. Mỗi lần như thế, chúng tôi bâng khuâng từ giã một xóm làng xa lạ chưa kịp thân quen. Chưa bao giờ người lính lại có nhiều cuộc chia tay như trên con đường không số này.


