TRÊN ĐƯỜNG 5, HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN RÁO RIẾT CHUYỂN SANG THỜI CHIẾN
TRÊN ĐƯỜNG 5, HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN RÁO RIẾT CHUYỂN SANG THỜI CHIẾN
Hồi đó, tôi đang làm Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Yên Mỹ, thuộc tỉnh Hưng Yên (cách Hải Phòng 80 km) đã sớm nhận được chỉ thị cấp trẽn phải nhanh chóng, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc.
1- Động viên toàn dân, mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi tôn giáo, mọi già trẻ, gái trai hiểu rõ là thực dân Pháp mới được trở ra miền Bác, theo hiệp ước ký ngày 6-3-1946 đã thực sự có âm mưu xâm lược lần thứ 2 đất nước Việt Nam. Sự kiện Hải Phòng đang xảy ra sẽ là bước tiếp theo tất yếu của âm mưu đó.
Để đối phó lại, ta phải nhất tề đứng dậy chống thực dân Pháp xâm lược, ta phải tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện và lâu dài chống thực dân Pháp cho đến thắng lợi cuối cùng. Cuộc kháng chiến sẽ chia làm 3 giai đoạn: phòng ngự, cầm cự và phản công.
2- Thiết lập Ủy ban bảo vệ các cấp từ tỉnh, thành phố, huyện và khu phố, tới cấp xã, tức là cơ quan kháng chiến tại các địa phương, chuyên lo đảm bảo các mặt kháng chiến về chỉ đạo quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội chống lại thực dân Pháp. Hải Phòng, bắt đầu từ ngày 20-11-1946, ngày mở đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, đã xuất hiện Ủy ban bảo vệ thành phố Hải Phòng do đồng chí Đinh Thịnh làm chủ tịch. Ủy ban bảo vệ thành phố tồn tại song hành với Ủy ban hành chính thành phố lúc đó do đồng chí Vũ Quốc Uy làm Chủ tịch. 3 tháng sau khi kháng chiến bùng nổ 19-12-1946, Ủy ban bảo vệ lại được tổ chức hợp nhất với Ủy ban hành chính gọi là Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính tỉnh, huyện, xã, về sau lại bỏ chữ kiêm, gọi là Ủy ban kháng chiến - hành chính tỉnh (huyện, xã...), ở giữa chữ kháng chiến và hành chính có gạch ngang giữa. Ủy ban kháng chiến - hành chính sẽ tồn tại trong suốt quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây là một cơ quan quyền lực của Nhà nước, vừa đảm bảo tính nguyện vọng của toàn dân muốn đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng, vừa đảm bảo tính pháp lý, phản ánh quyền lực mọi mặt về chính trị, xã hội đối với toàn dân.
Ủy ban bảo vệ huyện Yên Mỹ phải thực hiện gấp rút một số việc sau đây:
a) Đưa mọi hoạt động của huyện từ thời bình sang thời chiến, đưa các hoạt động của toàn dân, cái nào xét ra không có lợi cho kháng chiến thì kiên quyết phế bỏ, không thương tiếc.
b) Nhanh chóng, gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang của huyện và xã. Hồi đó, ở cấp huyện không tổ chức lực lượng vũ trang, chì có 6 đến 10 chiến sĩ được gọi là cảnh vệ, được tổ chức ra để bảo vệ doanh trại, trụ sở của Ủy ban hành chính huyện hoặc phải về các xã làm mọi công việc của huyện, thì nay được điều về tỉnh để xây dựng các đơn vị võ trang của tỉnh sau này được mệnh danh là đại đội Hoàng Văn Thụ (C22 hoặc C92), đại đội Thanh Bình (C14), đại đội Lâm Kim Lương (C20), đại đội Vũ Hổ (C27). Do đó, với ý nghĩa cấp huyện cần phải tự xây dựng lực lượng vũ trang của mình để bảo vệ cấp huyện và cấp xã, nên lại tổ chức một đơn vị nhỏ gọi là trung đội tự vệ tập trung huyện, kinh phí không do nhà nước cấp phát, mà do huyện tự lo phân bổ về các xã vận động nhân dân tự nguyện tham gia đóng góp. Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, vào tháng 3-1947, Chính phủ và Bộ Quốc phòng mới quyết định chính thức đường lối xây dựng lực lượng vũ trang cả nước. Đó là toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt, gồm 3 thứ quân là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, và mới có thể chế bộ đội địa phương; lúc đó lực lượng du kích tập trung lại thành lập bộ đội địa phương cấp huyện. Tại huyện Yên Mỹ, khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, hồi đầu năm 1947, giặc Pháp triển khai đánh chiếm đường số 5 để nối thành phố Hải Phòng với Hà Nội, huyện chỉ có trung đội du kích tập trung nhưng đã lên chiến đấu ở cầu Gềnh (Như Quỳnh) bảo vệ đường số 5. Sau đó mới chuyển phiên hiệu là bộ đội địa phương và Đại đội 110 (Đại đội Bãi Sậy) chiến đấu gian khổ, kiên trì bám trụ trên địa bàn huyện cho đến khi kết thúc chiến tranh.
Xây dựng lực lượng vũ trang xã lấy tến là lực lượng tự vệ ở xã, thôn (danh từ dân quân du kích chỉ mới xuất hiện và được chính thức sử dụng từ tháng 3-1947, sau mấy tháng toàn quốc kháng chiến). Mỗi xã có từ một tiểu đội đến trung đôi trang bị rất nghèo nàn, anh em chỉ được rèn các loại ma tấu giáo mác, dao găm, họa hoằn xã có phái người xuống Hải Phòng mua một vài khẩu súng trường do Tàu Tưởng rút ở trong kho dự trữ hoặc tước được của quân Nhật mà có. Nhưng đến khi xảy ra “sự kiện Hải Phòng" ngày 20-11-1946 thì nguồn đó không còn nữa nên chỉ còn cách là đi thu nhặt các quả bom mìn bị thối đem về chế tạo các loại mìn tự tạo hoặc nhồi kíp các vỏ đạn cũ thành những, đạn mới cho súng; trường đang rất thiếu đạn. Nhưng, thực tế các loại bom mìn, đạn tự tạo tuy còn có tác dụng nhưng hiệu quả rất kém.
Cán bộ xã, lực lượng vũ trang lại được chỉ thị và hướng dẫn làm hầm bí mật để đảm bảo việc bám dân, bám đất, bám cơ sở, thực hiện kháng chiến lâu dài. Việc đào hầm bí mật đã được phổ biến cho các xã thực hiện thành phong trào, không làm theo một mẫu hình duy nhất mà theo từng xã, thôn, theo địa hình cự thể từng nơi xây dựng nên. Kết quả hầm bí mật có tác dụng duy trì được tiềm lực kháng chiến cho đến khi kết thúc chiến tranh. Nhưng cũng không tránh khỏi một số nơi lực lượng ta bị tổn thất về cán bộ kháng chiến và lực lượng bộ đội, du kích do địch đã càn vào làng, tiến hành móc hầm hoặc do có chỉ điểm, mật thám, làm thiệt hại lực lượng chiến đấu của ta.


