TRÊN VAI ÔNG LÀ TỔ QUỐC
Mỗi thế hệ đều có những câu chuyện riêng để nhớ về và tự hào, còn với tôi, những câu chuyện ý nghĩa nhất lại bắt đầu từ chính người ông thân yêu của mình. Trong ký ức tuổi thơ của tôi, ông không chỉ là người luôn đồng hành và hiện diện trong những năm tháng đầu đời, mà còn là một cựu chiến binh từng đi qua những năm tháng kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ. Với tôi, ông là một nhân chứng sống của lịch sử, là hiện thân của ý chí kiên cường, lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước bất khuất của một thế
Mỗi thế hệ đều có những câu chuyện riêng để nhớ về và tự hào, còn với tôi, những câu chuyện ý nghĩa nhất lại bắt đầu từ chính người ông thân yêu của mình. Trong ký ức tuổi thơ của tôi, ông không chỉ là người luôn đồng hành và hiện diện trong những năm tháng đầu đời, mà còn là một cựu chiến binh từng đi qua những năm tháng kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ. Với tôi, ông là một nhân chứng sống của lịch sử, là hiện thân của ý chí kiên cường, lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước bất khuất của một thế hệ “thời hoa lửa”. Những câu chuyện ông kể đã khiến tôi phần nào hiểu hơn về một thời kỳ hào hùng của dân tộc và hơn hết giúp khơi dậy ở tôi một tinh thần yêu nước nồng nàn.
Ông nội tôi tên thật là Huỳnh Đức Thẩm, là một trong những cựu chiến binh đã tham gia vào cuộc khánh chiến chống Mỹ khi xưa. Ông tôi bắt đầu tham gia bộ đội vào năm 1963, tức khi ấy ông chỉ mới 14 tuổi – cái độ tuổi mà tôi ngày trước tôi được sống trong bình yên, còn ông ngày ấy đã phải đi qua khói lửa chiến tranh, cái độ tuổi mà đáng lẽ chỉ nên có những ước mơ hồn nhiên và tiếng cười của tuổi thơ, nhưng ông đã sớm gác lại tất cả để bước vào những năm tháng chiến đấu vì Tổ quốc.

Ông kể cho tôi nghe nhiều chuyện ở thời chiến lắm, mỗi câu chuyện là một hành trình riêng, nhưng tất cả đều được soi sáng chung bởi một lý tưởng cao đẹp đó là: cống hiến và bảo vệ Tổ quốc. Ông thường nói: “Chiến tranh ngày xưa cực khổ lắm cháu ơi. Muốn ăn một hạt gạo, có khi phải đánh đổi bằng máu và nước mắt của biết bao người.” Mỗi lần nhắc lại, ánh mắt ông lại xa xăm như đang nhìn về những tháng năm bom đạn. Những câu chuyện ông kể không chỉ là ký ức về đói khát, gian lao, mà còn là sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ đã sống, đã chiến đấu và ngã xuống để đổi lấy hòa bình hôm nay. Ông bảo với tôi rằng để di chuyển từng bao gạo đến căn cứ của quân ta, ông và mọi người khi ấy như đi trên than lửa, như đứng trước cửa tử. Bởi lẽ, nơi đâu cũng có dấu chân của địch, chúng lập đồn bốt khắp nơi, canh trừng từng đường đi nước bước của người dân, nếu sơ sảy có thể bị chúng bắt giết bất cứ lúc nào.
Ông nói khi ấy trong đoàn có tổng 11 người, đi từ trên núi băng qua biết bao cánh đồng rồi xuống đồng bằng để chở gạo trở về nuôi quân. Vào một buổi sáng như thường ông cùng đồng đội chở gạo xuống núi nhưng chẳng may lại gặp lính nguỵ, chúng ép bắn chết 6 người đòi quân ta bỏ gạo chở về. May sau khi ấy ông và đồng đội đã nhanh chân bỏ chạy, vừa trốn lính nguỵ vừa gồng mình vác bao gạo nặng hơn 30kg. Dẫu mệt đến rã rời, đôi chân như không còn sức để bước tiếp, ông và đồng đội vẫn quyết tâm bằng mọi giá đưa số gạo ấy đến căn cứ của quân ta vì ông biết trên vai mình lúc đó không chỉ là những bao lương thực nặng trĩu, mà còn là sự sống, là niềm hy vọng và sức mạnh để đồng đội tiếp tục bám trụ nơi chiến trường khốc liệt.
Lúc ấy, ông cùng đồng đội vác những bao gạo chạy thẳng qua sông Trường Định, theo lời ông kể con sông ấy rộng và dài lắm phía trên còn có máy bay của địch, không còn cách nào khác ông và đồng đội đành giấu những bao gạo vào các bụi cây rồi lặng xuống phía dưới sông chịu đựng cái lạnh đến buốt da của dòng nước. Đến khi máy bay của địch đi ông mới dám ngoi lên bờ, lấy gạo rồi nhanh chân chở đến đơn vị để tiếp tế cho các anh chiến sĩ. Ông bảo chính những bao gạo khi ấy là thứ giúp cung cấp nguồn năng lượng trực tiếp cho các chiến sĩ hành quân xa, bám trụ địa bàn và tham gia các chiến dịch lớn.
Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, một bao gạo đến được căn cứ không chỉ là nguồn lương thực quý giá mà còn là nguồn động viên to lớn, tiếp thêm ý chí và nghị lực cho các chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Bao gạo tiếp tế trong thời chiến còn mang ý nghĩa của niềm tin, hy vọng và sức mạnh tinh thần. Mỗi hạt gạo là kết tinh của mồ hôi người dân nơi hậu phương, là thành quả của những chuyến vận chuyển đầy gian khổ và hiểm nguy. Đối với người lính, những bao gạo khi ấy đồng nghĩa với sự sống, giúp họ có đủ sức khỏe để tiếp tục chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ.
Khi ấy trên vai ông không còn là bao gạo mà “ trên vai ông là Tổ quốc”, là một hạt gạo cho đến một mùa xuân. Ông nói với tôi đây chỉ là một câu chuyện nhỏ trong hơn cả trăm câu chuyện thời chiến. Ấy vậy mà dẫu có nhỏ bé nhưng nó vẫn như một vết nhám bám lấy ký ức của ông tôi, khiến cho ông mỗi khi nhắc lại đều ngậm ngùi chua xót, thương thay những anh chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, hơn hết là thương cho chính bản thân ông đã dũng cảm đi qua một “ thời hoa lửa “ đầy đau thương. Dấu vết của chiến tranh vẫn còn đó, vẫn in sâu trong tâm trí của ông, những trận đòn roi của địch tra tấn khi bắt ép ông khai báo thông tin tuyệt mật đã để lại di chứng đến tận ngày nay. Kết thúc chiến tranh, đất nước thống nhất, ông tôi quay về làm một người nông dân với cuộc sống bình dị. Ngày tháng hoà bình đã giúp ông vơi đi nỗi đau chiến tranh, thường ngày ông vẫn ngồi trên chiếc xe lăn đã cũ, đi tới đi lui trong căn nhà của mình, ngắm nhìn cây trái đơm bông, ngắm nhìn cả một đất nước ông đã dốc lòng bảo vệ trong suốt những năm tháng tuổi trẻ.
Ông tôi luôn bảo rằng : “ để có được hoà bình như hôm nay, ông cùng những người đồng đội và tất cả các chiến sĩ đã chiến đấu không ngừng nghỉ, bảo vệ từng tất đất quê hương, thậm chí là đánh đổi cả mạng sống để đổi lấy hai chữ hoà bình. Vì thế, các thế hệ sau phải biết giữ lấy và tiếp tục dựng xây đất nước “. Lời dặn dò của ông luôn ghim sâu trong đầu tôi, giúp tôi nhận thức được trách nhiệm của một thế hệ trẻ rằng : sống xứng đáng với công lao của cha anh, có trách nhiệm hơn trong việc dựng xây Tổ quốc, học tập và noi gương những người đi trước để có thể tiếp tục gìn giữ “ hoà bình “.



