Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TRÍCH HỒI KÝ ĐIỆN BIÊN PHỦ

Đoạn hồi ký là một bản anh hùng ca chân thực và đầy góc cạnh về trận chiến đồi A1 – nơi được coi là "điểm hẹn" ác liệt nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ qua góc nhìn của người chỉ huy Tiểu đoàn 251 (Trung đoàn 174). Từ những ngày đầu "mưa dầm cơm vắt", vượt qua cơn sốt rét hành hạ và những đợt trinh sát nghẹt thở sát hàng rào dây thép gai, tác giả đã tái hiện sống động sự chuyển mình từ chiến thuật "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc" đầy mưu lược. Trận đánh không chỉ có mùi thuốc

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi muốn tả lại trận đồi A1 Điện Biên Phủ, trận đánh dài ngày nhất, ác liệt nhất của chiến dịch Điện Biên. Nhà văn Hữu Mai đã khai thác kỹ lưỡng trí nhớ của tôi hồi năm 1962-1963 để viết tiểu thuyết Cao điểm cuối cùng. Tiểu đoàn trưởng trong cao điểm cuối cùng là tôi, cộng với những chi tiết hư cấu cần thiết của Hữu Mai để nêu lên một phần cái bản chất giai cấp tiểu tư sản.

Song, trận A1 Điện Biên Phủ không đơn giản như vậy. Trận A1 kéo dài từ tối 30/3/1954 và kết thúc 14h30’ ngày 7-5-1954.

Sau khi tiêu diệt Mường Pồn ngày 12-12-1953, chôn cất Bế Văn Đàn tại bản Lìn xong, tiểu đoàn 251 trung đoàn 174 truy kích tàn quân Thái đến Sốp Nhôm, Huổi Mét, quay về Điện Biên. Đại đoàn 312 đến vùng Điện Biên vào cuối tháng 12 năm 1953, chịu trách nhiệm phía bắc đông-bắc, tiểu đoàn 251 quặt xuống phía đông-nam, chuẩn bị tiêu diệt đồi A1 để cho trung đoàn 102 thọc sâu vào trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên. Toàn bộ trận Điện Biên dự kiến hai đến ba ngày là xong. Sau khi truy kích đám tàn quân Thái, tôi bị sốt rét ác liệt hành hạ hơn nửa tháng nên hôm tiếp nhận trận địa tôi lảo đảo đi theo tiểu đoàn. Vừa đến bìa rừng, ngước nhìn đồi A1 mục tiêu của tiểu đoàn, trông mờ mờ thấy ngọn đồi cũng không cao hơn Nà Xi2 bao nhiêu, tôi thấy an tâm, nghĩ rằng tiểu đoàn sẽ chiếm gọn thôi bởi tiểu đoàn Bông Lau - Lũng Phầy này có thua ai. 17giờ 15’ ngày 25/1/1954 có lệnh hoãn tiến công, tiểu đoàn phải rút trước khi trời hửng sáng. Đại đoàn trưởng Lê Quảng Ba chặn tôi giữa con đường kéo pháo qua Pu Hồng Mèo, giải thích:

- Phải chuẩn bị chu đáo, đánh chắc, tiến chắc theo lệnh anh Văn. Vừa nói xong, ông lại hét tướng:

- Có nhanh lên không, trời sáng bạch rồi!

Thật may được hoãn đánh, tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm mới phòng ngự mà chỉ trinh sát ở cấp đại đoàn và trung đoàn thì thật là chủ quan phiêu lưu. Quay lại cánh rừng già tập kết cách đây hai ngày, chính uỷ đại đoàn Chu Huy Mân trao cho tiểu đoàn, cho đại đội trưởng Hồng Tân và tôi 3 chiếc huân chương khen thưởng trận Mường Pồn và thông báo truy tặng Bế Văn Đàn Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Cuộc trinh sát chính thức được thực hiện sau đó một tuần. Anh Nguyễn Hữu An trung đoàn trưởng cùng hai tiểu đoàn trưởng khác là Nguyễn Đôn Tự, Vũ Đình Hoè và tôi đến một bờ ruộng bậc thang cách cứ điểm chừng vài trăm mét chỉ mới thấy A1 đen xịt, dài dài, hơi cao cao, bị chắn về phía nam bởi một đồi thấp hơn cháy trụi gọi là đồi Cháy. Trung đoàn trưởng chỉ cho Hoè tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 hướng đột phá, hướng hai mũi bộc phá của hai đại đội. Anh quyết định giao cho tiểu đoàn tôi tiêu diệt cứ điểm A3 nằm ở đuôi phía nam A1 dọc theo đường 41 nối A1 Điện Biên với Hồng Cúm - Tây Trang; A3 mà bị tiêu diệt thì riêng anh Hoè cũng đủ “xơi tái” A1 rồi. Chúng tôi đang giương mắt ra định hướng và kiếm vật chuẩn thì bỗng nghe tiếng chân chạy qua các bụi cây, tiếp theo một loạt tiểu liên đanh, mấy tiếng nói nhỏ: “rút, rút” sau một câu tiếng Tây: “Oh la là Việt Minh”; Thế là chẳng ai bảo ai, chúng tôi vội bò lui, bò lui cho đến khi chạm vào một bờ ruộng, mọi người lăn qua để tránh đạn, nằm thở rồi tiếp tục quan sát trong tiếng tim đập thình thịch. Lộ rồi! Tôi nằm nhìn A3 chỉ thấy một vệt đen mờ mờ... Với tiểu đoàn tôi thì chỉ cần cho hai mũi chọc thẳng vào sườn là xong.

Cuộc họp đảng uỷ trung đoàn mở rộng đến các tiểu đoàn trưởng và cơ quan trung đoàn diễn ra sôi động. Chính uỷ Mân cũng tham dự. Nội dung xoay quanh đánh A1 bằng một tiểu đoàn - một mũi hay là hai tiểu đoàn - hai mũi? Bất phân thắng bại. Tôi thì bàng quang, vì tiểu đoàn tôi có đánh A1 đâu. Trong đầu tôi đang suy nghĩ về cách tiêu diệt A3. Kể cũng thích, một mình tiêu diệt một cứ điểm chẳng có ai chỉ huy “đè đầu” mình... Tha hồ tự do muốn đánh sao là quyền mình, chỉ cần đúng thời gian nổ súng là được. Cuộc họp xem ra bế tắc, Đảng uỷ chịu không biểu quyết được. Bỗng chính uỷ đại đoàn vỗ vai tôi.

- Cậu có thích đánh A1 không?

- Có.

- Thế đánh nhé! Thì ra ông bắt đầu khoái tôi sau trận Mường Pồn, đánh nhanh đến mức không biết tiểu đoàn 1 đã diệt xong Mường Pồn, ung dung có mặt trên đường Lai Châu

- Điện Biên ngay đêm 20-12-1953 theo đúng lệnh anh Văn đã cắt đứt đường rút của quân Lai Châu về tăng cường cho Điện Biên. Hội nghị quyết định: theo ý kiến của anh Mân, tiêu diệt A1 bằng hai tiểu đoàn 9 và 1, tiểu đoàn 5 của anh Đôn Tự chỉ làm dự bị. Tôi nghĩ dự bị cho nó vui để thể hiện là có hai thê đội, chứ A1 mùi mẽ gì!

Đã chuẩn bị xong, quyết định vị trí quả bộc phá đầu tiên hướng đúng vào lô cốt Đông Nam, nơi đánh chiếm đầu cầu, chỗ đặt hai đại liên, bốn trung liên, bốn cối 60 ly bắn đạn 120 Trung Quốc có chuôi cũng được quyết định. Vị trí chỉ huy là một hàm ếch cách lô cốt đầu cầu áng chừng 100m, dựa vào chân đồi Cháy - quả đồi có thể giúp khống chế A1 từ phía đông nam. Việc trinh sát cũng đã chỉ ra hướng phát triển của trận đánh. Mục tiêu cuối cùng phân cho tiểu đoàn tôi là hầm thông tin chỉ huy.

Tôi và các đại đội trưởng rỉ tai nhau bên ngoài hàng rào cuối cùng của A1: Ngon rồi! Về thôi.

Tất cả chúng tôi, những cán bộ chỉ huy tiểu đoàn, đại đội, đều yên tâm quay về. Việc bây giờ chỉ còn là động viên tinh thần quyết chiến của bộ đội - nhiệm vụ của các ông chính trị viên. Thế là ăn đứt.

Chúng tôi đã làm xong giao thông hào suốt từ vị trí tập kết cách cụm cứ điểm phía đông Điện Biên chừng ba đến năm ki lô mét đến tận chân các cứ điểm. Ở A1, giao thông hào chạy đến chân đồi Cháy, có nơi đến đến suối Pom Loi.

Tiểu đoàn tôi hào hứng xuất phát giữa ban ngày trong giao thông hào sâu trên ngực. Lúc đó là 16 giờ ngày 30-3-1954. Trời trong vắt không một gợn mây, ra khỏi bìa rừng rẽ phía bản Ten rồi ngược lên phía đông bắc. Đâu đó đường đạn pháo 105 ly của các tiểu đoàn bạn Hồ Đệ, Trung Kiên và Phúc Râu đang vi vu chi viện. Tuyệt thật, lần đầu tiên chiến đấu hợp đồng binh chủng có pháo cầu vồng; mặc cho máy bay Hen-cát (Hellcat), Spít-phai (Spitfire) và cả B26 gầm rú, tiểu đoàn tôi đàng hoàng tự tin theo giao thông hào tiến về hướng A1, có cả liên lạc điện đàm 2 oát. Cậu liên lạc viên bảo tôi:

- Báo cáo, không thấy lệnh gì từ trung đoàn.

- Liên lạc thẳng với đại đoàn.

- Dạ không nghe tín hiệu.

Trời còn sáng rực, đồng hồ chỉ 17 giờ. Bên phải tôi phía xa chừng năm trăm mét, quân trung đoàn 98 của anh Vũ Lăng vừa đi vừa chạy về phía chân đồi A1. Thôi chậm mất rồi! Đánh chác mà không hợp đồng đúng thì chết mất. Quả nhiên chỉ vài phút sau, hàng loạt pháo 105 không biết từ đâu dội xuống giao thông hào, không ai thương vong, nhưng vẫn mất liên lạc với trên. Tôi len lên đầu tiểu đoàn, đã có chiến sỹ ngồi thụp xuống, tôi không nhìn rõ ai, vội đạp bừa lên trước. Gặp Hồng Tân “Sẹo” đại đội trưởng 671, tôi thấy nhẹ cả người. Hồng Tân vẫn đứng dựa vào giao thông hào cười toét mồm:

- Này, ban chỉ huy, đánh chứ?

- Dứt khoát đánh!

Trận mạc gay go, gặp một đồng đội vững như bàn thạch, “vô tư” như Hồng Tân quả là may mắn: đại đội trưởng chưa hết chiến dịch đã có bảy huân chương trên ngực, thuộc quyền mình lại có tiểu đội trưởng bộc phá Nông Văn Voòng cũng có bảy huân chương thì làm sao mà không đánh được. Nhưng, chỉ huy các cán bộ đó mà trên mặt anh thoáng hiện nét băn khoăn thì gay go với họ ngay. Tôi hỏi điện đài 2 oát có điện báo gì không? vẫn không nghe thấy gì...

Tôi nhìn A1 qua khói mù đen kịt, trời tối dần rồi tối hẳn. Cả tiểu đoàn vẫn tiến nhanh. Tôi quát: "Cứ vào bộc phá, nhanh lên! trợ chiến lên mau!" Rồi phang vào mông đại đội trưởng trợ chiến một gậy (cái gậy ngắn tôi mang theo). Trước mắt chỉ còn một đống đen ngòm, thỉnh thoảng loé lên ánh sáng vàng quạnh của đạn 105 và tiếng cối 106 của địch nổ. Tiếng đạn nhỏ không còn nghe được nữa. Con suối cạn Pom Loi đã bị ngập nước do đạn cối, pháo đào xới lòng cạn. Tôi chỉ kịp thét: “Cẩn thận giữ nụ xoè! Đội bộc phá cối lên đầu!". Tiếng đại liên, trung liên của ta yểm hộ đột phá khẩu nổ ran. Đúng là tiểu đoàn Bông Lau - Lũng Phầy, không cần lệnh cụ thể họ đã tự động khai hoả như kế hoạch và tiếng bộc phá đầu tiên cũng đã nổ. Tôi nhìn đồng hồ Relide tự động: 19 giờ 30 phút! Vậy là trận A1 bắt đầu lúc 19giờ 30 ngày 30-3-1954. Liên lạc ấn tôi vào hầm với chính trị viên tiểu đoàn vì còn phải bảo vệ điện đài. Tôi bảo Hồng Tân: “Còn một hàng rào thì báo cáo”. Trong hầm ếch ngồi xổm sát vào nhau còn có hai liên lạc viên. Lúc này giá như Bế Văn Đàn còn sống, một cậu liên lạc đẹp trai xông xáo luôn mang cà mèn cơm nguội cho tôi! Ngoài miệng hầm ếch bấy giờ không thể gọi là tối được nữa: một màu vàng đục, đen, xám, màu đồng, màu đất sét, màu ba dan thật khó có hoạ sỹ nào lên được gam màu...

...Nóng ruột quá, muốn lên ngay nhưng còn đại đội thê đội hai. Tôi nhoài ra miệng hàm ếch, một tiếng ù tai, cổ đắng nghẹt. Có cái gì dựa vào tôi. "Ông Hợi (chính trị viên Lê Hợi) chuẩn bị lên nhé!" Không ai đáp lại. Người dựa vào tôi là liên lạc viên đã chết từ bao giờ. Tôi đẩy nhẹ ra một bên, thấy ớn lạnh cả người. Tôi quát vào tai Hợi:

- Lên chứ!

Cùng lúc vẳng lại tiếng báo cáo “hàng rào 6 xong”. Tôi chạy vụt lên đồi, loáng loáng đất đỏ xỉn quạch, nhiều xác chết không kịp nhớ mặt. Chạy vụt qua khẩu đại liên, tôi nhận ra Quyết đại đội phó dựa vào đại liên chỉ còn một chân, tay đang ôm lấy đầu gối còn lại. Trong ánh chớp pháo đạn, Quyết còn nhận ra tôi. Anh thì thào: "Báo cáo ban chỉ huy, tôi đã làm tròn nhiệm vụ".

Có ai đó níu lấy tay rồi kéo tôi trượt vào lô cốt đầu cầu:

- Hoan hô tiểu đoàn trưởng! - Thì ra là Hồng Tân đại đội trưởng 671.

- Báo cáo vừa diệt lô cốt xong... Phát triển hai mũi nhé...

- Được, tớ đi mũi trước tới hầm thông tin, cậu mũi dưới. Ta gặp nhau tại đó, nhớ nhảy cóc nhanh lên.

Chúng tôi, hai mũi thọc sâu hướng về phía nam đúng kế hoạch. Bắn, ném lựu đạn, nhẩy lên quan sát lại tụt xuống giao thông hào, cứ thế tôi đã lọt vào hầm thông tin. Giờ chỉ còn tiếng súng tiểu liên, đại liên của địch. Trợ chiến tiểu đoàn theo truyền thống đã rút sau khi đại đội 674 thuộc thê đội hai vào đột phá khẩu.

Sao im ắng lạ thường... một nỗi sợ hãi ùa vào tôi. Tôi chạy vụt ra khỏi hầm thông tin địch, mắt nhìn phía trước đen ngòm, sặc sụa hơi cối còn lại. Chẳng lẽ không còn ai xung quanh. Căng mắt nhìn kỹ, chỉ còn chính trị viên đại đội Đỗ Thân với hai, ba liên lạc, cùng trung đội trưởng Di và vài chiến sỹ nữa. Tôi hỏi:

- Hồng Tân đâu? Còn ai không?

Thương vong cả rồi!... Tôi bối rối thật sự. Không biết đã hạ được A1 chưa? Chẳng có ai chỉ huy, mất hẳn liên lạc với trên. Liên lạc viên 2 oát thì vẫn bám sát tôi.

- Cậu hỏi trung đoàn đi.

- Sóc Trăng đâu? Sóc Trăng đâu trả lời?

Vẫn im lặng hoàn toàn.

Tôi không có tài như tác giả của Cây Bạch dương để đặc tả nỗi lo sợ rùng rợn của Ozerov giữa cái im lặng của chiến trường. Chỉ nhớ lúc đó, tôi loay hoay không biết làm gì với cái A1 này khi chỉ còn mươi, mười lăm người. Không biết tiểu đoàn 9 của cậu Hoè bên phải tiến đến đâu? Nếu tiểu đoàn 9 đã vòng xuống phía nam diệt hết A1, thì nay mai mặt mũi mình sẽ ra sao? Đánh nhau mà thua bạn thì đáng xấu hổ. Phải tiếp tục đánh thôi.

Tôi thét: "Tất cả lên!", rồi tay súng lục, tay K50 lấy từ chiến sỹ đã hy sinh dưới chân, tôi mò mẫm chẳng ai yểm hộ, vừa tiến vừa ngần ngại, lại đâm sầm vào một hầm khác. Bấm đèn pin, tôi vọt lùi ra ngoài... có một đôi chân mang giầy săng đá thò ra dưới đống ba lô, điện đài. Tôi bắn đại một tràng tiểu liên rồi nhảy vào. Một tên lính lê dương da trắng cựa quậy thò đầu ra, nó nộp ngay một tiểu liên Mát hay Tuyn gì đó. Thật hoàn hồn sau giây phút bất ngờ.

Tôi tự ra lệnh giữ lô cốt này vì biết rằng có còn ai nữa đâu để thực hiện; nhìn quanh vẫn chỉ có chính trị viên Đỗ Thân và số anh em sống sót theo tôi. Dù sao cũng an tâm thấy sau lưng mình vẫn còn đồng đội.

Trong đời lính, ấm lưng là chuyện tối quan trọng. Con người dù sắt đá đến đâu, cũng cần hơi thở của người khác, huống chi lúc nguy nan, một hơi thở của đồng đội còn đáng giá nghìn lần các khẩu hiệu kêu nhất.

Tôi gần như kiệt sức. Không biết đã lấy được A1 chưa? Có nên tiến nữa hay không?... Còn phía tiểu đoàn 9 sao im bặt vậy!

Một loạt lựu đạn nổ tới tấp điếc hết tai. Có vật gì rơi xuống chân, tôi chống tay vọt lên giao thông hào theo bản năng rồi lại tụt xuống giao thông hào, biết mình đã bị mảnh lựu đạn dính vào mông, vào bẹn. Mặc. Có tiếng Tây hô “à la contre-attaque”1 lẫn tiếng lựu đạn nổ, tự nhiên tôi bật ra “Merde, cochon”2 rồi trả lời chúng bằng vài loạt tiểu liên trên miệng giao thông hào, bắn để doạ địch nhưng cũng để tự trấn an. Một mình giữ một lô cốt, trước mặt không rõ là cái gì, tối mịt mùng, chỉ có tiếng lựu đạn tiểu liên chát chúa. Rồi tiếng súng im bặt, sự căng thẳng đến tột độ; có cái gì đó như cái chết, như mối đe doạ lơ lửng sắp đến. Thà có tiếng súng và lựu đạn nổ, nguy hiểm đấy, nhưng còn hơn, nghĩa là còn có sự sống xung quanh. Bỗng đánh huỵch một cái, trước mặt tôi đại đội trưởng Hồng Tân xuất hiện, tiếng nói quen thân ấm lòng, tiếng nói thật là cứu cánh.

- Ban chỉ huy à, hai thùng lựu đạn Tây mở sẵn rồi đấy. Ban chỉ huy giữ bên này, tôi bên kia.

Nói xong Hồng Tân lại biến đi. Chính trị viên Đỗ Thân chẳng biết đến sau lưng tôi từ lúc nào:

- Tôi cũng ở bên kia nhé.

Hoá ra tôi đang giữ lô cốt phía trước, hai bên là đồng đội. Cái sống và cái chết kéo người ta lại gần nhau một cách tự nhiên nhưng đầy ý nghĩa. Còn đâu những việc đố kỵ tranh chấp địa vị uy tín thường ngày. Tay tôi sờ từng loại lựu đạn, tai lắng nghe phía trước, ngực đập thình thịch trong ức chế mà nghĩ đến câu: “vanitas vanitatum, omna vanitas”1 của Fenelon trong Điếu tang và “le moi est haϊsable”2 của Descartes. Chà! "Mẫu quốc" dạy sao mà giỏi vậy! Tiếng lựu đạn, cả đạn bazooka 90 và cối 81 nổ ù cả tai, hoa cả mắt. Giận điên người, tôi ném hết quả lựu đạn này đến quả lựu đạn khác, thầm nghĩ: Hồng Tân, nhất định phải đề nghị thưởng huân chương cho cậu.

Một loạt cối lại nổ tung toé, tiếng đanh và đặc, cổ họng đắng ngắt, mắt tôi giương lên đón một cuộc phản kích mới của bọn tây. Tôi cố hét to tiếp tục đánh, nhưng tiếng nói đã bị cối có hoá chất làm mất hẳn, nói không thành lời. Đồng hồ chỉ bốn rưỡi sáng. Đã qua hơn mười tiếng chiến đấu, người rã rời không còn ý nghĩ gì rõ rệt. Chỉ còn biết chịu trận cho tới cùng. Lúc này thì tôi biết rõ một điều: Đã thất bại không lấy được A1. A1 không phải “ngon ăn”, giỏi lắm thì cũng chỉ lấy lại được hai phần ba đồn. Rồi sẽ ăn nói sao đây? Hết quân rồi, rút hay không? Mình có quyền rút chứ, chẳng có ai chỉ huy cả, với lại đã chiếm hầm thông tin theo mục tiêu quy định rồi, mình không có lỗi. Nhưng, biết đâu đã có lệnh giữ, mà lệnh đó không đến được thì sao. Đầu óc tôi quay cuồng trong khi mắt vẫn xoáy vào phía trước xám xịt.

Tôi quyết định đi tìm tiểu đoàn 9 bên phía phải. Giao nhiệm vụ giữ các lô cốt vừa chiếm được cho Hồng Tân và Đỗ Thân, tôi men theo giao thông hào về phía đông, vấp ngã dúi dụi, lại đi, đầu óc tôi lộn xộn. Có tiếng người khá ồn ào trong một lô cốt rộng. May quá, gặp đúng anh Hoè tiểu đoặn trưởng tiểu đoàn 9. Tôi hỏi:

- Ở đâu thế này?

- Đột phá khẩu.

Tôi ngẩn người hỏi lại:

- Đột phá khẩu hả, sao lại ở đây?

Không một lời đáp, có lẽ anh em tiểu đoàn 9 cũng đang ở tâm trạng như tôi. Tôi bước ra ngoài đã mờ sáng, tự nhiên tôi trở lên tỉnh táo hẳn. Thế là nguyên nhân thất trận tôi đã tìm ra: Hai đột phá khẩu của hai tiểu đoàn cách nhau vẻn vẹn có hơn năm mươi mét. Nhìn ngược lại phía đông nam, tôi càng hiểu rõ hơn: chỉ tại cái đồi Cháy, dưới hai bên chân nó hai tiểu đoàn đã định hướng mở đợt phá khẩu sai; đáng lẽ theo hai hướng song song, tiểu đoàn tôi đã mở hàng rào quá về phía nam thì sẽ cắt được A1 làm đôi ngay từ đầu. Quay lại phía đông bắc chếch trước mặt tôi, cách lô cốt không xa một bãi trống hẹp, là một bóng hầm dựng đứng, nơi đó xuất hiện từng luồng đạn đại liên đứt quãng. Chả trách tiểu đoàn 9 không thể phát triển được.

Trời sáng hẳn. Nhìn xuống giao thông hào nối liền tiểu đoàn anh Hoè xuống suối Pom Loi, thi thể anh em nằm đó, có lẽ do dốc núi trơn nên tự sắp xếp theo hình cá hộp. Không biết trong đó có thi thể anh em tiểu đoàn tôi không? Cảnh tượng thật bi đát! Cối địch lúc này bắn dữ dội, đất, đá, bụi mịt mù. Quay về, tôi chạy dọc theo giao thông hào trở lại lô cốt cũ của tôi. Hồng Tân, Đỗ Thân và một số anh em còn đó, họ nhìn tôi. Không suy nghĩ, tôi buột miệng: "Ai còn đánh được ở lại, không nổi thì về". Trời đã sáng bạch, có ai về không tôi không biết, chỉ biết: Phải giữ đến cùng, địch có thể đẩy ta ra khỏi A1. Xung quanh đạn pháo và cối vẫn nổ chát chúa. Tôi bảo liên lạc viên 2 oát điện về đại đoàn vì không thể liên lạc với trung đoàn được: “Tiểu đoàn trưởng 251 bị thương nhẹ ở giao thông hào, vẫn ở lại.”

... Lại một ngày qua đi (1-4-1954), đạn pháo vẫn không ngớt, có lẽ địch không biết ta còn bao nhiêu nên chưa dám phản kích mạnh. Tôi, Hồng Tân và Đỗ Thân cùng số anh em sống hết ngày nhờ cá hộp “tiêu chuẩn năm” của lính lê dương vứt lại.

Ngày 2 và 3 tháng 4, trung đoàn 102 tiến vào theo giao thông hào của tiểu đoàn anh Hoè để giải quyết nốt phần còn lại. Đã xảy ra trường hợp “kinh thiên động địa’’ nói đúng ra là “không tiền khoáng hậu”. Tiểu đoàn trưởng Vũ Văn Kha không hiểu do nhầm lẫn ở ngã ba giao thông hào dẫn lên trung tâm A1 rồi quay vòng lại đột phá khẩu hay sao đã bị trung đoàn trưởng Hùng Sinh cách chức đuổi về sau với tội dao động.

Lúc này, khi thế trận đã mất thì trung đoàn Thủ đô cũng đành chịu. Hai ngày ba đêm tiến công không kết quả, ta dùng bộc phá đánh sập những công sự đã chiếm được, rồi rút khỏi A1. Đồi Cháy trở thành trận địa phòng ngự đầu tiên trực tiếp tiếp xúc với A1. Địch cũng không dám ló ra khỏi công sự còn lại. Những tay súng bắn tỉa của đồi Cháy đã đè đầu chúng xuống duới sự chi viện của pháo 75 thuộc anh Doãn Tuế và đại đội cối 120 của anh Ba Giai - một đại đội trưởng giỏi. Cuộc đào hầm ngầm vào sâu trong lòng A1 của đại đội công binh của anh Xuyên Khung bắt đầu, ta sẽ đưa vào đó 1000 kilôgam thuốc nổ. A1 hãy coi chừng!

... Tiểu đoàn chuẩn bị ráo riết. Đại đội 671 của Hồng Tân “sẹo” và Đỗ Thân được về phía sau “bọc giấy bóng lại” nghĩa là không phải đào giao thông hào và phòng ngự giữ đầu giao thông hào.

Theo chỉ thị Đại đoàn và anh An, tôi tập trung suy nghĩ về hướng “ụ thằng người”, trong khi vẫn phải chỉ huy phòng ngự đồi Cháy, yểm trợ cho việc đào hầm ngầm.

Anh Phạm Điệng về làm chính trị viên, thay anh Lê Hợi. Trông ông này có thể tin được. Tôi có thói quen đánh giá con người qua cách đi đứng hoạt động bình thường: tay này có vẻ chịu đánh. Chính trị viên phó là anh Quốc Tường thì rất yên tâm. Một con người nhanh nhẹn, tuy nói hơi nhiều, nhưng giải quyết chính sách tận tâm. Chỉ còn một việc quan trọng bậc nhất là phải giữ cho được đầu mối giao thông hào đến tận suối Pom Loi cách “ụ thằng người” hơn một trăm mét.

Vài hôm sau, khi đại đoàn 312 cắt được sân bay Mường Thanh, một chiến sỹ bị thương bị địch bắt thuộc đại đoàn 312 được thả ra chạy giao thông hào của tiểu đoàn tôi phía Bản Ten đã trao bức thư của tướng Castries bằng tiếng Pháp cho tôi. Nhìn địa chỉ gửi: “Au General Vo Nguyen Giap, Commandant de Place de Điên Biên Phủ" - "Gửi tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy quân tại chỗ Điện Biên Phủ”, tôi bật lên khá tục: Tiên sư mày! Dám gọi ông Giáp bằng chỉ huy tại chỗ. Tôi vội gọi điện về đại đoàn, vì bức thư quan trọng nên đại đoàn đã nối thẳng cho tôi về Mường Phăng. Đầu dây bên kia là anh Lê Liêm. Tôi hỏi:

- Anh có biết tiếng Pháp không?

- Cậu cứ đọc đi. - Vì lâu ngày quá tôi không còn nhớ được từng câu, cũng không rõ Bảo tàng Quân Đội ta còn giữ được không? Đại để thư viết: như ngài cũng biết, trong điều kiện chiến đấu ác liệt (combat acharné) các thương binh của chúng tôi đã không được sự chăm sóc cần thiết (soins nécessaires) và cần được chuyển đi (évacués). Tôi mong ngài cho máy bay Đakota hạ cánh xuống Điện Biên...”. Thế là rõ rồi, chúng nó bắt đầu bí. Tôi không biết có thư trả lời từ Mường Phăng không, nhưng độ năm ngày sau, lại một cậu lính bó bột ở tay của trung đoàn 57 đại đoàn 304 ở Hồng Cúm chạy ra gặp đúng tôi trao bức thư thứ hai của De Castries. Lần này nội dung cụ thể hơn, Castries nêu lên tinh thần nhân đạo chung (humanité commune) và đề nghị với ta ngày 21-4-1957 Pháp trả 12 hay 15 tù binh Việt Nam bị thương - tôi không nhớ thật chính xác - tại khu vực Bản Ten cáng bằng băng ca do một linh mục tuyên uý dẫn đầu; đổi lại, chúng xin để Dakota hạ cánh xuống Mường Thanh lúc 15 giờ, cất cánh một chuyến và xin ngừng bắn cả hai bên từ 14 giờ đến 17 giờ...

Tôi nhận lệnh theo dõi và báo cáo, bụng mừng thầm: thế là chúng nó sắp chết rồi. Hai hôm sau, xế Bản Ten, đúng giờ tiếng súng im bặt. Trên bầu trời một vài chiếc Dakota lởn vởn, có chiếc thả dù tiếp tế, cũng có dù rơi vào trận địa tiểu đoàn tôi. Mấy chục lính Pháp mang hơn chục cáng thương đặt xuống gần Bản Ten. Viên linh mục đứng đợi. Bao trùm Điện Biên Phủ chỉ còn tiếng ì ì của máy bay. Đã quá 17 giờ, lính Pháp và linh mục quay về phía trung tâm. Chúng không quên mang cáng theo. Mấy phút sau, bản Noọng Nhai bùng lửa dữ dội. Thật là nhân đạo đúng kiểu lê dương! Và trên toàn mặt trận, cả phần còn lại của A1 trên đồi Cháy, đạn pháo cối nổ ầm ầm. Cũng lúc ấy, công binh ta đang đào sâu vào lòng A1 những mét đất cuối cùng theo từng kíp ba người một; từng khối bộc phá đã được tập kết dưới giao thông hào. Ở đầu giao thông hào sát Pom Loi trên hướng nam đuôi A1, nơi một tiểu đội của đại đội 674 đang trấn giữ đã xảy ra chiến đấu gần như giáp mặt giữa tiểu đội với lính Pháp. Chúng muốn đẩy lùi con rết đang tiến dần về phía chúng với hai cái càng quặp đầy nọc độc. Ba, bốn ngày trước trận cuối cùng, anh An trung đoàn trưởng khi kiểm tra trận địa, buộc lòng cách chức đại đội trưởng Hướng về tội để lính Pháp chiếm mất đầu giao thông hào mà đội trưởng không dám dẫn tiểu đội phản kích chiếm lại. Chính trị viên đại đội được chuyển qua làm đại đội trưởng. Lúc này, cái cần là sự kiên trì và lòng dũng cảm. Quân Pháp như chuột chũi, còn ta đã quá mệt nhưng sạch sẽ và được ăn no cơm nếp với thịt trâu bò lạc của đồng bào Tây Bắc. Trung đoàn trưởng An, tôi và Hoè lại trinh sát lần cuối, cắt rào bảy lớp dọc đường 41 đến tận “ụ thằng người”. Tất cả như kì nhông lết vào bên trong. Tôi đo áng chừng lỗ châu mai, nhìn quanh quẩn, xác định các vật chuẩn ban đêm rồi cùng các anh bò lùi đầu vẫn hướng về “ụ thằng người”. Mọi việc tưởng trót lọt. Chúng tôi đã bò đến hàng rào thứ hai, còn khoảng mười mét nữa là có thể chạy một mạch về Bản Ten thì một loại đại liên vãi ra từ các lỗ châu mai khá rộng. Tôi quay một vòng chạm một vật gì to cứng. Bản năng thúc tôi chúi đầu vào vật đó. Té ra là một thùng đồ hộp được thả từ máy bay xuống. Không bỏ lõ thời cơ, tôi ra hiệu cho anh An nằm im không cựa quậy rồi rút cây dao găm đâm thủng các hộp ở góc, thò cả tay vào, lấy khuỷu tay ngoáy mạnh cho thùng các tông toác rộng, dùng khăn dù nguỵ trang bó tất cả để mang về rồi cứ lùi dần khỏi rào. Hơn chục con người nhẹ nhàng chạy về Bản Ten.

Trinh sát thành công mỹ mãn. Trưa hôm đó, trong cuộc họp quyết định cuối cùng cho trận A1 lần hai, không hiểu sao chính uỷ Huy biết được chuyện chiến lợi phẩm đã phê phán kịch liệt. Dẫu sao số đồ hộp trong khăn dù của tôi đã kịp giao cho liên lạc về tiểu đoàn chia cho Điệng, Tiên tiểu đoàn phó cùng các đại đội trưởng và trinh sát rồi!

Trong trận A1 lần thứ nhất, tôi đặt hầm ếch chỉ huy cách hàng rào khoảng một trăm mét, chạy vào đột phá khẩu mất đến năm - bảy phút giữa hoả lực địch. Lần A1 thứ hai này, cần làm sao thấy được từng quả bộc quá nổ tung, và phải kịp vào tung thâm thật nhanh hơn để quyết định phân phối các mũi đột kích. Nhiệm vụ tiểu đoàn phải chiếm bằng được đuôi phía nam A1, phải tìm ra và chặn ngay đường tiếp viện của De Castries lên A1, vì lần thứ nhất đã không ngờ đến con đường này. Sau đó đánh chiếm hầm ngầm khu C (A1 còn lại chia ra ba khu A, B, C có hầm ngầm theo báo cáo của trinh sát mà cũng có thể do tưởng tượng).

Đêm 4-5-1954, tôi quyết định phải trinh sát lại hướng đột phá - hướng phòng ngự chặn viện từ trung tâm địch lên A1 và hướng phát triển tung thâm, xem nên đặt vị trí chỉ hay đột phá ban đầu ở đâu.

Con suối Pom Loi ngập nước, thỉnh thoảng đã có những trận mưa ngắn ở lòng chảo. Vượt suối ướt đến tận vai, quặt tay trái tôi bò ngắm thẳng vào lỗ châu mai “ụ thằng người”. Đất khô cứng có đá dăm, tôi giương mắt định hướng lại, thì ra đây là con đường Điện Biên - Tây Trang chạy sát dưới chân đồi A1... Ngay dưới chỗ đang nằm là một miệng cống đen ngòm khá rộng, dày chừng bốn đến năm phân, từ cống đến “ụ thằng người” chỉ có khoảng 70 đến 80 mét. Tôi quyết định sẽ nằm ở đó để chỉ huy bộc phá, còn chính trị viên phó đại đội Lữ Lô - người Tày (cậu này rất dũng cảm, nhưng uống rượu thì gấp mấy Lưu Linh) sẽ trực tiếp mang bộc phá đầu tiên. Lần này bộc phá phải thật nhanh, đánh sập “ụ thằng người” chỉ trong vòng vài phút, cho C671 chọc vào hầm ngầm khu C. Đại đội 674 phải tìm ra con đường tiếp viện của Castries và chuyển vào phòng ngự ngay cùng với hai đại liên và súng cối. Không cần dự bị nữa, với lại còn quân đâu để làm dự bị. Gần sáng mùng 6-5-1954 tôi mới trở về nơi tập kết, chỉ kịp nói với anh Điệng một câu: “Xong rồi!”, thế là lăn ra ngủ trong bộ quần áo ướt bùn lầy.

Tôi đang mơ màng, bỗng nghe anh Chu Huy Mân hỏi:

- Commandant đâu?

- Báo cáo, đang ngủ, vừa đi trinh sát đột phá khẩu về. - Giọng anh Điệng.

- Có cái gì ăn sáng không, các cậu ăn sáng chưa?

Biết Điệng đang bí, tôi vùng dậy lồm cồm bò qua miệng hầm nói vào:

- Có đủ, miễn là ăn xong, chính uỷ không được phê bình.

- Đồng ý, anh cười, tay này xỏ lá thật.

Tôi đề nghị anh Mân và Điệng ngồi xổm lên, rồi quờ tay dưới cái chăn dù trải thay chiếu, lôi vài hộp thịt gà và gạo hấp sẵn của Pháp. Chỉ mười lăm phút sau, chính uỷ Mân vừa xì xụp bát cháo gà vừa hỏi:

- Ở đâu ra đấy?

- Lấy đêm hôm kia khi đi trinh sát Cụ ạ...

Tôi lẩm bẩm "Không biết ông An có giữ được hộp nào không?”

Nhìn anh Mân và Điệng không vui vì tiểu đoàn làm nhiệm vụ quan trọng, quyết định nhất, mà tình hình lại đang vô cùng gay go. Trừ đại đội 671 chủ công được “bọc giấy bóng” đầy khí thế, còn hai đại đội thiếu hụt là 674 và 673, một số lớn bần thần... Cũng dễ hiểu thôi bởi hơn một tháng nay từ trận A1 lần trước, họ đã phải tự tay dồn ba lô di vật của đồng đội vào mấy hầm, họ đã phòng ngự trong lòng đất trên đồi Cháy, đã đào giao thông hào ngày đêm và đã không ít lần chôn cất qua loa đồng đội bị mìn Tây gài lại ở Bản Ten...

Anh Điệng năng nổ dẻo mồm là thế mà xem ra sắp thúc thủ. Các chính trị viên trưởng, phó của đại đội chạy ngược xuôi vào từng hầm ếch để động viên, nhưng hai đại đội còn lại đó không ăn cơm, họ ăn cháo. Ăn cháo thì đánh giặc thế nào được, mà trận này chắc kéo dài. Tôi nghĩ thà “chết vinh còn hơn sống nhục”. Phen này mình thử làm công tác chính trị xem sao. Đã 14 giờ 30 mà 15 giờ 30 phải xuất phát rồi. Đại đội 671 dàn dọc bờ giao thông hào, lao xao dưới các lùm nứa non chen vào nhau. Trời nắng ráo. Tuyệt biết bao nếu lần xuất quân này được như lần đầu; hai dãy hầm ếch lục tục anh em C673 và 674 đầy ngần ngại. Các khẩu đội trợ chiến và súng cối 82 cũng đã dàn phía sau đại đội chủ công. Không khí vô cùng nghiêm trọng, Tôi nhìn chính uỷ Mân và Điệng. Họ nhìn tôi. Tôi lắc đầu ngán ngẩm rồi chui vào hầm riêng mặc bộ kaki Mỹ vàng ánh - loại sang nhất bấy giờ - đội bêrê lấy ở Phát Diệm từ năm 1950, rắc nước hoa Pháp của Hồng Tân cho đầy quần áo thơm lừng! Tôi bước lên mép giao thông hào, tung lá cờ tiểu đoàn Bông Lau - Lũng Phầy ra trước mọi người:

- Này anh em, nhìn lá cờ này phải nhớ chứ, phải đi đánh chứ, tiến lên chứ! Đồng ý không, lần này nhất định thắng thôi. Nào 674, 673 ra đi!

... Im lặng không biết bao lâu, lác đác được hơn một trung đội, bước lên giao thông hào... Đã hơn 15 giờ. Không chịu được nữa, tôi bắt tay chính ủy Mân:

- Ra đi là không trở về chính ủy ạ.

- Không được, ông sửa lại, ra đi là phải chiến thắng mà về.

- Khiếp thật! Đúng là chính uỷ có khác.

- À mà này, sao cậu thơm thế, tiểu tư sản đặc!

Ngoái lại đằng sau đã thấy thêm một hai tiểu đội nữa. Tôi hô:

- Nào, xuất phát...

... Tôi muốn viết về A1 lần hai cho chính xác hơn, với lại cũng có ai biết đó là trận cuối cùng của trận Điện Biên Phủ. Tôi nhận nhiệm vụ chiếm xong A1 phải đập tan phản kích của Castries, có điều kiện thì sẽ diệt A3 tiến lên bờ sông Nậm Rốm. Vậy còn dài, cứ gọi là A1 lần hai đã.

Trước khi xuất phát, tôi còn nhận lệnh bố trí xong phải trực tiếp quan sát hiệu quả của B26 - tức DKZ 75 của Trung Quốc. Lần đầu tiên xuất hiện ở chiến trường sẽ có H6, đó là hoả tiễn sáu nòng của Trung Quốc chi viện. Thì ra cấp trên quyết tập trung chi viện cho A1 lần này. Tôi thấy nóng người, phải liều chết đánh thắng thôi.

... Cuộc xuất phát không có thương vong, đi giữa ban ngày trong lòng giao thông hào, sâu phải đến 1m6, 1m7 để tiếp cận địch, chỉ hơi buồn vì quân số tiểu đoàn quá ít, đâu có hơn 250, mà xung lực giỏi lắm cũng chỉ hơn 100, nhiệm vụ lại quá nặng: đánh vu hồi, cắt viện. Chẳng bằng lần thứ nhất, tiểu đoàn ra đi với 607 người mà đến hơn 90% đảng viên. Được, chỉ cần đột phá thật nhanh, thọc sâu nhanh là ăn đứt.

Nào biết còn có ai trên đời này để nghĩ tới. Gia đình nội ngoại ở tuốt miền Nam, ai còn ai mất không biết; còn người yêu thì bội bạc, mỗi lần mình bị thương báo tin về là dao động. Mặc tuốt. Chỉ tâm niệm một điều: bằng mọi giá phải đánh thắng... Phải thắng thật nhanh thì mới đủ quân để tiếp tục đánh. Tôi liếc nhìn anh Tiến tiểu đoàn phó, con người già dặn ấy sẽ cùng đại đội chủ công “vồ” cho được cái “ụ thằng người”. Anh Tiến cao, gầy hút thuốc lào thuộc loại siêu, nguyên là ủy viên quân sự Khởi nghĩa Yên Bái. Chỉ có trình độ văn hoá còn yếu nên chậm phát triển.

Còn Điệng chính trị viên, ông này chắc dám vào đột phá khẩu đây, không như lần trước có mỗi một mình mình.

Tối mịt lội qua suối Pom Loi, dừng lại thúc chủ công tiến vào vị trí, dặn lại Thuỷ đại đội trưởng 674 (anh nguyên là chính trị viên thay đại đội trưởng bị cách chức), tôi, Điệng và tốp liên lạc lom khom chui xuống cống trên đường 41 rồi nằm sấp để quan sát hướng đột phá lỗ châu mai “ụ thằng người”, chỉ mong Tây đừng “khạc” trước khi ta đánh bộc phá.

B26 đã bắn trúng mục tiêu, chỉ nghe rít và nổ đanh hơn sơn pháo 75, còn H6 thì nghe vun vút trên đầu. Hai mười giờ, điện thoại tạch tạch vì chuông đã bị bó lại. Lệnh của anh An khi bộc phá tấn nổ phải quay lưng há mồm ra, xong thì xung phong. Kì cục thật, đánh đồn mà quay lưng lại với đồn thì còn quan sát cái gì, lại còn há mồm bao lâu. Vô lý! Thôi kệ đến hẵng hay. Chờ đợi, tưởng tượng những gì có thể xảy ra:

Nào bộc phá tấn nổ có to không? Anh em đang nằm bên ngoài hàng rào có sao không? Làm sao lệnh cho 671 quay lưng được, ai lại quay lưng về phía địch! Cứ cho bộc phá xong thật ngon, nhưng 671 có vào được nhanh để cho 674 vượt qua đột phá khẩu và chặn đường viện từ A3 lên không! Đó là mấu chốt của trận đánh. Hầm ngầm thực ra không quan trọng, có giỏi thì Tây cứ ngồi lì bên trong, đói rồi cũng phải ra, miễn là phải “chịt” cái thằng viện. Nghĩ lan man, nhưng A1 lần hai này thảnh thơi hơn nhiều. Ông Giáp thế mà khôn, cho làm cái giao thông hào đến tận nơi nên tiến thoái không sợ. 20 giờ 25 phút: “Dũng Chi đâu? Há mồm chưa, sắp nổ đấy!” - giọng anh An trong điện thoại.

Tôi trả lời bừa: "Há rồi". Vậy mà anh An còn hỏi: "Anh em đã há mồm chưa?" Trong chiến đấu, đôi khi cũng cần nói dối, miễn là không có hại.

Tôi đợi tiếng nổ dài như cả ngày cả tháng, ruột nóng như lửa đốt. Đồng hồ đã chỉ 20 giờ 30 phút, mà chẳng có tiếng nổ nào cả. Tôi nhoài người ra ngoài cống, nhìn xung quanh, bỗng có tiếng rung rung dưới bụng như động đất nhẹ. Tôi bảo liên lạc hỏi: “Bộc phá đã nổ chưa?” Bên tác chiến trung đoàn trả lời “không biết”. Chết thật, đánh với chác!

Tôi quyết định anh Tiến cho bộc phá đi. Một loại tiếng nổ đanh liên tục cách nhau rất ngắn rồi tiếng nổ trời giáng của quả bộc phá 20 cân. Một bóng người cao gầy vụt qua...

- Tiến đấy à?

- Báo cáo mất kính rồi.

- Có bị thương không? Cậu về đi.

Thì ra anh Tiến bị văng mất kính cận lúc bộc phá nổ mạnh.

Tôi lên khỏi cống chạy một mạch không kịp thở, nhảy đại vào “ụ thằng người”, ngắm hướng bắc theo giao thông hào chọc về phía hầm ngầm. Tôi nói nhanh với Điệng:

- Cho 674 vào mau, tìm đường viện ngầm, chặn chúng ngay. Nói rồi, tôi lao đi một mình. Có cái gì đó trước mặt, theo thói quen tôi quát: “Haut les mains”1. Lúc này theo hướng bắc ngược lên đồi chỉ có địch, một chiến sỹ dẫn tù binh đẩy tôi lùi lại chen lên trước. Tôi vụt qua một hầm lớn quạt một băng tiểu liên. Chà mát rượi, thì ra đã ở quãng giao thông hào trống, gió từ lòng chảo thổi ngược lên đồi. Chỉ còn vài tiếng tiểu liên lẻ tẻ. Trước mặt tôi chừng năm mươi mét, một lô cốt khá cao đen xịt. Hầm ngầm khu A chăng? Tôi quay lại, nấp phía sau một đống bao cát. Giao thông hào Pháp đào nông choèn, chỉ quá bụng. Về hướng Nậm Rốm, tiểu đoàn tôi đã tiến công bất ngờ từ sườn phía sau lên. Chúng không tin là ta có thể tiến công. Vu hồi quả là đúng. Tôi men theo giao thông hào tiến lên cùng với gần một trung đội, có người nhảy xuống:

- Báo cáo đã xong hầm ngầm khu A. Ban chỉ huy nhớ ghi công tôi nhé!

Đó là Hải Bằng đại đội trưởng chủ công của anh Hoè tiểu đoàn 9, là trợ lý tác huấn xuống thay đại đội trưởng 317 cũ đánh không tốt trận trước. Tôi nhìn đồng hồ đúng 4 giờ sáng. Thế là cơ bản xong.

Trời sáng hẳn, trong “ụ thằng người” đông nghịt, trung liên đang đặt vào lỗ châu mai hướng về A3.

Dưới chân đồi phía tây và nam, C674 đang phòng ngự chặn viện. Tôi nhìn xuống đường 41, thì ra quân tiếp viện Castries trước đây qua A3 vượt ngầm dưới cống chạy qua đường 41 để lên A1. Chẳng có đường ngầm nào như trinh sát của Bộ và đại đoàn cho biết.

Thế là thắng trận rồi!

Hai chiếc xe tăng hạng nhẹ bảy tấn của địch lù lù bò dọc đường, nòng súng quay ngang bắn từng phát vào A1: đại liên, trung liên 674 bắn xuống chúng, đạn cối 120 của anh Ba Giai từ phía sau điểm xạ, vài cột khói vàng nâu bùng lên, nhưng không trúng, ấy thế mà xe tăng địch đã vội rú máy chạy lùi. Hết phản kích. Phải chăng chúng đã ngán và suy sụp sau khi thấy Việt Minh đã ở trên đồi A1.

Phía A3 yên ắng, xe tăng địch đã lùi thì bộ binh chúng cũng không dám mạo hiểm tiến lên. Địch có biết đâu ở A1 này quân số tiểu đoàn tôi chỉ còn vẻn vẹn chừng năm, sáu mươi người. Tôi không cho nổ súng từ A1 xuống A3 hoặc A2 vì sợ địch phản kích lại bằng hoả lực sẽ gây thêm thương vong. Mất một người lúc này là mất đi sức mạnh cần thiết cho sự phát triển.

Tôi định quay về “ụ thằng người” để báo cáo với trung đoàn, thì rộ lên tiếng đạn nhỏ, đạn pháo cối nhỏ chát chúa chân đồi A1 về phía nam và đông bắc. Nhìn phía đông bắc, tôi hiểu quân của trung đoàn 98 phải chống đỡ với hàng trăm lính Pháp đang thúc lên C2 từ 205, chúng cũng đã lên gần đỉnh đồi. Tôi vội điều tất cả trung liên và đại liên của tiểu đoàn lên phía hầm ngầm khu A, trừ một khẩu chĩa về A3 để chi viện cho anh em trung đoàn 98.

Trong ụ, ta và tù binh lẫn lộn. Anh Điệng và trung đội trưởng Di vẫn ngồi đó. Lâm Viết Hữu, đại đội trưởng chủ công thay Hồng Tân (vì Hồng Tân đã lên chức tiểu đoàn phó) đứng cạnh khẩu trung liên nhìn về A3. Hữu là đại đội phó trong trận Mường Pồn, người dẫn tôi trực tiếp tiêu diệt bọn lính Thái, sau nửa ngày chặn địch tại đấy.

Chúng tôi, tất cả đều nhem nhuốc. Hữu lại gần tôi nói nhỏ: “Anh nhìn xuống ụ kìa, tổ bộc phá khối chính thức chết cả ba!”.

Nhìn ba anh em đều ở tư thế dựa vào ụ, hai người thì úp mặt xuống rào kẽm gai trùm lên ụ, một người quay về phía Nam - anh em đã thực hiện đúng động tác đặt bộc phá khối, có lẽ chưa kịp rút thì đã bị trúng đạn hoặc mảnh pháo. Thương tiếc vô cùng! Tên họ anh em giờ đây tôi đã quên mất, chỉ biết họ là những người được tin cậy nhất, được chọn trong số xuất thân nghèo khổ và dũng cảm. Hình như có một cậu người Thái Bình từng ngang bướng đã có lần đào ngũ về quê tận hậu địch tả ngạn sông Hồng rồi lại quay lên với tiểu đoàn. Tôi nhận lệnh anh An: tiến xuống A3. Tôi không hội ý với Điệng theo nguyên tắc, vì đã hiểu anh ấy qua mấy giờ chiến đấu rồi. Vì vậy không để Lâm Viết Hữu xuống A3 nữa, sợ Hữu bị thương hoặc hi sinh, lúc này cần tiết kiệm cán bộ. Tôi đề nghị Điệng đi cho đảm bảo, rồi yểm hộ cho anh. Điệng đồng ý, xăng xái mượn khẩu tiểu liên K50 nhảy xuống giao thông hào cùng với Thuỷ đại đội trưởng và mấy chục anh em chiến sỹ. Tôi nạp băng đạn đầy vào khẩu kolynos, đeo kính râm và mở màn trận A3 bằng một băng dài chiu chít xuống ngã ba giao thông hào. Không thấy phản ứng dữ dội từ phía địch. Khát cháy cổ, tôi tu một hơi hết nửa lọ “eau de vie” - rượu mạnh trong khẩu phần năm (ration cinq) của Pháp - đỡ khát hẳn. Tôi tiếp tục bắn từng loại dài. Bỗng tai ù đặc, kính râm rơi mất. Tôi ngã lùi vào trong ụ khói đất mù mịt. Tiếng tù binh la to hơn tiếng rên của trung đội trưởng Di bị thương đang bê bết máu ở đầu và tay. Y tá, y sĩ không còn nữa, nhìn bạn bị thương sắp chết mà chịu. Loạt đạn cối 106 của Pháp đã giết bốn, năm đồng đội của tôi. Mohamed1 bò lại gần tôi nói: “Trop soif! Ramenez - nous aux arrières!”2. Bực mình, tôi bảo: “Pisse et bois!”3. Không biết Mohamed bên kia trời Angiêri giờ đây còn nhớ không? Đó là loạt đạn cuối cùng của Pháp vào A1, sự đáp lại của quân Tây trong cơn quằn quại mà tức tối, nhục nhã phải thua trận trước quân ta. Tất cả chúng tôi phờ phạc.

A3 giải quyết xong, Điệng đã quay về. Chúng tôi uể oải ra khỏi ụ lên khu A xem hầm ngầm thì thấy rõ ràng khu C hay khu A cũng chẳng có hầm ngầm nào cả. Hải Bằng dẫn tôi vào cái gọi là “hầm ngầm”. Hoá ra là một hầm bưu điện của Pháp thời còn châu Điện Biên. Hầm dùng để chứa máy nổ, máy điện thoại và lương thực, bên trong lắp gạch chỉ, âm xuống đất chừng 1m cao khoảng 3m gì đó ở vách còn treo khẩu K50 Liên Xô. Tôi hỏi Hải Bằng:

- Thế chỗ nổ bộc phá hầm ngầm đâu?

Hải Bằng cùng tôi ra khỏi hầm bưu điện. Anh chỉ tay về phía cái hố cách đó chừng vài chục mét:

- Kia kìa. Nhìn cái hố sâu, rộng như cái ao nhỏ ở nông thôn ta, kết quả của một tấn bộc phá. Tôi hiểu thì ra kim chỉ bắc nam - châm đã lệch khi vào sâu trong lòng đất nên quả bộc phá dự định nổ dưới hầm ngầm bị chệch đi, bê gọn đến bốn, năm hầm địch. Chính tiếng nổ đã làm cho tên chỉ huy hoảng hồn nên chống cự kém hẳn, quân Tây sợ quá lên rã đám. Hơn 15 giờ chiều. Tôi và Hải Bằng nhìn xuống sông Nậm Rốm, thấp thoáng vài mảnh vải trắng, cờ trắng đuôi nheo ở phía tây và đầu sân bay. Nhìn xuống phía nam, mấy cứ điểm 205, 311 gần trung tâm chỉ huy cũng lại vải trắng đủ kiểu, một số lính Pháp lố nhố ở phía tây bờ sông. Tôi báo cáo cho Trung đoàn và Đại đoàn có lẽ địch đầu hàng. Chỉ nhận được lệnh ngắn: “Phải cảnh giác!”. Nhưng tôi hiểu, không cần phải đứng trong hào nữa. Tôi nhảy lên khỏi hào nhìn xuống trung tâm, cả một rừng cờ trắng. Từng đoàn lính Pháp lốc nhốc toả ra các phía để hàng. Đồng hồ lúc này là 16 giờ chứ không phải như một số báo chí đăng. Thế là xong trận A1, xong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Tôi đứng lưng chừng đồi A1 dốc về phía trung tâm Điện Biên. Lâm Viết Hữu chạy ngược lên:

- Báo cáo ban chỉ huy, có quan tư Tây đầu hàng muốn gặp.

- Cho nó lên.

Trước mặt tôi, một tên Tây cao lớn đeo bốn vạch vàng, mặt sạm, đầu đội bê rê màu xanh lục, ngực đeo Bắc đẩu bội tinh đồng (croix d’honneur Bronze) đánh gót đưa tay chào:

“Le commandant Bigeard se rend à vos dispositions. Son effectif compte seulement 150 hommes. J'attend vos ordres”4.

Hãnh diện biết chừng nào khi lần đầu tiên trong đời binh nghiệp, một tiểu đoàn trưởng Việt Nam tay chắp sau lưng ngắm nghía tên quan tư nổi tiếng của quân đội Pháp, viên chỉ huy quân cơ động của De Castries đang chào và đợi lệnh theo đúng lễ nghi lục quân Pháp. Bigeard xin phép tôi hút thuốc lá và xin cho y tá của nó bó gót chân bị sái gân. Y cùng đám tàn quân cõng tù binh ta bị thương trên cổ lầm lũi leo lên đồi A1 - Eliane 2 rồi tụt dần về phía sau. Thật thảm hại quân bại trận! Người tôi nhẹ hẫng, lảo đảo như đang đi trên thuyền. Thắng trận rồi, sung sướng tột độ, mà điều kì lạ là mình vẫn còn sống. Tôi bất giác sờ xuống đầu gối và háng, các vết thương dính lựu đạn trận A1 lần đầu đã đóng vẩy tự bao giờ không biết nữa. Bước thấp bước cao, tôi lại nhớ chính uỷ Mân sửa gáy tôi trước lúc vào trận “Ra đi phải thắng để trở về”.

Trận A1 kéo dài và kết thúc như vậy đó. Những bạn chiến đấu của tôi ai còn sống đến nay sẽ thấy tôi nói đúng sự thật một trăm phần trăm, chẳng có gì để giấu giếm hay khoe khoang khi nhớ đến biết bao anh em đã ngã xuống dưới chân A1 và tổ bộc phá khối ba người nằm úp vào hàng rào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn