TRIỆU QUANG LAI – MỘT BỆNH BINH CÓ CÔNG TRÊN QUÊ HƯƠNG QUẾ SƠN
Thông tin ông nhân vật: Ông Triệu Quang Lai sinh năm 1943 là một cựu chiến binh dân tộc Dao Đỏ, quê gốc ở xã Đức Thông, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, nhưng hiện nay đã xem xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(cũ) là quê hương thứ hai của mình. Ông từng tham gia quân ngũ và hoạt động tại Cục Hậu cần Quân khu 5 trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ từ năm 1972 đến 1975. Sau ngày đất nước hoà bình, vì nặng lòng với mảnh đất xứ Quảng, ông đã quyết định cùng vợ lập nghiệp và gắn bó cuộc đời tại thôn Nghi Sơn. Những đóng góp thầm lặng đầy cao cả của người của cựu chiến binh già đã được các cấp chính quyền và nhân dân rân trọng ghi nhận, biểu dương.
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1972 - 1975), ông là chiến sĩ quân y thuộc Cục Hậu cần Quân khu 5, trực tiếp hoạt động và chăm sóc thương bệnh binh tại chiến trường Quế Sơn gian khổ. Sau ngày đất nước hòa bình, ông phục viên trở về quê hương Cao Bằng. Tuy nhiên, nỗi nhớ da diết về mảnh đất xứ Quảng – nơi thấm đẫm máu xương của bao đồng đội – đã thôi thúc ông quay trở lại. Ông cùng vợ là bà Đinh Thị Ánh Tuyết chọn thôn Nghi Sơn làm nơi an cư lạc nghiệp.
Không quản khó khăn, vất vả, mỗi khi có thân nhân liệt sỹ nhờ giúp đỡ, cựu chiến binh Triệu Quang Lai lại vác balô lên đường đi tìm đồng đội còn nằm đâu đó trong những cánh rừng, đưa các anh trở về.
Mặc dù năm nay đã ngoài 70 tuổi nhưng cựu chiến binh Triệu Quang Lai vẫn nhớ rõ từng tên tuổi và quê quán của các liệt sỹ mà ông đã tìm thấy trong suốt hơn 20 năm qua.
Không quản khó khăn, vất vả, mỗi khi có thân nhân liệt sỹ nhờ giúp đỡ, cựu chiến binh Triệu Quang Lai lại vác balô lên đường đi tìm đồng đội còn nằm đâu đó trong những cánh rừng, đưa các anh trở về quê hương.
Ngôi nhà đơn sơ của gia đình ông Triệu Quang Lai ở thôn Nghi Sơn, xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn (Quảng Nam) nằm dưới chân núi Hòn Tàu, từ lâu đã là địa chỉ quen thuộc của nhiều người khi đi tìm hài cốt liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, ở chiến trường Quảng Nam.
Ông Lai là người dân tộc Dao đỏ, quê ở xã Đức Thông, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Tháng 5/1966, ông Lai đã xung phong nhập ngũ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang chuẩn bị bước vào giai đoạn ác liệt nhất.
Được tổ chức phân công học lớp sơ cấp quân y Tây Bắc, cuối năm 1967, ông Lai lên đường vào Nam làm Y tá của Đội điều trị 16 của Quân khu 5, phục vụ công tác chăm sóc thương binh ở Mặt trận đường 9- Khe Sanh (tỉnh Quảng Trị). Từ năm 1969-1972, ông là Y tá trưởng của Đại đội bảo vệ, Trung đoàn 220, Quân khu 5 đóng tại huyện Nam Giang (tỉnh Quảng Nam).
Từ năm 1972- 1975, ông Triệu Quang Lai chuyển công tác về một đơn vị thuộc Cục Hậu cần Quân khu 5 hoạt động trên địa bàn huyện Quế Sơn. Đất nước thống nhất, ông phục viên trở về quê ở Cao Bằng. Do nặng lòng với mảnh đất xứ Quảng, một năm sau, ông Triệu Quang Lai đã quyết định quay trở lại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam để lập nghiệp và xây dựng gia đình ở đây. Việc tham gia đi tìm hài cốt liệt sỹ đối với ông Triệu Quang Lai đến như một cơ duyên. Hơn 20 năm qua, ông Lai đã tham gia tìm kiếm, cất bốc được 20 bộ hài cốt liệt sỹ, có quê ở nhiều tỉnh, thành phố như Thái Nguyên, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nội…
Hài cốt các liệt sỹ được tìm thấy chủ yếu nằm ở khu vực núi Hòn Tàu - một dãy núi trải dài giữa huyện Quế Sơn, Nông Sơn và Duy Xuyên của tỉnh Quảng Nam. Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Hòn Tàu đã từng được Đặc Khu ủy Quảng Đà chọn làm căn cứ cách mạng nên vị trí này thường xuyên bị quân địch đánh phá ác liệt, nhiều cán bộ, chiến sỹ cách mạng đã hy sinh ở đây. Liệt sỹ Đào Ngọc Điểu quê ở thành phố Hải Phòng là liệt sỹ đầu tiên mà cựu chiến binh Triệu Quang Lai tìm thấy. Năm 1996, ông Triệu Quang Lai tình cờ gặp người thân của Liệt sỹ Đào Ngọc Điểu tới tìm hiểu thông tin về nơi liệt sỹ được chôn cất.
Với trí nhớ về những vị trí chiến trường xưa, ông đã cùng với thân nhân liệt sỹ khăn đùm, cơm gói mất 4 ngày liền đi lên núi Hòn Tàu mới tìm được hài cốt của Liệt sỹ Đào Ngọc Điểu. Theo cựu chiến binh Triệu Quang Lai, do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, các liệt sỹ thường được chôn cất sơ sài, qua thời gian, địa hình địa vật thay đổi khiến việc tìm kiếm gặp rất nhiều khó khăn.
Nhiều trường hợp thân nhân liệt sỹ sau nhiều ngày đi tìm kiếm không có kết quả, nản quá đã muốn bỏ cuộc, ông Lai đã tìm cách động viên, phân tích lại những thông tin để triển khai hướng tìm mới. Ông Triệu Quang Lai chia sẻ, việc tìm hài cốt liệt sỹ nhiều lúc như “mò kim dưới đáy bể,” nhưng khi có niềm tin công việc tìm kiếm sẽ trở nên thuận lợi, đôi khi có những sự tình cờ, ngẫu nhiên đặc biệt.
Năm 2008, ông Lai cùng với thân nhân liệt sỹ quê ở tỉnh Hải Dương đến xã Duy Tây, huyện Duy Xuyên để tìm kiếm hài cốt liệt sỹ. Khi mọi người tìm được vị trí chôn cất, tiến hành cất bốc xong lại phát hiện thêm 4 bộ hài cốt liệt sỹ khác nằm ở gần đó.
Chính quyền địa phương đã làm lễ truy điệu đưa hài cốt các liệt sỹ về yên nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sỹ của xã. Sau đó, thông tin về 4 liệt sỹ trên được tìm thấy trong hồ sơ lưu trữ của địa phương và đã thông báo đến người thân các liệt sỹ. Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Quế Hiệp Trần Phước Tám cho biết thầm lặng giúp đỡ nhiều gia đình tìm được hài cốt liệt sỹ, cựu chiến binh Triệu Quang Lai được người dân trong xã quý trọng.
-Mặc dù điều kiện kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn nhưng gia đình ông luôn sẵn sàng giúp đỡ về chỗ ăn ở, phương tiện đi lại cho những thân nhân liệt sỹ từ các nơi tìm tới. Là bệnh binh 2/3, giờ đây tuổi đã cao nhưng cựu chiến binh Triệu Quang Lai vẫn mong muốn tiếp tục đóng góp công sức để đưa được nhiều liệt sỹ trở về với quê hương. Ông đã được Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Ủy ban Nhân dân tỉnh và Hội Cựu chiến binh các cấp tỉnh Quảng Nam tặng nhiều Bằng khen, Giấy khen. Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất đối với ông là được nhìn thấy những giọt nước mắt xúc động của thân nhân các liệt sỹ khi tìm thấy mộ người thân.
Tài liệu tham khảo/ Nguồn thông tin: Báo VietnamPlus (Thông tấn xã Việt Nam) : Bài viết "20 năm thầm lặng giúp đỡ các gia đình tìm kiếm hài cốt liệt sỹ" đăng ngày 26/07/2019 hoặc https://www.vietnamplus.vn/20-nam-tham-lang-giup-do-cac-gia-dinh-tim-kiem-hai-cot-liet-sy-post515769.vnp hoặc https://baodanang.vn/an-tinh-dat-cu-3111161.html
NGÔ VIẾT HỮU – NGƯỜI ANH HÙNG ĐẶC CÔNG TRÊN QUÊ HƯƠNG QUẾ SƠN
Thông tin nhân vật: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Viết Hữu, còn được đồng đội gọi bằng bí danh Bảy Hữu, sinh năm 1948, quê làng Nghi Sơn, xã Sơn Trung trước đây, nay thuộc địa bàn xã Quế Sơn Trung, thành phố Đà Nẵng. Ông tham gia lực lượng du kích địa phương, sau đó trở thành cán bộ đặc công thuộc lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam, từng giữ chức Đại đội trưởng Đội 1 Đặc công và Trưởng ban Đặc công Tỉnh đội Quảng Nam. Ông hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1972 và được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 3 tháng 6 năm 1976.
“Nhà tưởng niệm Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Viết Hữu tại quê hương ông.”
Ở vùng đất Quế Sơn, dưới chân núi Hòn Tàu, có một ngôi nhà tưởng niệm lưu giữ ký ức về một người chiến sĩ đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Người ấy là Ngô Viết Hữu, người con của làng Nghi Sơn, một chiến sĩ đặc công từng tham gia nhiều trận đánh trên chiến trường Quảng Nam. Tên tuổi ông được nhắc đến trong những trang báo viết về lịch sử lực lượng vũ trang địa phương, trong ký ức của những người đồng đội và trong câu chuyện về một gia đình đã chịu nhiều mất mát trong chiến tranh. Từ ngôi nhà tưởng niệm tại quê hương, câu chuyện về người anh hùng đặc công đất Quảng vẫn được lưu giữ, nhắc nhở các thế hệ sau về những năm tháng mà nhiều người đã dành cả tuổi trẻ của mình cho cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do.
“Phong cảnh núi Hòn Tàu, vùng đất gắn với truyền thống cách mạng của quê hương Quế Sơn.”
Muốn hiểu về Ngô Viết Hữu, trước hết phải trở về làng Nghi Sơn, nơi ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống tham gia cách mạng. Cha ông là Ngô Châu, mẹ là Nguyễn Thị Tạ. Theo bài viết “Người anh hùng đặc công đất Quảng” của Báo Quân đội nhân dân, ông Ngô Châu từng tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau đó, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam, đánh đập và tra khảo. Những trận đòn trong tù khiến ông lâm bệnh nặng rồi qua đời. Sự mất mát ấy để lại cho bà Nguyễn Thị Tạ gánh nặng nuôi dạy các con giữa hoàn cảnh thiếu thốn, khi chiến tranh và những cuộc truy bắt người hoạt động cách mạng liên tục tác động đến đời sống của người dân địa phương.
Ông Ngô Châu và bà Nguyễn Thị Tạ có tám người con, nhưng theo tư liệu báo chí, chỉ có ba người con trai và một người con gái còn sống đến giai đoạn được nhắc đến trong câu chuyện. Đó là Ngô Viết Tiến, Ngô Viết Hữu, Ngô Viết Tường và Ngô Thị Thuật. Sau khi chồng qua đời, bà Tạ một mình chăm lo cho các con. Những khó khăn của cuộc sống thời chiến không chỉ nằm ở chuyện cơm áo, mà còn ở nỗi lo thường trực về sự an toàn của từng người trong gia đình. Trong hoàn cảnh ấy, tình thương giữa mẹ và các con, sự đùm bọc giữa anh em trở thành chỗ dựa để gia đình tiếp tục sống và gắn bó với quê hương.
Đầu năm 1965, xã Quế Hiệp được giải phóng. Theo các bài viết về gia đình ông Ngô Châu và bà Nguyễn Thị Tạ, những người con trai trong gia đình đã tự nguyện xin tham gia cách mạng. Người anh cả Ngô Viết Tiến tham gia du kích trước. Sau thời gian chiến đấu ở địa phương, ông được giao những nhiệm vụ cao hơn, trở thành cán bộ chỉ huy trong lực lượng vũ trang huyện Quế Sơn. Tháng 7 năm 1970, trong một trận chống càn tại Phú Diên, Ngô Viết Tiến hy sinh. Sự ra đi của người anh là một mất mát lớn đối với gia đình, nhưng cũng là một dấu mốc cho thấy con đường mà những người con của bà Tạ đã lựa chọn trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh.
Tiếp bước anh trai, Ngô Viết Hữu tham gia hoạt động cách mạng khi còn rất trẻ. Theo bài viết của Báo Quân đội nhân dân, khi người anh Tiến đã vào du kích được một thời gian, Hữu thuyết phục mẹ cho mình tham gia Đoàn Thanh niên xã, sau đó được bổ sung vào lực lượng du kích. Từ một thanh niên ở làng Nghi Sơn, Hữu bắt đầu đảm nhận những nhiệm vụ cụ thể trong hoạt động của lực lượng địa phương. Ông không bước vào chiến trường bằng một chức vụ cao hay một danh hiệu có sẵn. Những gì được ghi lại về ông cho thấy quá trình trưởng thành diễn ra qua các nhiệm vụ thực tế, qua việc phối hợp với đồng đội và qua những thử thách ngày càng khó khăn.
“Ảnh tư liệu về lực lượng du kích trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.”
Một trong những câu chuyện được báo chí ghi lại về thời kỳ đầu hoạt động của Hữu gắn với nhiệm vụ đưa một thương binh đi cấp cứu. Theo bài “Người anh hùng đặc công đất Quảng”, tổ du kích phải đưa người bị thương qua một cánh đồng rộng, nơi máy bay Mỹ thường xuyên hoạt động. Khi tổ du kích đang di chuyển giữa cánh đồng, máy bay xuất hiện. Trước tình huống nguy hiểm, Hữu chỉ huy đồng đội đưa thương binh vào khu vực có cây cối che chắn, còn mình tìm cách đối phó với máy bay. Tư liệu của Báo Quân đội nhân dân cho biết ông đã dùng súng bắn trúng một chiếc trực thăng HU-1A, khiến chiếc máy bay này rơi, còn chiếc còn lại rời khỏi khu vực. Tổ du kích cùng thương binh sau đó về nơi an toàn.
Câu chuyện ấy là một dấu mốc đáng chú ý trong quá trình hoạt động của Ngô Viết Hữu. Trong hoàn cảnh chiến tranh, việc đưa một thương binh qua vùng nguy hiểm là nhiệm vụ đòi hỏi sự bình tĩnh và khả năng xử trí nhanh chóng. Mục tiêu trước hết của tổ du kích là bảo vệ người bị thương và đưa người ấy đến nơi cấp cứu. Khi máy bay xuất hiện, Hữu phải đồng thời tìm cách bảo đảm an toàn cho đồng đội và đối phó với tình thế bất ngờ. Báo chí đã ghi lại sự kiện này như một chiến công thể hiện sự gan dạ và mưu trí của người chiến sĩ trẻ. Đây cũng là một trong những tư liệu giúp người đọc hình dung rõ hơn về những nhiệm vụ mà lực lượng du kích địa phương phải thực hiện trong những năm chiến tranh.
Sau những hoạt động tại địa phương, Ngô Viết Hữu được điều động về đơn vị V10 thuộc Huyện đội Quế Sơn. Tại đây, ông tiếp tục tham gia nhiều nhiệm vụ chiến đấu. Theo các tư liệu báo chí, năm 1967, ông được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, được đơn vị bình chọn là Chiến sĩ thi đua và cử đi báo công tại tỉnh, Quân khu 5. Những ghi nhận ấy cho thấy quá trình trưởng thành của Hữu trong lực lượng vũ trang. Từ một chiến sĩ trẻ của địa phương, ông dần được giao những nhiệm vụ đòi hỏi kinh nghiệm, khả năng tổ chức và tinh thần trách nhiệm cao hơn.
Năm 1968, Hữu được điều về lực lượng đặc công tỉnh Quảng Nam. Sau đó, ông đảm nhiệm chức Đại đội trưởng Đại đội 1, đơn vị thuộc lực lượng đặc công V16. Đây là bước chuyển quan trọng trong cuộc đời chiến đấu của ông. Nếu hoạt động du kích ở địa phương giúp người chiến sĩ làm quen với nhiệm vụ và chiến trường, thì công tác trong đơn vị đặc công đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn, khả năng phối hợp chặt chẽ và việc giữ bí mật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Người chỉ huy phải nắm chắc tình hình, tổ chức lực lượng và giúp chiến sĩ hiểu rõ công việc được giao.
“Hình ảnh tư liệu về bộ đội đặc công trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.”
Theo bài viết “Người anh hùng đặc công đất Quảng” của Báo Quân đội nhân dân, ông Nguyễn Văn Vân, nguyên Chính trị viên Đội 1 Đặc công tỉnh, là người từng trực tiếp làm việc cùng Ngô Viết Hữu. Qua lời kể của ông Vân được đăng trên báo, Hữu thường xuống các trung đội, tiểu đội để gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và trao đổi về công việc của đơn vị. Những chi tiết này cho thấy bên cạnh hoạt động chiến đấu, việc xây dựng tổ chức và chăm lo cho cán bộ, chiến sĩ cũng là một phần quan trọng trong công việc của người chỉ huy. Trong chiến tranh, sự tin tưởng giữa người chỉ huy và đồng đội có ý nghĩa thiết thực đối với việc phối hợp hành động và hoàn thành nhiệm vụ.
Năm 1969, Đội 1 Đặc công được giao nhiều nhiệm vụ trên chiến trường Quảng Nam. Một trong những trận đánh được tư liệu báo chí nhắc đến là trận Chợ Chiều ở huyện Thăng Bình vào tháng 8 năm 1969. Theo bài viết của Báo Quân đội nhân dân, trong quá trình chuẩn bị, lực lượng đặc công gặp khó khăn khi đối phương sử dụng máy bay thả pháo sáng, khiến việc tiếp cận mục tiêu có nguy cơ bị phát hiện. Tình hình thay đổi buộc người chỉ huy phải xem xét lại phương án và tổ chức lực lượng phù hợp với điều kiện thực tế. Hữu trực tiếp trao đổi với chiến sĩ, củng cố quyết tâm và chỉ huy nhóm còn lại tiếp tục thực hiện nhiệm vụ.
Tư liệu của Báo Quân đội nhân dân ghi nhận cuộc tiến công bắt đầu vào khoảng 3 giờ 15 phút sáng. Sau khi tổ thọc sâu sử dụng lựu đạn và thủ pháo, lực lượng đặc công tiếp tục đánh vào các vị trí phòng thủ. Trong trận đánh, Hữu bị thương nhưng vẫn tiếp tục chỉ huy chiến sĩ. Bài báo ghi lại kết quả chiến đấu của đơn vị, trong đó có việc tiêu diệt đối phương, thu vũ khí và phá hủy các công sự. Đây là một trong những trận đánh thể hiện vai trò chỉ huy của Hữu trong giai đoạn ông đảm nhiệm nhiệm vụ ở lực lượng đặc công tỉnh.
Những năm tiếp theo, đơn vị của Hữu tiếp tục hoạt động tại nhiều địa bàn như Quế Sơn, Thăng Bình, khu vực phía bắc Tam Kỳ và Tiên Phước. Mỗi địa bàn có điều kiện chiến đấu khác nhau, đòi hỏi lực lượng đặc công phải tìm hiểu địa hình, chuẩn bị phương án và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận. Những bài viết về Ngô Viết Hữu ghi nhận ông tham gia chỉ huy nhiều trận đánh trong giai đoạn từ năm 1968 đến năm 1972. Thành tích của ông được đồng đội nhắc lại trong các hồi ức, đồng thời được tổng kết trong những tài liệu về lịch sử lực lượng đặc công tỉnh Quảng Nam.
Trong các tư liệu ấy, hình ảnh Ngô Viết Hữu hiện lên qua những nhiệm vụ cụ thể hơn là qua những lời ca ngợi chung chung. Đó là người chiến sĩ từng cùng đồng đội bảo vệ thương binh, người cán bộ xuống các đơn vị nhỏ để nắm tình hình và người chỉ huy trực tiếp tham gia những trận đánh có nhiều khó khăn. Những công việc ấy cho thấy quá trình trưởng thành của ông diễn ra trong thực tế chiến trường. Các danh hiệu và phần thưởng được trao tặng sau đó là sự ghi nhận đối với thành tích được báo cáo, nhưng để hiểu về cuộc đời ông, cần đặt những danh hiệu ấy bên cạnh các sự kiện và ký ức đã được ghi lại.
Đầu năm 1972, Ngô Viết Hữu được điều động giữ chức Trưởng ban Đặc công Tỉnh đội Quảng Nam. Đây là một nhiệm vụ quan trọng trong lực lượng vũ trang địa phương. Tuy nhiên, khi chiến trường xuất hiện yêu cầu mới, ông vẫn được điều trở lại trực tiếp chỉ huy một trận đánh tại Trà Vu, còn được các bài viết nhắc đến với tên Chà Vu. Theo bài báo của Báo Quân đội nhân dân, đây là trận đánh cuối cùng của ông. Đối phương bố trí lực lượng bảo an và tăng cường quân tại khu vực phòng thủ, khiến công tác chuẩn bị của đơn vị gặp thêm khó khăn.
Trong hoàn cảnh ấy, Hữu cùng cán bộ, chiến sĩ tổ chức chuẩn bị phương án chiến đấu. Tư liệu báo chí ghi lại rằng khi lực lượng đối phương được tăng cường, ông đã động viên đơn vị giữ bí mật, chuẩn bị chu đáo và tận dụng những sơ hở trong cách bố trí của đối phương. Trận đánh diễn ra ngày 13 tháng 4 năm 1972. Theo bài viết của Báo Quân đội nhân dân, sau khoảng 15 phút chiến đấu, Đội 1 Đặc công đã đánh vào các vị trí được giao, gây thiệt hại cho lực lượng đối phương. Trên đường rút quân, Ngô Viết Hữu trúng pháo và hy sinh.
Sự hy sinh ấy khép lại cuộc đời chiến đấu của một người cán bộ còn rất trẻ. Ông ra đi khi mới khoảng 24 tuổi, sau nhiều năm tham gia hoạt động cách mạng và chiến đấu trên chiến trường Quảng Nam. Những người đồng đội tiếp tục công việc của đơn vị, còn gia đình ở quê nhà phải đối diện với thêm một mất mát lớn. Người anh Ngô Viết Tiến đã hy sinh năm 1970, nay đến lượt Ngô Viết Hữu nằm lại chiến trường. Người em trai Ngô Viết Tường vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng và cũng hy sinh vào năm 1973. Những sự kiện ấy cho thấy chiến tranh đã để lại những mất mát nặng nề đối với gia đình ông Ngô Châu và bà Nguyễn Thị Tạ.
Sau khi Ngô Viết Hữu hy sinh, thành tích chiến đấu của ông tiếp tục được tổng kết. Ngày 3 tháng 6 năm 1976, Nhà nước truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Danh hiệu ấy ghi nhận những đóng góp và thành tích của ông trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong các bài viết về lịch sử lực lượng đặc công tỉnh Quảng Nam, Ngô Viết Hữu được nhắc đến như một cán bộ chỉ huy có nhiều chiến công. Những thông tin về quá trình công tác, các phần thưởng và những trận đánh mà ông tham gia tạo nên cơ sở để thế hệ sau tìm hiểu cuộc đời của người chiến sĩ quê Nghi Sơn.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở thành tích chiến đấu của một người anh hùng, câu chuyện về Ngô Viết Hữu sẽ chưa đầy đủ. Phía sau ông là một gia đình đã trải qua nhiều năm tháng mất mát. Sau khi chồng qua đời, bà Nguyễn Thị Tạ tiếp tục nuôi các con và tham gia công tác phụ nữ ở địa phương. Theo bài viết “Chuyện dưới chân Hòn Tàu” của Báo Đà Nẵng, bà còn tham gia quyên góp lương thực, thực phẩm hỗ trợ bộ đội. Trong hoàn cảnh chiến tranh, những công việc hậu cần và vận động nhân dân có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động của lực lượng cách mạng. Những việc làm ấy cho thấy đóng góp của người dân không chỉ nằm ở chiến trường mà còn ở các hoạt động hỗ trợ, nuôi dưỡng và bảo vệ lực lượng.
Bi kịch của gia đình tiếp tục diễn ra khi Ngô Viết Tường hy sinh năm 1973. Theo tư liệu của Báo Đà Nẵng, bà Nguyễn Thị Tạ cũng hy sinh khi đang trên đường thực hiện công việc quyên góp gạo cho du kích. Sau những mất mát ấy, người con gái út Ngô Thị Thuật trở thành người còn lại trong gia đình. Báo chí ghi lại quá trình đồng đội và những người có trách nhiệm ở địa phương tìm cách chăm sóc, giúp đỡ cô trong hoàn cảnh chiến tranh. Câu chuyện về gia đình này không chỉ phản ánh sự hy sinh của những người trực tiếp cầm súng, mà còn cho thấy những tổn thất mà chiến tranh để lại đối với người thân ở hậu phương.
Sau ngày đất nước thống nhất, những đóng góp của gia đình ông Ngô Châu và bà Nguyễn Thị Tạ dần được ghi nhận thông qua hồ sơ và các danh hiệu do Nhà nước trao tặng. Theo Báo Đà Nẵng, bà Nguyễn Thị Tạ được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; các thành viên trong gia đình được công nhận liệt sĩ và được trao tặng những phần thưởng theo hồ sơ chính sách. Những ghi nhận ấy là cơ sở để câu chuyện về gia đình tiếp tục được kể lại, không chỉ như ký ức riêng của người thân mà còn như một phần lịch sử của địa phương.
Một dấu mốc quan trọng trong việc gìn giữ ký ức về gia đình là việc xây dựng Nhà tưởng niệm Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Viết Hữu tại thôn Nghi Sơn. Theo Báo Quân đội nhân dân, công trình hoàn thành ngày 22 tháng 12 năm 2016 với sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương và Ban Liên lạc Đặc công V16. Việc xây dựng nhà tưởng niệm xuất phát từ mong muốn của gia đình và sự giúp đỡ của những người từng gắn bó với đơn vị. Đây là nơi lưu giữ ký ức về Ngô Viết Hữu cùng các thành viên trong gia đình đã hy sinh trong chiến tranh.
Từ khi công trình được xây dựng, câu chuyện về người anh hùng đặc công quê Nghi Sơn có thêm một địa điểm cụ thể để người dân và thế hệ trẻ tìm hiểu. Nhà tưởng niệm không chỉ gắn với việc thờ phụng, tri ân, mà còn là nơi nhắc nhớ về lịch sử của một gia đình và vùng quê đã trải qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Những tư liệu báo chí, hồ sơ lịch sử và hình ảnh được lưu giữ tại địa phương có thể giúp bổ sung thêm thông tin về cuộc đời Ngô Viết Hữu, về những người đồng đội và về hoạt động của lực lượng đặc công trên chiến trường Quảng Nam.
Ngày nay, địa giới hành chính đã thay đổi, những địa danh trong các tài liệu cũ có thể khác với tên gọi hiện nay. Làng Nghi Sơn và xã Quế Hiệp trước đây thuộc vùng đất Quế Sơn, nay gắn với địa bàn xã Quế Sơn Trung. Việc tìm hiểu lịch sử các địa phương cũ vì thế có ý nghĩa quan trọng, giúp thế hệ trẻ hiểu rằng truyền thống của quê hương hiện tại được hình thành từ nhiều vùng đất và nhiều thế hệ. Những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ vẫn cần được ghi chép, đối chiếu và gìn giữ dù địa giới hành chính có thay đổi.
Với đội viên và thiếu nhi xã Quế Sơn Trung, việc tìm hiểu về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Viết Hữu là dịp để biết thêm một nhân vật lịch sử có thật của quê hương. Từ một thanh niên ở làng Nghi Sơn, ông tham gia du kích, trưởng thành trong lực lượng vũ trang và đảm nhiệm những nhiệm vụ chỉ huy trên chiến trường. Ông hy sinh năm 1972 và được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1976. Những thông tin ấy, cùng câu chuyện về gia đình ông Ngô Châu và bà Nguyễn Thị Tạ, tạo nên một phần ký ức lịch sử cần được bảo tồn và truyền lại.
Lịch sử không chỉ được lưu giữ trong những cuốn sách dày hay những tấm bia ghi danh. Lịch sử còn hiện diện trong những địa danh, những ngôi nhà tưởng niệm, những bức ảnh cũ và những lời kể được truyền lại qua nhiều thế hệ. Đối với Ngô Viết Hữu, những nguồn tư liệu ấy giúp người đọc hình dung về một người chiến sĩ đã trưởng thành qua thực tế chiến đấu, về những đồng đội đã cùng ông thực hiện nhiệm vụ và về gia đình đã chịu nhiều mất mát trong chiến tranh. Mỗi câu chuyện được xác minh, mỗi tư liệu được bảo quản cẩn thận đều góp phần giúp quá khứ không bị lãng quên.
Từ làng Nghi Sơn xưa đến xã Quế Sơn Trung hôm nay, tên tuổi Ngô Viết Hữu vẫn gắn với lịch sử đấu tranh cách mạng của vùng đất Quế Sơn. Ông được ghi nhớ qua những chiến công được báo chí và tư liệu lịch sử ghi lại, qua danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và qua nhà tưởng niệm tại quê nhà. Cuộc đời ông khép lại trong chiến tranh, nhưng những thông tin về ông vẫn tiếp tục được tìm hiểu, kiểm chứng và lưu giữ.
Tìm hiểu câu chuyện về Ngô Viết Hữu không chỉ là nhớ lại một người anh hùng, mà còn là dịp để thế hệ hôm nay hiểu thêm về những con người đã sống và chiến đấu trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của đất nước. Qua câu chuyện ấy, mỗi người có thể thêm trân trọng cuộc sống hòa bình, quan tâm hơn đến lịch sử quê hương và có ý thức gìn giữ những tư liệu chân thực về các thế hệ đi trước. Đó cũng là cách để những câu chuyện lịch sử được tiếp nối bằng sự hiểu biết, lòng trân trọng và trách nhiệm của người trẻ đối với quê hương mình.
Tài liệu tham khảo/nguồn thông tin:
1. Tên bài viết: “Người anh hùng đặc công đất Quảng”; tác giả: Trần Văn Giáp; Báo Quân đội nhân dân, chuyên trang Sự kiện và Nhân chứng; đăng ngày 11/3/2017. Đường dẫn: https://sknc.qdnd.vn/nhan-vat/nguoi-anh-hung-dac-cong-dat-quang-500520
2. Tên bài viết: “Chuyện dưới chân Hòn Tàu”; tác giả: Ngô Phú Thiện; Báo Đà Nẵng; đăng ngày 16/12/2016. Đường dẫn: https://baodanang.vn/chuyen-duoi-chan-hon-tau-3100377.html
3. Tên bài viết: “Đại đội trưởng anh hùng”; Báo Đà Nẵng; đăng ngày 29/10/2013. Đường dẫn: https://baodanang.vn/dai-doi-truong-anh-hung-3035480.html
4. Tên tài liệu: “Dự thảo đề án đặt đổi tên đường năm 2011”; Báo Công an Đà Nẵng. Đường dẫn: https://cadn.com.vn/print/du-thao-de-an-dat-doi-ten-duong-nam-2011-post80227.html
Ảnh 1 – Nhà tưởng niệm Ngô Viết Hữu. Đường dẫn: https://sknc.qdnd.vn/nhan-vat/nguoi-anh-hung-dac-cong-dat-quang-500520?utm_source=chatgpt.com
Ảnh 2 – Núi Hòn Tàu và quê hương Quế Sơn. Đường dẫn: https://baodanang.vn/qua-can-cu-hon-tau-3094640.html?utm_source=chatgpt.com
Ảnh 3 – Lực lượng du kích trong kháng chiến. Đường dẫn: https://daidoanket.vn/ky-niem-ngay-giai-phong-hoan-toan-tinh-quang-nam-quang-ngai-10302136.html?utm_source=chatgpt.com
Ảnh 4 – Bộ đội đặc công. Đường dẫn: https://znews.vn/dac-cong-viet-nam-thien-chien-ngoai-suc-tuong-tuong-post351100.html?utm_source=chatgpt.com
NGÔ VIẾT HỮU – NGƯỜI ANH HÙNG ĐẶC CÔNG TRÊN QUÊ HƯƠNG QUẾ SƠN TRUNG
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Ngô Viết Hữu; sinh năm 1948; quê quán làng Nghi Sơn, xã Sơn Trung trước đây, nay thuộc địa bàn xã Quế Sơn Trung, thành phố Đà Nẵng; tham gia cách mạng từ khi còn trẻ, từng đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ trong lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam; hy sinh trong tháng 4 năm 1972 khi chỉ huy đơn vị chiến đấu. Ngày 3 tháng 6 năm 1976, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trên quê hương Quế Sơn Trung, những địa danh như Nghi Sơn, Lộc Đại, Quế Hiệp, Quế Mỹ và Quế Thuận không chỉ gắn với cuộc sống lao động bình dị của người dân mà còn lưu giữ những dấu ấn của một thời đấu tranh cách mạng đầy gian khổ. Trong những năm tháng chiến tranh, nhiều người con của vùng đất này đã rời mái nhà thân thuộc, tham gia hoạt động cách mạng, chiến đấu bảo vệ quê hương và góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Có người trở về sau ngày đất nước hòa bình, có người đã mãi mãi nằm lại trên chiến trường. Tên tuổi và những đóng góp của họ trở thành một phần không thể tách rời trong lịch sử địa phương.
Trong số những người con ưu tú ấy có Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Ngô Viết Hữu, người chiến sĩ đặc công quê ở làng Nghi Sơn, xã Sơn Trung trước đây. Cuộc đời ông tuy ngắn ngủi nhưng gắn với nhiều chiến công trên chiến trường Quảng Nam. Từ một thanh niên tham gia phong trào cách mạng ở quê nhà, ông từng bước trưởng thành trong chiến đấu, trở thành người chỉ huy được đồng đội tin tưởng. Ông đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, để lại niềm tiếc thương cho gia đình, đồng đội và quê hương. Ngày nay, Nhà tưởng niệm Anh hùng Ngô Viết Hữu tại thôn Nghi Sơn là nơi nhắc nhớ các thế hệ về sự cống hiến của người chiến sĩ đặc công trên mảnh đất Quế Sơn.
Theo bài viết “Người anh hùng đặc công đất Quảng” đăng trên Báo Quân đội nhân dân, ông Ngô Viết Hữu sinh năm 1948 trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Cha ông là ông Ngô Châu, mẹ là bà Nguyễn Thị Tạ. Gia đình quê ở làng Nghi Sơn, xã Sơn Trung, địa danh thuộc xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn trước đây. Cha ông từng tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau đó, trong hoàn cảnh chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp những người từng tham gia kháng chiến, ông Ngô Châu bị bắt, bị đánh đập và giam cầm. Những trận đòn khiến ông lâm bệnh nặng rồi qua đời.
Nỗi đau mất chồng đặt lên vai bà Nguyễn Thị Tạ trách nhiệm nuôi các con trưởng thành. Cuộc sống gia đình vốn đã nhiều khó khăn, nay càng thêm vất vả. Bà tần tảo chăm lo cho các con, còn những người con trong gia đình biết yêu thương, đùm bọc nhau. Theo tư liệu của Báo Quân đội nhân dân, các anh em Ngô Viết Tiến, Ngô Viết Hữu, Ngô Viết Tường và Ngô Thị Thuật luôn hiếu thuận với mẹ, cùng nhau vượt qua những thiếu thốn của cuộc sống.
Hoàn cảnh gia đình ấy là một phần quan trọng giúp chúng ta hiểu hơn về con đường trưởng thành của Ngô Viết Hữu. Ông lớn lên tại một vùng quê đã trải qua chiến tranh và có những người thân trực tiếp chịu ảnh hưởng của cuộc đấu tranh cách mạng. Tuy nhiên, cần tránh suy diễn rằng hoàn cảnh gia đình tự nó quyết định toàn bộ con đường của một con người. Điều có thể khẳng định từ tư liệu là truyền thống tham gia kháng chiến của người cha, những mất mát mà gia đình phải gánh chịu và sự trưởng thành của các anh em đã tạo nên bối cảnh đặc biệt trong cuộc đời người chiến sĩ trẻ.
Đầu năm 1965, xã Quế Hiệp được giải phóng. Trước tình hình cách mạng tại địa phương, những người con trong gia đình lần lượt xin tham gia hoạt động cách mạng. Người anh Ngô Viết Tiến vào du kích trước, sau đó được giao những nhiệm vụ quan trọng hơn trong lực lượng vũ trang của huyện. Ngô Viết Hữu cũng xin mẹ cho tham gia Đoàn Thanh niên xã rồi được bổ sung vào lực lượng du kích. Người em Ngô Viết Tường tiếp bước các anh, tham gia du kích và sau đó được điều động lên đơn vị cấp huyện.
Sự lựa chọn ấy diễn ra khi đất nước vẫn đang trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Đối với một thanh niên còn rất trẻ, tham gia lực lượng cách mạng đồng nghĩa với việc chấp nhận xa gia đình, sống và làm nhiệm vụ trong điều kiện thiếu thốn, luôn phải đối mặt với hiểm nguy. Những người trẻ như Ngô Viết Hữu không chỉ phải học cách sử dụng vũ khí hay thực hiện nhiệm vụ chiến đấu mà còn cần rèn luyện kỷ luật, tinh thần đồng đội, khả năng bình tĩnh và trách nhiệm đối với những người cùng đơn vị.
Những ngày đầu tham gia du kích là bước khởi đầu trong quá trình trưởng thành của ông. Một trong những nhiệm vụ được tư liệu ghi lại là phụ trách tổ du kích đưa một thương binh nặng đi cấp cứu. Đường đến bệnh xá phải băng qua một cánh đồng rộng, nơi máy bay đối phương thường hoạt động và bắn phá. Trong lúc tổ du kích đang đưa thương binh qua cánh đồng, máy bay xuất hiện. Trước tình huống nguy hiểm, Ngô Viết Hữu chỉ huy đồng đội chuyển thương binh vào rừng, còn mình tìm cách đối phó với máy bay. Tư liệu của Báo Quân đội nhân dân cho biết trong tình huống ấy, ông đã dùng súng bắn rơi một chiếc trực thăng HU-1A, chiếc còn lại nhanh chóng bay đi.
Câu chuyện cho thấy nhiệm vụ của người chiến sĩ cách mạng không chỉ là trực tiếp chiến đấu với đối phương. Họ còn phải bảo vệ đồng đội, đưa thương binh đến nơi cứu chữa và tìm cách hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện nguy hiểm. Đối với người chỉ huy, sự bình tĩnh và khả năng quyết định trong thời điểm khó khăn có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của cả tổ công tác. Qua sự việc được ghi lại, Ngô Viết Hữu đã thể hiện sự mưu trí và tinh thần trách nhiệm ngay từ khi còn hoạt động trong lực lượng du kích địa phương.
Những trải nghiệm trong thực tế chiến đấu giúp ông trưởng thành. Năm 1967, ông được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, được đơn vị bầu là Chiến sĩ thi đua và cử đi báo công ở tỉnh, Quân khu 5. Những phần thưởng ấy là sự ghi nhận đối với thành tích và tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ trẻ. Chúng cũng phản ánh quá trình ông được đơn vị tin tưởng giao nhiệm vụ ngày càng quan trọng hơn.
Đến năm 1969, Tỉnh đội Quảng Nam điều ông về làm Đại đội trưởng Đại đội 1, thuộc Tiểu đoàn Đặc công V16. Trong quá trình tổ chức lại lực lượng, đơn vị có những thay đổi về tên gọi và cơ cấu. Dù đảm nhiệm chức vụ nào, trách nhiệm của người chỉ huy vẫn là tổ chức lực lượng, nắm tình hình, xây dựng phương án chiến đấu và bảo đảm sự phối hợp giữa các chiến sĩ.
Báo Quân đội nhân dân dẫn lời hồi tưởng của ông Nguyễn Văn Vân, nguyên Chính trị viên Đội 1 Đặc công tỉnh, một người đồng chí từng gắn bó với Ngô Viết Hữu. Theo lời kể được đăng trên báo, ông Hữu thường xuyên xuống các trung đội, tiểu đội để trao đổi với cán bộ, chiến sĩ, tìm hiểu tâm tư và nguyện vọng của anh em. Ông cũng chú trọng việc chăm lo đời sống bộ đội, rút kinh nghiệm từ những trận đánh và hướng dẫn chiến sĩ rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật.
Những chi tiết này giúp người đọc hiểu rõ hơn về phẩm chất của một người chỉ huy. Khả năng chiến đấu là điều quan trọng, nhưng một đơn vị còn cần sự đoàn kết, kỷ luật và niềm tin giữa người chỉ huy với chiến sĩ. Người chỉ huy biết lắng nghe đồng đội, quan tâm đến điều kiện sinh hoạt và nghiêm khắc với bản thân sẽ góp phần xây dựng tập thể vững mạnh. Đây cũng là bài học có ý nghĩa đối với học sinh hôm nay: khi tham gia một tập thể, mỗi người cần biết lắng nghe, chia sẻ trách nhiệm và đặt lợi ích chung bên cạnh lợi ích của bản thân.
Tháng 8 năm 1969, Đội 1 Đặc công nhận nhiệm vụ đánh chốt điểm Chợ Chiều ở huyện Thăng Bình. Đây là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động quân sự của tỉnh. Theo bài viết trên Báo Quân đội nhân dân, kế hoạch chiến đấu được tổ chức thành nhiều mũi tiếp cận mục tiêu. Tuy nhiên, việc đối phương liên tục sử dụng máy bay thả đèn dù và pháo sáng khiến các mũi gặp khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, một mũi gồm bảy chiến sĩ do Ngô Viết Hữu trực tiếp chỉ huy tiếp tục thực hiện nhiệm vụ.
Tư liệu ghi lại rằng đến khoảng 3 giờ sáng, khi đối phương ngừng thả pháo sáng, ông nhận định đó là thời điểm thuận lợi để tiếp tục triển khai kế hoạch. Ông đến từng chiến sĩ, bổ sung nhiệm vụ và động viên tinh thần quyết tâm. Khoảng 3 giờ 15 phút, tổ thọc sâu bắt đầu tiến công. Theo tường thuật của bài báo, đơn vị đã nhanh chóng đánh vào các vị trí phòng thủ, gây bất ngờ cho đối phương và hoàn thành nhiều mục tiêu chiến đấu. Ngô Viết Hữu dù bị thương vẫn tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu.
Trận đánh Chợ Chiều là một trong những sự kiện được tư liệu sử dụng để phản ánh năng lực chỉ huy và tinh thần chiến đấu của ông. Khi kể lại một trận đánh lịch sử, người viết cần phân biệt rõ giữa dữ kiện đã được ghi chép và những chi tiết không có tài liệu xác nhận. Bài viết này không thêm lời thoại hay miêu tả tâm trạng của các chiến sĩ ngoài những gì nguồn tư liệu ghi lại. Cách làm ấy giúp câu chuyện giữ được tính chân thực, đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với những người đã trực tiếp trải qua chiến tranh.
Sau trận đánh đó, đơn vị của Ngô Viết Hữu tiếp tục hoạt động trên các địa bàn Quế Sơn, Thăng Bình, Bắc Tam Kỳ và Tiên Phước. Những địa danh này gắn với nhiều hoạt động quân sự trong thời kỳ kháng chiến. Đối với một người chỉ huy đặc công, mỗi nhiệm vụ đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng, khả năng phối hợp giữa các chiến sĩ và sự linh hoạt trước những thay đổi của tình hình. Thành tích của đơn vị không chỉ đến từ một cá nhân mà còn là kết quả của quá trình rèn luyện, phối hợp và chiến đấu của cả tập thể.
Theo tư liệu được Báo Quân đội nhân dân đăng tải, khi tuổi đời còn rất trẻ, Ngô Viết Hữu đã nhiều lần được công nhận là Dũng sĩ, ba lần là Chiến sĩ thi đua và được tặng nhiều Huân chương Chiến công. Những danh hiệu ấy phản ánh sự ghi nhận của tổ chức đối với thành tích chiến đấu của ông. Tuy nhiên, nếu chỉ nhắc đến số lượng phần thưởng, người đọc sẽ khó hình dung đầy đủ về con người và trách nhiệm mà ông đã đảm nhận. Điều đáng chú ý hơn là quá trình một thanh niên từ lực lượng du kích địa phương trưởng thành thành người chỉ huy đặc công, được đồng đội tin cậy và giao những nhiệm vụ quan trọng.
Năm 1972, chiến trường Quảng Nam tiếp tục diễn ra những hoạt động quân sự quyết liệt. Ngô Viết Hữu được điều động đảm nhiệm công việc tại bộ phận đặc công của Tỉnh đội. Trước một trận đánh quan trọng, ông được giao trở lại trực tiếp chỉ huy đơn vị. Theo bài viết của Báo Quân đội nhân dân, tại mục tiêu ở Trà Vu, lực lượng đối phương tăng cường quân số so với dự kiến ban đầu. Đơn vị phải điều chỉnh kế hoạch và chuẩn bị kỹ lưỡng hơn trước khi thực hiện nhiệm vụ.
Trong trận đánh cuối cùng của ông, Đội 1 Đặc công đã tiến công mục tiêu và gây thiệt hại cho đối phương. Khi đơn vị rút quân, Ngô Viết Hữu trúng pháo và hy sinh. Sự ra đi của ông là mất mát lớn đối với đồng đội, những người đã cùng ông trải qua nhiều năm tháng chiến đấu. Ông hy sinh khi tuổi đời còn trẻ, chưa có cơ hội trở về sống trong những ngày đất nước hoàn toàn hòa bình.
Một số tài liệu công khai ghi ngày hy sinh của Ngô Viết Hữu khác nhau. Bài viết của Báo Quân đội nhân dân ghi trận đánh cuối cùng diễn ra ngày 13 tháng 4 năm 1972, trong khi một tư liệu của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam trước đây ghi ngày 15 tháng 4 năm 1972. Vì chưa có hồ sơ gốc để đối chiếu, bài viết không khẳng định một ngày cụ thể là chính xác tuyệt đối. Khi hoàn thiện bài dự thi, người viết cần kiểm tra hồ sơ liệt sĩ hoặc hồ sơ lưu niệm chính thức để xác định mốc thời gian thống nhất.
Sau khi hy sinh, những đóng góp của Ngô Viết Hữu tiếp tục được ghi nhận. Ngày 3 tháng 6 năm 1976, ông được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Danh hiệu ấy ghi nhận quá trình chiến đấu và những thành tích đặc biệt của người chiến sĩ đặc công quê hương Quế Sơn. Đối với gia đình ông, sự hy sinh của người con là nỗi đau không thể bù đắp. Theo bài viết trên Báo Quân đội nhân dân, mẹ ông cũng chịu nhiều mất mát trong chiến tranh; những người con trai lần lượt hy sinh, còn bà vẫn kiên cường nuôi con và tham gia phong trào phụ nữ ở địa phương trước khi hy sinh trong một lần đi quyên góp gạo nuôi du kích.
Câu chuyện gia đình Ngô Viết Hữu cho thấy chiến tranh không chỉ lấy đi sinh mạng của những người trực tiếp cầm súng. Chiến tranh còn để lại những khoảng trống trong mỗi mái nhà, những đứa trẻ mất cha mẹ và những người thân phải sống tiếp với ký ức đau thương. Khi tìm hiểu lịch sử, chúng ta cần nhìn nhận sự hy sinh của các anh hùng trong mối liên hệ với gia đình và cộng đồng của họ. Điều đó giúp lòng biết ơn trở nên sâu sắc hơn, không chỉ dừng ở việc ghi nhớ chiến công mà còn trân trọng những mất mát mà người ở lại đã phải chịu đựng.
Nhiều năm sau ngày giải phóng, gia đình Ngô Viết Hữu vẫn mong muốn có một nơi thờ tự để tưởng nhớ người thân. Theo Báo Quân đội nhân dân, sau những khó khăn trong việc lưu giữ giấy tờ và những mất mát do chiến tranh để lại, gia đình đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền địa phương và Ban Liên lạc Đặc công V16. Ngày 22 tháng 12 năm 2016, Nhà tưởng niệm Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Viết Hữu và gia đình được hoàn thành tại quê nhà.
Sự ra đời của nhà tưởng niệm có ý nghĩa đặc biệt đối với gia đình và quê hương. Đó không chỉ là nơi tưởng nhớ một người chiến sĩ đã hy sinh mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Khi đến thăm nơi này, học sinh có thể tìm hiểu về cuộc đời của một người con quê hương, về những năm tháng chiến tranh và về trách nhiệm của cộng đồng trong việc gìn giữ ký ức lịch sử.Ngày nay, xã Quế Sơn Trung được hình thành trên cơ sở sắp xếp các địa phương trước đây, trong đó có Quế Hiệp. Những thay đổi về địa giới hành chính khiến tên gọi của một số địa danh không còn giống như trước, nhưng giá trị lịch sử của vùng đất vẫn được gìn giữ. Thôn Nghi Sơn và nhà tưởng niệm Ngô Viết Hữu là một phần trong không gian lịch sử ấy. Việc xác định đúng địa danh ở từng thời kỳ giúp học sinh hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa lịch sử địa phương trước đây và địa bàn xã Quế Sơn Trung ngày nay.
Đối với đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, tìm hiểu về Anh hùng Ngô Viết Hữu không chỉ là ghi nhớ một tên tuổi. Câu chuyện của ông còn giúp chúng ta hiểu giá trị của tinh thần trách nhiệm, sự dũng cảm, tính kỷ luật và lòng trung thành với nhiệm vụ. Trong hoàn cảnh chiến tranh, những phẩm chất ấy được thể hiện qua việc bảo vệ đồng đội, hoàn thành nhiệm vụ và sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu chung. Trong cuộc sống hòa bình, học sinh có thể rèn luyện những phẩm chất đó bằng cách học tập nghiêm túc, đoàn kết với bạn bè, giúp đỡ người gặp khó khăn và có trách nhiệm với công việc được giao.
Việc tìm hiểu lịch sử cũng nhắc nhở mỗi đội viên phải biết trân trọng sự thật. Một bài viết về nhân chứng lịch sử không nên thêm những lời nói hay sự kiện chưa được kiểm chứng chỉ để làm câu chuyện hấp dẫn hơn. Nếu có cơ hội gặp người thân của Anh hùng Ngô Viết Hữu, người quản lý nhà tưởng niệm hoặc những người am hiểu lịch sử địa phương, học sinh nên chuẩn bị câu hỏi, ghi chép cẩn thận và xác nhận lại thông tin trước khi sử dụng. Những bức ảnh, giấy tờ, kỷ vật và hồ sơ có thể giúp câu chuyện đầy đủ hơn, nhưng cần ghi rõ nguồn cung cấp.
Từ cuộc đời Ngô Viết Hữu, chúng ta hiểu rằng lịch sử quê hương được làm nên bởi những con người cụ thể. Họ từng có gia đình, có tuổi trẻ và có những ước mơ riêng, nhưng trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, họ đã chọn con đường cống hiến cho sự nghiệp chung. Sự hy sinh của ông và những người đồng đội đã trở thành một phần trong ký ức của quê hương Quế Sơn. Việc gìn giữ nhà tưởng niệm, tìm hiểu tư liệu và kể lại câu chuyện bằng sự trung thực chính là cách thế hệ hôm nay tiếp nối truyền thống ấy.
Quê hương Quế Sơn Trung hôm nay đang tiếp tục phát triển. Những con đường, trường học và khu dân cư ngày càng đổi mới, nhưng bên cạnh sự phát triển ấy, việc bảo tồn di tích và giáo dục truyền thống vẫn có ý nghĩa quan trọng. Mỗi học sinh có thể bắt đầu bằng những việc nhỏ: tìm hiểu lịch sử địa phương, thăm các địa chỉ đỏ, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, kính trọng người có công và kể lại những câu chuyện đã được xác minh cho bạn bè cùng nghe.
Anh hùng Ngô Viết Hữu đã hy sinh khi tuổi đời còn trẻ, nhưng những đóng góp của ông vẫn được quê hương ghi nhớ. Nhà tưởng niệm tại Nghi Sơn là địa chỉ để người dân và thế hệ trẻ bày tỏ lòng tri ân, đồng thời tìm hiểu về một giai đoạn lịch sử không thể quên. Từ câu chuyện về người chiến sĩ đặc công ấy, mỗi đội viên càng thêm hiểu rằng hòa bình hôm nay là thành quả được xây dựng bằng công sức, lòng dũng cảm và sự hy sinh của nhiều thế hệ.
Giữ gìn ký ức về Anh hùng Ngô Viết Hữu cũng chính là giữ gìn một phần lịch sử quê hương Quế Sơn Trung. Khi những câu chuyện có thật được ghi chép cẩn thận, những di tích được bảo vệ và những người có công được thế hệ trẻ trân trọng, truyền thống yêu nước sẽ tiếp tục được trao truyền. Đó là cách thiết thực để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với các thế hệ cha anh và góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO/NGUỒN THÔNG TIN
1.Tên bài viết: “Người anh hùng đặc công đất Quảng”; tác giả: Trần Văn Giáp; chuyên trang Sự kiện và Nhân chứng, Báo Quân đội nhân dân; đăng ngày 11/3/2017. Đường dẫn: https://sknc.qdnd.vn/nhan-vat/nguoi-anh-hung-dac-cong-dat-quang-500520. Ngày truy cập: 18/10/2026.


