Bài viết

Trịnh Căn

Trịnh Căn (chữ Hán: 鄭根, 18 tháng 7 năm 1633 - 17 tháng 6 năm 1709), thụy hiệu Chiêu Tổ Khang Vương (昭祖康王), là vị chúa Trịnh thứ 4 dưới thời Lê Trung hưng, trong lịch sử Việt Nam.

An Giang07/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Trịnh Căn là con trai trưởng của vị Chúa thứ 3, Hoằng Tổ Dương vương Trịnh Tạc. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã ghi dấu ấn của mình trên chiến trường và tham gia 3 trong số 7 cuộc phân tranh giữa họ Trịnh và họ Nguyễn mà cuối cùng không bên nào giành được thắng lợi quyết định, hai bên lấy sông Gianh làm ranh giới, chia nhau để trị. Năm 1674, Trịnh Căn được phong tước Vương và nắm giữ chính quyền thay cho chúa Trịnh Tạc đã già yếu, đến năm 1682 ông chính thức nối ngôi Chúa sau khi Trịnh Tạc qua đời.

Những năm trị vì của Trịnh Căn, xã hội Đàng Ngoài tương đối ổn định. Họ Trịnh đã tiêu diệt được các thế lực tàn dư nhà Mạc ở Cao Bằng và Chúa Bầu ở Tuyên Quang, đồng thời chấm dứt chiến tranh với họ Nguyễn ở phía nam. Với sự giúp đỡ của các sĩ đại phu có danh vọng lớn như Nguyễn Danh Nho, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Tông Quai, Đặng Đình Tướng,... Trịnh Căn tập trung vào củng cố bộ máy cai trị, phát triển kinh tế, giáo dục để đưa Đàng Ngoài vào một thời kỳ thái bình, thịnh trị; đồng thời ông cũng cố gắng đòi lại các vùng đất ở biên giới bị thổ quan nhà Thanh (Trung Quốc) lấn chiếm song chưa được thành công như mong đợi. Ngoài phương diện chính trị và quân sự, Trịnh Căn cũng quan tâm đến văn hóa, có làm thơ và khuyến khích việc biên soạn sách vở.

Trịnh Căn qua đời vào năm 1709 và ngôi Chúa được truyền cho người cháu chắt của ông là Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương.

Trịnh Căn chào đời vào ngày 18 tháng 7 năm 1633 tại kinh thành Thăng Long. Ông là con trai thứ 4 của Tây quận công Trịnh Tạc, cháu nội của vị Chúa đương nhiệm lúc đó là Thanh vương Trịnh Tráng. Do ba người anh của ông đều chết yểu nên ông được xem là con trưởng của Tây quận công. Mẹ ruột của ông là Vũ Thị Ngọc Lễ, người xã Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, vợ thứ của Trịnh Tạc.

Lúc nhỏ, Trịnh Căn chưa được xem là một ứng cử viên cho việc kế thừa ngôi Chúa, bởi bác cả của ông là Sùng quốc công Trịnh Kiều đã được mở phủ đệ riêng và xét đoán các công việc của nhà nước - một việc làm nhằm khẳng định ngôi Thế tử. Tuy nhiên đến năm 1642, Trịnh Kiều mất mà con ông ta là Tông quận công Trịnh Hoành còn nhỏ tuổi, nên cha của Trịnh Căn mới được lên thay ngôi Thế tử, với tước vị Thái úy Tây quốc công mở phủ Khiêm Định.

Trịnh Căn khi còn trẻ từng phạm tội du cung phải bị giam vào nhà lao, tước tông tịch, đổi sang họ mẹ (Vũ Căn). Sau này ông được chị cùng mẹ là Trịnh Thị Ngọc Thuyên, con dâu nhà họ Đặng đón về che chở. Vũ Căn thân thiết với Yên quận công Đặng Tiến Thự - chồng của bà Ngọc Thuyên và hay gọi ông này là anh. Lại lấy một người vợ họ Nguyễn quê ở thôn Nhơn Trạch, xã Thắng Lãm, huyện Thanh Oai, và hết mực yêu dấu. Sau này khi lên ngôi chúa đã phong bà này làm Hiền phi.

Về sau Vũ Căn cùng với chị gái và anh rể thi hành một ""kế quỷ quyệt"" mà thoát tội, được nhận trở về làm con họ Trịnh. Theo một gia phả của họ Đặng, Trịnh Căn từ vị thế một người bị ruồng bỏ đã được lên ngôi chúa, lấn đoạt những nhân vật tôn thất khác là nhờ người họ Đặng sử dụng thuật đồng bóng.

Trịnh Căn lớn lên trong thời chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh và Nguyễn đang ở cao trào. Thanh Đô vương Trịnh Tráng, ông nội của Trịnh Căn 4 lần mang quân vào nam đều không giành được thắng lợi, hao binh tổn tướng. Tháng 4 năm 1655, chúa Nguyễn cử hai danh tướng là Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật mang quân lần đầu tiên vượt sông Gianh đánh ra bắc, chiếm Bắc Bố Chính và 7 huyện Nghệ An là Kỳ Hoa, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, và Thanh Chương, đẩy quân Trịnh về doanh trại ở An Trường. Đất căn bản Thanh Hoá của cả vua Lê lẫn chúa Trịnh bị uy hiếp dữ dội.

Năm 1655, Trịnh Tạc đích thân ra chỉ huy quân lính cầm cự với họ Nguyễn, nhưng không lâu sau lại về kinh, thay thế bởi Ninh quốc công Trịnh Toàn (con út của chúa Trịnh Tráng và là chú Trịnh Căn), đóng quân ở phía bắc Nghệ An. Toàn đốc quân đánh nhau với quân Nguyễn, tuy ban đầu thắng được hai trận ở Hương Bộc, Đại Nại nhưng sau đó lại bị thua bởi tướng Nguyễn Hữu Tiến và phải lui về giữ An Trường. Tháng 5 năm 1656, Trịnh Căn được gia phong Phó đô tướng thái bảo Phú quận công, mở dinh Tá quốc và được lĩnh ấn Tá Quốc tướng quân, dẫn quân vào Nghệ An để chi viện cho Trịnh Toàn, nhưng theo sử gia Phạm Văn Sơn, mục đích thực sự của ông là kiểm soát và chia bớt quyền hành của Toàn. Ngày 8 tháng 8 năm đó, Trịnh Căn đã có mặt ở Nghệ An và hội ngộ với Trịnh Toàn tại An Trường.

Cuối năm đó, Trịnh Căn với Trịnh Toàn đem quân dưới trướng của mình đóng ở 2 nơi khác nhau: Toàn ở Quảng Khuyến còn Căn ở Bạc Trạc, đều sai quân đào hào đắp lũy, chống giữ những nơi hiểm yếu để thăm dò quân Nguyễn. Ở trong quân, Trịnh Toàn rất được lòng người do hằng ngày ông đều phân phát vàng bạc để lấy lòng tướng sĩ. Vì thế Trịnh Căn có ý nghi là Toàn sẽ làm phản, bèn lui quân về Phù Long, sửa sang dinh lũy và dò xét động tĩnh của Trịnh Toàn.

Đầu năm 1657, Thanh vương Trịnh Tráng chết, Thế tử Tây Định vương Trịnh Tạc lên nối ngôi Chúa. Vì Trịnh Toàn trấn thủ Nghệ An rất được lòng quân, chúa Trịnh Tạc mang lòng nghi kị ông ta, bèn cho người ra Nghệ An đòi Trịnh Toàn về kinh và trách tội là ""bố chết mà không về để tang"". Các thuộc tướng của Trịnh Toàn là Trịnh Bàn, Trương Đắc Danh lo lắng sẽ bị vạ lây do chủ tướng của họ đang gặp nguy hiểm, bèn về hàng quân Nguyễn. Quân lính dưới quyền hai người này ngả theo phe Trịnh Căn cả. Trịnh Toàn lo sợ, bèn đem binh mã của bộ phận mình nộp cho Căn, và cầu xin sự thương tình từ người cháu. Trịnh Căn yêu cầu Trịnh Toàn về kinh để đợi mệnh lệnh. Trịnh Toàn miễn cưỡng trở về thì liền bị bắt giam vào ngục cho đến chết.

Sau khi trừ được Trịnh Toàn thì Trịnh Căn trở thành chỉ huy tối cao của các lực lượng quân Nguyễn ở Nghệ An. Ông lấy Lê Thời Hiến làm Hữu đô đốc, Hoàng Nghĩa Chẩn làm đô đốc đồng tri, Phạm Kiêm Toàn làm Đốc thị; đồng thời và bãi chức tước của Ngô Sĩ Vinh, với lý do ông Vinh làm đốc thị mà không tố cáo mưu đồ ""làm phản"" của Trịnh Toàn."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn