Trịnh Cương
Trịnh Cương (chữ Hán: 鄭棡, 9 tháng 7 năm 1686 – 20 tháng 12 năm 1729), còn có tên khác là Trịnh Chù, thụy hiệu là Hy Tổ Nhân vương (禧祖仁王), là vị chúa Trịnh thứ 5 dưới thời Lê Trung Hưng trong lịch sử Việt Nam.
"Kế nghiệp ông cố là Trịnh Căn, ông cai trị miền bắc Đại Việt trong giai đoạn từ tháng 5 năm 1709 đến tháng 10 năm 1729 tương ứng với các triều vua Lê Dụ Tông (giữ ngôi 1705–1729) và Lê Duy Phường (1729–1732). 20 năm trị vì của ông là thời kỳ thái bình thịnh trị không hề có nạn binh đao. Trịnh Cương chăm chỉ lo việc nước, Chúa trọng dụng ba đại thần rất trẻ và có tài là Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Cơ và Nguyễn Công Hãng, cùng bàn định và ban hành hàng loạt cải cách về chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội nhằm xây dựng một đất nước hùng mạnh. Trên phương diện đối ngoại, Trịnh Cương cũng đạt được một thành tựu nổi bật là đòi lại 120 dặm đất hai châu Vị Xuyên và Thủy Vĩ bị thổ ty Đại Thanh (Trung Quốc) chiếm.
Trong bộ bách khoa Lịch triều hiến chương loại chí, sĩ phu đời Nguyễn Phan Huy Chú đã khen ngợi những thành tích của chúa Trịnh Cương: ""Triều đình đặt nhiều việc pháp độ, kỷ cương rất hẳn hoi đầy đủ, các phương xa đến cống hiến và Trung Quốc trả lại đất đai. Thực là đời rất thịnh"". Tuy nhiên ông ham thích tuần du, đề ra các công trình xây dựng tốn kém để phục vụ nhu cầu cá nhân, khiến nhân dân đói khổ, mầm mống suy vong của triều đình Đại Việt cũng xuất hiện kể từ đó. Năm 1729, Trịnh Cương chết, con là Trịnh Giang nối ngôi, chính quyền Lê trung hưng chính thức đi vào con đường suy vong.
Trịnh Cương sinh ngày 9 tháng 7 năm 1686 dưới triều vua Lê Hi Tông tại Đông Kinh, kinh đô Đại Việt. Ông là con trai thứ 2 của Tấn quốc công Trịnh Bính; cháu nội của Trịnh Vịnh, cháu chắt trưởng của vị Chúa đương nhiệm, Chiêu Tổ Khang vương Trịnh Căn. Mẫu thân của ông là bà Trương Thị Ngọc Chử, người làng Như Quỳnh, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc, là vợ thứ của Trịnh Bính. Thuở nhỏ ông được vợ thứ của Chiêu Tổ là Thuận phi Ngô Ngọc Uyên, nguyên quán ở xã Phượng Lịch (huyện Hoằng Hóa) nuôi dưỡng.
Trong gia đình Trịnh Bính, có Chính phi là Trần Thị Ngọc Nhiên, con gái Liêm quận công Trần Đăng Doanh; và nhiều bà vợ thứ. Bà họ Trần không có con, công tử cả Trịnh Đạc do một bà Thứ phi sinh ra, tuy nhiên vì Thứ phi này xuất thân không rõ ràng (phả ghi: tính thị bất hiển), nên ông Trịnh Đạc không được coi như người đích tự của Trịnh Bính, mà vị trí này chuyển con Trịnh Cương – người con trai thứ 2.
Năm 1700, Trịnh Cương – 15 tuổi, được phong làm Phó tướng Phổ An hầu, năm 1702 thăng Đô đốc Phổ quận công. Ngày 13 tháng 2 năm 1703 cha ông là Trịnh Bính, đang giữ quyền thừa kế ngôi chúa, qua đời. Lúc đó chúa tuổi đã cao mà ngôi thừa tự vẫn chưa ổn định. Được sự tiến cử của hai đại thần là Nguyễn Quý Đức và Đặng Đình Tướng, chúa Trịnh Căn mới đi đến quyết định lập chắt trưởng Trịnh Cương làm thừa tự. Mùa xuân năm 1703, Trịnh Căn xin với vua Lê Hi Tông tiến phong cho Trịnh Cương làm Khâm sai Tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh kiêm Tổng chấp chính, Thái úy An quốc công cho mở phủ Lý quốc, điều này đồng nghĩa với việc Trịnh Cương sẽ là người kế thừa ngôi chúa. Năm đó Trịnh Cương mới 18 tuổi.
Trước kia con trưởng của Chúa Trịnh Căn là Lương Mục công Trịnh Vịnh mất sớm, Chúa dùng con thứ hai là Chưởng Tể công Trịnh Bách làm Thế tử, nhưng rồi Bách cũng chết trước. Lúc này con của Trịnh Vịnh là Trịnh Bính đã trưởng thành, bèn được lập làm kế tự, mở phủ Dực quốc. Đến khi Bính chết thì Trịnh Cương là con của Bính được lập. Việc này khiến 2 người con của Trịnh Bách là Hằng quận công Trịnh Luân, Đĩnh quận công Trịnh Phất lấy làm bất bằng. Họ câu kết với Quỳnh quận công Đào Quang Nhai, Trịnh Lộc hầu Lê Thời Đường, Hân Thọ hầu Nguyễn Quang Phụ mưu làm đảo chính để giết Trịnh Cương. Nhưng có hiệu thảo Nguyễn Công Cơ biết chuyện, tố giác với chúa. Chúa giết Luân và Phất, thăng Nguyễn Công Cơ làm Hữu Thị lang bộ Công.
Ngày 17 tháng 6 năm 1709, Trịnh Căn mất, Trịnh Cương lên nối ngôi. Mùa thu cùng năm, Trịnh Cương giả mệnh nhà vua, tự tiến phong làm Nguyên soái Tổng quốc chính, An Đô vương. Lại nhân Chúa mới lên ngôi nên tha cho dân một nửa thuế tô năm ấy và các thuế còn thiếu lại đã lâu; lại thăng chức cho các quan văn võ, người chức cao, người chức thấp khác nhau.
Vì Trịnh Cương là chắt nối ngôi ông cố, nên việc lễ thờ của hai vị Trịnh Vịnh và Trịnh Bính được đem ra bàn luận. Khi lên ngôi, Chúa đã tôn Trịnh Vịnh là Lương Mục vương, Trịnh Bính là Tấn Quang vương; đến năm 1711 thì bàn việc lập đền. Triều đình có 2 ý kiến, một phe cho rằng Cương nhận ngôi từ Căn là theo lễ đích tôn thừa trọng, không cần tôn sùng Trịnh Vịnh và Trịnh Bính vào thờ ở chính miếu với các tiên Chúa mà thờ riêng ở Hữu miếu, song Tham tụng Nguyễn Quý Đức nói 2 vị ấy là đích tôn dòng trưởng, đáng được thờ ở miếu chính, còn mà đưa ra miếu riêng thì có 5 điều đáng ngờ. Trịnh Cương theo lời của ông ta.
Khi cai trị, Trịnh Cương tỏ ra siêng năng cần mẫn, thường cùng quan Tham tướng Nguyễn Công Hãng bàn soạn công việc, từ đầu canh năm đến mặt trời lặn mới thôi. Do vậy nhà nước Đàng Ngoài rất hùng mạnh.
Khi mới tới canh năm, chúa đã triệu Công Hãng, Anh Tuấn vào phủ bàn việc, tự ông ngồi để đợi. Khi bọn Công Hãng vào, chúa nói:
Chúa bèn bảo hai người ngồi, cho uống nước trà, ung dung hỏi han mọi việc, ngày đã muộn hai người mới ra về.
Đương thời ở Đàng Trong, chúa Nguyễn là Minh vương Nguyễn Phúc Chu từng có ý chinh phạt Bắc Hà, bèn sai người ra Bắc do thám. Các thám tử Đàng Trong thấy được sự cai quản chặt chẽ của Trịnh Cương ở miền Bắc, về tâu với Chúa Minh rằng: ""Trong triều cường thịnh, tướng văn, tướng vũ đều là người giỏi, binh lương đầy đủ, quân bộ, quân thủy đã nhiều lại tinh nhuệ."" Chúa Nguyễn phải bỏ mộng thâu tóm Bắc Hà, hai bên Trịnh, Nguyễn tiếp tục chăm lo củng cố cho tới khi cuộc chiến cuối cùng nổ ra năm 1774."



