Trịnh Doanh
Trịnh Doanh (chữ Hán: 鄭楹, 4 tháng 12 năm 1720 – 12 tháng 5 năm 1767), thụy hiệu Nghị Tổ Ân vương (毅祖恩王), là vị chúa Trịnh thứ 7 thời Lê Trung hưng trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ năm 1740 đến 1767.
"Trịnh Doanh là con trai thứ 4 của Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương và là em trai của Dụ Tổ Thuận vương Trịnh Giang, hai vị Chúa Trịnh thứ 5 và thứ 6. Từ khi còn trẻ ông đã sớm bộc lộ là người có vǎn tài võ lược, được Trịnh Giang rất tin tưởng. Vì chúa Trịnh Giang đã lớn tuổi mà chưa có con trai, lại mắc bệnh mà chán nản với chính sự nên đã giao phó binh quyền cho Trịnh Doanh từ năm 1736, tuy nhiên ông bị Hiệp quận công Hoàng Công Phụ cản trở nên không nắm được thực quyền. Do những chính sách sai lầm của Trịnh Giang khiến triều chính rối ren, phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ khắp Bắc Hà làm lung lay sự thống trị của họ Trịnh. Để cứu vãn tình thế, vào năm 1740, mẹ của Trịnh Giang và Trịnh Doanh là bà Thái phi họ Vũ cùng nhóm đại thần Nguyễn Quý Cảnh, Nguyễn Đình Hoàn lật đổ Trịnh Giang và đưa Trịnh Doanh lên ngôi Chúa.
Trịnh Doanh là một nhà cai trị khéo léo và cũng là một viên tướng có tài cầm quân. Trong những năm đầu trị vì, ông tiến hành cải tổ lại bộ máy chính trị sau những sai lầm dưới thời Trịnh Giang, ban hành các chính sách nhằm chấn hưng đất nước, chấn chỉnh hệ thống quan lại, bãi bỏ các công trình xây dựng xa xỉ nhằm xoa dịu sự bất bình của nhân dân. Đồng thời, Chúa phải đánh dẹp các cuộc nổi dậy của nông dân trong nước. Năm 1751, triều đình Lê - Trịnh đã tiêu diệt được 2 thủ lĩnh nông dân hùng mạnh nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ lúc đó, Nguyễn Hữu Cầu và Nguyễn Danh Phương, tình hình loạn lạc cơ bản đã tạm yên. Lịch sử ghi nhận những năm Trịnh Doanh cầm quyền ở Bắc Hà là những năm ổn định và thịnh đạt. Song những cố gắng của ông đã không thể cứu vãn sự suy tàn của họ Trịnh. Ông qua đời vào năm 1767 và ngôi Chúa được truyền cho người con trai trưởng là Thánh Tổ Thịnh vương Trịnh Sâm.
Trịnh Doanh chào đời vào ngày Mậu Thìn tháng 11 năm Canh Tý, tức 4 tháng 12 năm 1720 dưới triều Lê Dụ Tông. Ông là người con trai thứ 4 của Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương, vị chúa Trịnh thứ 5, mẫu thân là là bà Vũ Thị Ngọc Nguyên, người xã Mĩ Thứ, huyện Đường Yên, trấn Hải Dương, nguyên là vợ thứ của Trịnh Cương với tước hàm là Chiêu viện. Người anh trưởng cùng mẹ với ông chính là Dụ Tổ Thuận vương Trịnh Giang.
Năm 1729, Trịnh Cương qua đời, Trịnh Giang lên nối ngôi. Trong thời gian trị vì, Trịnh Giang đã làm nhiều việc mất lòng người như giết hại vua Lê và nhiều đại thần được trọng vọng; lại sa vào con đường ăn chơi xa xỉ, tin dùng hoạn quan, gian nịnh khiến chính sự ngày càng đổ nát. Đến nửa cuối giai đoạn trị vì của ông, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, thành một làn sóng mạnh mẽ khắp Đàng Ngoài. Các sử gia thường xếp thời kỳ của Trịnh Giang là bắt đầu giai đoạn suy vong của họ Trịnh.
Do lên ngôi đã lâu mà vẫn chưa có con trai, lại muốn có nhiều thời gian cho việc ăn chơi, nên vào năm 1735, Trịnh Giang phong cho Trịnh Doanh - 16 tuổi làm Khâm sai Tiết chế các xứ thủy bộ chư quân, Thái úy Ân quốc công mở phủ Lượng quốc để thay việc nhiếp chính. Trịnh Doanh mỗi tháng ba lần vào các ngày 3, 13 và 23 tiếp kiến trăm quan ở trạch các, để nghe trình bày công việc. Quần thần có điều liên quan tâu lên phủ Lượng quốc thì gọi là cẩn bẩm.
Trong thời gian này, Trịnh Doanh kết thân với hai viên quan nhỏ trong triều là ông Hoàng Ngũ Phúc và ông Đỗ Thế Giai. Hai người này khi chưa gặp thời, có kết giao với một viên hoạn quan. Người hoạn quan ấy thường cho rằng chính sự họ Trịnh đã suy, thường khuyên hai ông nên chọn một hoàng tử trong họ vua Lê để tôn phò, thế nhưng hai ông cho rằng thế họ Trịnh tất phục hưng được. Sau đó ông Đỗ đi ra, gặp Vương đệ Trịnh Doanh đang cùng bọn nội giám ngồi dưới đất mà chơi đá gà, bèn về bẩm với ông Hoàng Ngũ Phúc rằng đây đúng là chân chúa. Vì thế hai người này đem trâu rượu vào yết kiến, được Trịnh Doanh mến tài mà thu nạp. Sau khi đã lên ngôi rồi, Trịnh Doanh dùng Ngũ Phúc đánh dẹp bên ngoài, Thế Giai trông coi bên trong, giặc cướp các nơi đều tiêu trừ được hết. Còn viên hoạn quan nọ sau đi theo các Hoàng tôn nhà Lê khởi nghĩa ở vùng Trấn Ninh.
Sử sách ghi nhận Trịnh Doanh là người sáng suốt, quả quyết, có tài văn võ, từ khi mở phủ tạm giữ chính quyền, rất được lòng mọi người. Tuy nhiên do ông bị Hiệp quận công Hoàng Công Phụ - hoạn quan thân tín của Trịnh Giang ghen ghét nên không nắm được quyền hành. Các công việc triều chính ông đều không dám tự quyết mà đều phải thỉnh hỏi ý Chúa. Còn Chúa từ sau một lần bị sét đánh gần chết thì cho xây cung Thưởng Thị ở xã Hoàng Mai, huyện Thanh Trì và ở luôn đó không ra ngoài nữa, nên việc triều chính rối rắm. Sách Đại Việt Sử ký Tục biên dẫn lại tình cảnh đất nước lúc đó (1741)
Chính vì tình cảnh đó, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, ban đầu chỉ là lẻ tẻ, nhưng về sau phát triển rộng khắp, lôi kéo hàng ngàn, hàng vạn người tham gia như cuộc khởi nghĩa Quách Công Thi ở Lạc Thổ, Nguyễn Dương Hưng ở núi Tam Đảo, Nguyễn Tuyển - Nguyễn Cừ ở Ninh Xá, Vũ Trác Oánh ở Mộ Trạch, Vũ Đình Dung ở Ngân Già, ... đều mượn tiếng phò Lê diệt Trịnh, dân chúng đi theo rất đông, triều đình không sao ngăn cấm được.
Hoàng Công Phụ tìm cách giảm bớt uy quyền của nhiếp chính vương Trịnh Doanh, bảo bá quan khi trình bày việc gì thì không dùng chữ bẩm mà phải dùng chữ thân (trình), chỉ cho Trịnh Doanh ở trong một ngôi nhà nhỏ ở phía nam phủ Chúa gọi là ""để"".
Trước tình hình đó, vào đầu năm 1740, bà Trịnh thái phi Vũ thị (mẹ của Giang và Doanh) quyết định cải tổ chính quyền. Bà triệu giảng thần Nguyễn Quý Cảnh (Kính) và bảo ông này tìm lời khuyên Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang để trừ bỏ họa loạn trong triều đình và phủ Chúa. Quý Cảnh đem việc nói lại, Trịnh Doanh khóc từ chối rằng
Quý Cảnh bèn đem mệnh lệnh của Thái phi bàn với Nguyễn Công Thái và cùng nhau định kế. Các thân thần họ Trịnh là Trịnh Đạc, Trịnh Thiết (tức Vũ Tất Thận) đều có ý đồng tình. Quý Cảnh nhân lúc Hoàng Công Phụ đang đốc quân đánh Nguyển Tuyển ở Ninh Xá mà bỏ ngỏ việc phòng vệ kinh thành, bèn cho gọi hương binh từ các khu vực quanh Thăng Long sung vào làm túc vệ. Vào ngày khai bảo họp các quan phò lập Trịnh Doanh lên làm chúa, nhưng Doanh không nghe. Bọn Cảnh sợ để lâu sinh biến, lại đem chỉ dụ của Thái phi ra khuyên, và tâu xin nhà vua. Vua Lê sai sứ đến dụ bảo 2, 3 lần, Doanh bất đắc dĩ phải nghe theo. Hôm đó bảo tỉ chưa mở, viên gia thần là Tào Thái giữ chức Tư lễ, nhận mật ước xin chỉ của nhà vua đóng vào sắc văn. Đến sáng hôm sau Trịnh Doanh vào triều, bọn Quý Cảnh và Trương Khuông theo xe hộ vệ, các đội thân binh Tứ nghiêm, Tứ kính tướng sĩ đều đeo gươm vác súng. Quan nội giám là Phan Lai hầu lên tiếng hỏi nhưng họ không trả lời. Một lát sau, Tào Thái đem sắc chỉ của nhà vua đến, Trịnh Doanh quỳ xuống nhận sắc. Phan Lai hầu đứng bên cạnh trách mắng, bị Trương Khuông cho giam vào tù, cả triều đình đều im lặng. Nguyễn Công Thái đọc chiếu và ý chỉ của Thái phi, Doanh khóc không dám ngồi lên ngai. Trương Khuông bèn cùng Tả đô đốc Nguyễn Đình Hoàn đỡ Doanh lên bảo tọa, bọn Quý Cảnh đứng đầu hai bên, Nội giám Khuê quận công Giáp Nguyễn Khoa lên lầu nổi trống hiệu, các quan đều xếp hàng lạy mừng, Trịnh Doanh chính thức lên ngôi Chúa, xưng là Nguyên soái, Tổng quốc chính, Minh Đô vương, tôn Trịnh Giang làm Thái thượng vương.
Được tin có biến động, các hoạn quan bảo vệ ở cung Thưởng Trì đem binh lính đến để diệt trừ hương binh của Quý Cảnh và ủng hộ Trịnh Giang làm Chúa như cũ, nhưng đều bị đánh bại, giết chết hết. Sau đó, Chúa sai Nguyễn Đình Hoàn bắt giết đồ đảng thân tín của Hoàng Công Phụ. Công Phụ còn đóng quân ở Vân Giang, hay tin, bèn bỏ trốn đi biệt tích. Sách Cương mục của nhà Nguyễn có lời bình về sự kiện này như sau:"



