Trịnh Liên (1)
Hành quân lên Ba Hồ: phát triển điểm lưới gốc và cắm mốc
Hành quân lên Ba Hồ: phát triển điểm lưới gốc và cắm mốc
3/41072 Sáng 3/4/1972, thông báo từ sở chỉ huy: Tân Lâm 241 hoàn toàn được giải phóng, cờ Giải phóng tung bay trên toàn khu vực Cùa. Tiểu đội trưởng Cơ gọi chúng tôi lên nhận lệnh. Nhiệm vụ của tổ chúng tôi — gồm anh Chiến, anh Bình và tôi — là vượt Đường Chính, tiến lên cao điểm Ba Hồ để đo kiểm tra góc giao hội, biến Ba Hồ thành điểm tam giác đầu tiên phục vụ cho việc phát triển lưới ở giai đoạn tiếp theo. Để tạo và phát triển mạng lưới pháo binh tiến về phía trước, Ba Hồ là điểm đầu tiên được chọn vì vị trí và tầm nhìn rất thuận lợi. Ba Hồ là điểm giải phóng duy nhất có khả năng tiếp cận từ phía đường 9; điểm, Đông Toàn thì gần như bất khả xâm phạm vì địa hình núi dựng đứng.Anh Chiến chỉ huy nhóm. Trước lúc đi, anh Cơ dặn kỹ: trên đường phải cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu vì có thể vẫn còn tàn quân địch; khi lên tới đỉnh Ba Hồ thì bám đường chính để tránh mìn. Chỉ cần đo định hướng, đo góc giao hội về một số điểm tam giác mà nhóm đã phát triển — đo xong thì cắm tiêu đánh dấu điểm, rồi rút. Chúng tôi gấp rút xuất phát.Anh Chiến vốn thạo địa hình nên dẫn đường men theo đường mòn dọc đường 9, đến một đoạn cong thì băng qua nhánh suối đổ ra sông Ba Lòng. Lòng suối rộng, đá cuội lởm chởm, có chỗ trải ra bằng những tấm đá phẳng, xen cát trắng. Ngay phía trên là chân dốc dựng đứng — một thế hiểm hóc: từ cứ điểm Động Toàn trên cao có thể quan sát rõ từng cử động bên dưới. Tôi thầm nghĩ không hiểu bộ đội Sư đoàn 304 đã đánh như thế nào mà chỉ sau hai ngày nổ súng đã tiêu diệt được cứ điểm hiểm yếu ấy. Qua suối, chúng tộ men theo dai đất đá, lau sậy rôjng dọc bên sông, theo đường mòn chừng gần một giờ thi Anh chiến chỉ cho đung tôi leo dốc, tiến vào chân dãy Ba Hồ. Càng lên cao mới thấy rõ đường lên đỉnh dó và hiểm trở. Mọi người quan sát kỹ hai bên, bởi dù khu vực này đã được đặc công Sư 304 giải phóng hai ngày trước, không được chủ quan. Gần đến đỉnh, vết đạn cối còn cày xới mặt đất, mùi thuốc súng khét lẹt. dấu tích một trận đánh ác liệt, nhưng chiến trường đã gần như được dọn sạch. Không một bóng người; cả ta lẫn địch đều đã chuyển về hướng Cùa và Mai Lộc.Chúng tôi vòng qua lớp hàng rào thép gai sát sườn đồi nơi lối vào. Anh Chiến ra lệnh cho tôi và Bình kiểm tra cảnh giới, và khóc dù nguy trang. Khi thấy an toàn, anh phân công tôi sách súng đứng gác. Anh Chiến chọn vị trí thuận lợi giữa đỉnh để đặt máy đo. Xung quanh vẫn còn mùi khét mùi súng đạn, hố đạn cối khá dầy. Giữa trưa, việc đo khá thuận lợi vì các điểm ngắm đều rõ nét. lũ VO 10 cũng vắng bóng. Tôi ôm súng hướng về phía Cửa, thấy từng tốp chuyển động; Cùa Giả phóng nhưng phía xa những trận đánh vẫn diễn ra ác liệt. Chỉ hơn một giờ, công việc đo đã hoàn tất. Anh Chiến tháo máy; Bình nhanh chóng lấy cây sào đã chuẩn bị, cắm ngay vào vị trí đặt máy — thân gỗ thẳng, vót nhọn đầu, cắm trước cửa hầm chính kiên cố ở giữa đỉnh. Bình buộc mảnh vải trắng để làm dấu, phấp phới trước gió. Anh Chiến dặn: không được sục vào hầm, rất nguy hiểm. Cắm xong phải rút ngay. Nhìn vải buộc trên ngọn tiêu tung bay, tôi biết nhiệm vụ đã hoàn thành. Từ đây, điểm tiêu mốc sẽ giúp phát triển mạng lưới tiếp theo; chắc chắn điểm Ba Hồ sẽ là điểm lưới gốc thuận lợi để phát triển. Xong việc, cả ba chúng tôi men theo lối cũ rút về, không nghỉ. Cần phải xuống núi trước khi trời tối.Kết: Hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi xuống núi trong ánh chiều dần tắt. Dẫu mệt, ai cũng nhẹ nhõm — ngọn tiêu trên đỉnh Ba Hồ đã thành dấu mốc chắc chắn cho những trận đánh tiếp theo. Trong lòng tôi vẫn vương mùi khét của thuốc súng, nhắc rằng con đường phía trước sẽ còn nhiều gian nan.Ngày 4/4/1972 — Hành quân cơ giới lên Động Toàn: cắm mốc thứ haiSáng sớm 4/4/1972, dường như mọi người trong chỉ huy sở đều có lệnh di chuyển gấp. Trung đội trắc địa được phân chia lên xe cơ giới hành quân dọc đường 9 — đây là lần đầu tiên chúng tôi hành quân cơ giới dọc tuyến đó. Trời cò mù sương, xe bon bon men theo đường 9, qua những đoạn đương, đia danh lừng danh, cầu khe vạn, cầu đầu Mầu ... Chỉ hơn một giờ, xe lăn bánh vào Cùa và dừng ở vị trí tập kết. Tại đây trung đội điều động, ghép bốn người thành một tổ dã chiến: anh Đăng Cẩn, Nhân, tôi và Triết, do anh Cẩn chỉ huy. Chúng tôi nhanh chóng chuyển sang một chiếc xe khác đã có khá đông; những người còn lại được trung đội điều động làm nhiêm vụ khác. Kế hoạch dường như đã được trung đội sắp xếp từ trước; chúng tôi chỉ theo lệnh lên đường.Chỉ vài phút sau, xe chúng tôi lao đi, dọ theo đường tăng lúc lao về hướng đông nam lúc về phía tây, hướng Động Toàn. Lần này không mang theo máy đo; nhóm chỉ có nhiệm vụ lên cắm mốc. Trên đường, từng tốp F-4 gầm rú trên trời, bắn loạn xạ dọc tuyến, nhưng chúng không dám bay thấp vì hệ thống cao xạ của ta dày đặc. Đến chân rừng phía đông bắc núi Động Toàn, xe dừng cho chúng tôi xuống rồi lao tiếp . Cả tổ bắt đầu leo dốc. Tôi chưa từng công tác với anh Cẩn bao giờ; chỉ có Nhân là cùng tiểu đội với anh. Anh Cẩn phân công tôi và Triết đi trước cắt phương vị. Gần trưa, chúng tôi lên tới ngọn đồi phụ ngay dưới điểm cao Động Toàn. Anh Cẩn ra hiệu cho tôi và Triết ở lại cảnh giới, còn anh cùng Nhân tiến lên phía trước để cắm mốc. Tôi và Triết vòng quan sát quanh những hố đạn cối — mọi thứ yên lặng, chỉ phía sau tiếng súng, chớp lủa vẫn diễn liên hồi. Những tiếng súng, những chớp lửa liên hồi, đôi lúc vọng tiếng gầm rú của F-4. Lúc im lặng lạ thường, chỉ còn tiếng róc rách của khe nước nhỏ.Phía chân đường 9 là vách dựng đứng; về phía đông và đông-nam độ dốc thoải hơn, còn phía tây bắc là con đường yên ngựa dẫn sang khu Ba Hồ. Triết cảnh giới, tôi đi tìm nước để chuẩn bị bữa trưa. Triết luồn xuống khe, nhặt vài vỏ đạn rồi múc nước đem lên. Tôi ôm súng quan sát, hướng nhìn dán về con đường mòn phía đông-nam lên đỉnh — nếu có ai leo lên đó, khó thoát vì các hướng khác đều hiểm trở. Tôi thầm khâm phục lính Sư đoàn 304 — cứ điểm này gần như bất khả xâm phạm mà họ đã tiêu diệt gọn cứ điểm này. Chờ mãi nhưng không thấy Nhân và Cẩn trở về. Không hiểu sao điểm này chưa phải đo, mà sao lâu thế. Trung đội đang cần tiêu để đo nối dẫn tọa độ về Cùa. Nhiệm vụ của chúng tôi là dựng tiêu để trung đội phát triển lưới. Điểm Ba Hồ hôm qua đã được kiểm tra góc giao hội thành góc tam giác; anh Cơ thông báo khép góc tam giác đạ kết quả tốt. Ngọn tiêu đã được cắm, nhưng vẫn chưa thấy bóng hai người. tôi sốt ruột. Triết động viên: “Cứ yên tâm, Cẩn là lính già, có kinh nghiêm, không sao đâu, biết đâu lát có thịt hộp Mỹ đấy.” Lòng tôi nóng như lửa, nhưng không thể làm gì hơn; đành tiến ngược về phía đỉnh để tìm hiểu. Hơn nửa giờ sau, Nhân và Cẩn xuất hiện. Nhìn vẻ mặt lo lắng của tôi, Nhân cười xoa tay: “Không có vấn đề gì. Chỉ gặp một tên lính ngụy bị thương nằm lại; cho nó lương khô, nước và hỏi chuyện. Nó bị thương, lạc đơn vị, bò lên đồi kiếm thức ăn rồi kiệt sức nằm lại. Nhiệm vụ gấp, không thể hỗ trợ lâu hơn nên phải rút.” Triết đã nhanh tay nấu cơm trưa; cơm, sách cạp lồng và hộp thịt chia đều cho mọi người — Triết thật chu đáo. Bỗng trời tối lại, vài hạt mưa rơi; áo mưa quàng qua vai. Chúng tôi phải rút ngay. Khi rút dốc, trượt khá nhanh, bỗng Triết chững lại. Trước mặt là một tên tàn binh, tay che đầu bằng bẹ chuối, đang trao đổi gì đó với Nhân. Cẩn đã vượt lên; tôi lùi lại quan sát phía sau, đẩy chốt an toàn. Quay lại đã thấy Nhân chuyển bánh lương khô cho tên tàn binh và ra hiệu tiếp tục hành quân. Tôi vẫn cảnh giác khi đi qua; tên tàn binh gật đầu cảm ơn. Tình hình khó đoán, súng vẫn lên đạn — dấu hiệu bất thường có thể châm ngòi tai họa bất cứ lúc nào. Mưa càng lúc càng nặng. Khi gần xuống chân đồi, trời bỗng bị xé toạc bởi tiếng bom rơi, nổ; những tiếng nổ chát chúa vang lên gần đó. Nhân la lớn: “Nằm xuống!” Bom bi nổ chậm — nguy hiểm chết người đấy. Đứng lên là chết đấy. Mười phút trôi như hàng giờ. Tôi bật dậy, quan sát rồi tiến ra mép đường để theo dõi tình hình; rút sớm thì ít nguy hiểm hơn, nên chúng tôi chọn hướng rút an toàn nhất.Trời tối nhanh chúng tôi kịp về đến Cùa, anh Cơ cho đón tôi và Triết; Nhân và Cẩn về tập kết cùng khu nhà của trung đội trưởng. Về cơ bản, cả trung đội được bố trí trong nhà và khu vườn của một O du kích tên Lài. Trung đội đóng ở nhà chính; tiểu đội phân tán ở nhà phụ và vườn. Mọi người nhanh chóng dựng hai chiếc hầm chữ A trong khu vườn. Sau khi anh Cơ giao ban, chúng tôi tản ra nghỉ: mắc bạt, mắc võng; người trong nhà nằm chiếu, người ngoài treo võng.Anh Cơ báo: ngày mai tiểu đội phải kết nối tọa độ khu mới; một tổ đo sẽ lên điểm 105, đo giao hội để lấy tọa độ gấp, đồng thời đo góc cho lưới tam giác của mạng lưới pháo binh giai đoạn 2. Các điểm Ba Hồ, Động Toàn, Đông Ngô sẽ là các điểm nối làm điểm gốc. Mục đích của đội là chuyển tọa độ gấp về khu vực trận địa của D2. Vì thời gian gấp, cần kết hợp giao hội phía sau lấy tọa độ và đo nối lưới tam giác cho giai đoạn 2. Theo lệnh trung đội, anh Cơ phân hai nhóm: một nhóm lên đo, một nhóm theo tổ trinh sát xác định khu trận địa chuẩn bị phương án để chuyển tọa độ vào đội D2, có sự phối hợp và trợ giúp của trinh sát D2. Anh Cơ và Triết đi theo tổ trinh sát; Bình, Liên, Chiến lên 105



