Bài viết

Trịnh Sâm

Trịnh Sâm (chữ Hán: 鄭森, 9 tháng 2 năm 1739 – 13 tháng 9 năm 1782), thụy hiệu Thánh Tổ Thịnh vương (聖祖盛王), là vị chúa thứ 8 của vương tộc Trịnh cầm quyền ở miền Bắc Đại Việt thời nhà Lê trung hưng. Ông nắm quyền cai trị từ năm 1767 đến khi qua đời năm 1782.

An Giang07/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Trịnh Sâm chào đời và lớn lên trong hoàn cảnh cơ đồ của họ Trịnh đang bị lung lay dữ dội do những cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi vùng đồng bắc Bắc Bộ. Phụ thân của ông, Nghị Tổ Ân vương Trịnh Doanh đã phải dùng hơn 10 năm mới có thể tạm ổn định được tình hình. Bởi vì thế sự gian nan, vị thế tử Trịnh Sâm ngay từ nhỏ đã được cho ăn học tử tế với kỳ vọng có thể giúp họ Trịnh khôi phục được giai đoạn huy hoàng xưa kia, vì thế mà ông được rèn luyện đức tính thông minh, quả quyết và đôi khi có phần tàn nhẫn. Năm 1753, ông được sách phong Thế tử, đến năm 1758 thì được mở phủ đệ riêng, giúp chúa Trịnh xét đoán các công việc của nhà nước. Năm 1767, sau khi Trịnh Doanh qua đời, ông chính thức lên nối ngôi Chúa.

Trong những năm đầu cai trị, ông chính thức hoàn thành công cuộc đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân còn dang dở dưới thời chúa cha, bên trong thì sửa sang nền chính trị, trọng dụng nhân tài, xây dựng quân đội hùng mạnh. Bởi thế đến năm 1774, nhân tình hình miền nam bất ổn do có cuộc nổi dậy của Tây Sơn, ông đã chớp lấy thời cơ thu phục đất Thuận Hóa là kinh đô của họ Nguyễn, giúp lãnh thổ Đàng Ngoài mở rộng cực đại kể từ khi cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn nổ ra đầu thế kỉ XVII.

Tuy nhiên sau những thành công ban đầu, Chúa Trịnh Sâm dần trở nên tự mãn, kiêu căng, ngày càng sa vào tửu sắc, xa rời thực tế, khiến nền chính trị suy bại, cuộc sống người dân trở nên cơ cực. Ông sủng ái người vợ thứ là Tuyên phi Đặng Thị Huệ, bà lại cùng phe với Huy quận công Hoàng Đình Bảo mà dẫn đến một cuộc xung đột tai tiếng trong gia tộc họ Trịnh giữa con lớn là Thế tử Trịnh Tông với phe quận Huy và Thị Huệ. Vụ án năm Canh Tý nổ ra năm 1780 dẫn đến sự thất thế của Trịnh Tông và quận Huy trở thành người nắm quyền trong chính phủ trong lúc sức khỏe của Trịnh Sâm ngày càng suy yếu; còn ở miền nam, thế lực nhà Tây Sơn đã lớn mạnh và trở thành một mối đe dọa cho cơ đồ nhà Lê - Trịnh. Ông qua đời năm 1782, ngôi Chúa được truyền cho người con nhỏ là Trịnh Cán, mới lên 6 tuổi. Chỉ 5 năm sau, nhà Trịnh sụp đổ.

Trịnh Sâm chào đời vào ngày Bính Tuất, tháng 2 niên hiệu thứ 5 Vĩnh Hựu đời vua Lê Ý Tông, tức 9 tháng 2 năm 1739. Khi đó, cha ông là Trịnh Doanh còn chưa lên ngôi chúa, nhưng đã được Trịnh Giang phong làm Thái úy, Tiết chế quân thủy, quân bộ các xứ, nắm quyền chính trong nước vì Trịnh Giang mắc bệnh và đã chán nản với chính sự. Mẫu thân của ông là bà Nguyễn Đình Thị Diễm, người làng Linh Đường, huyện Thanh Trì, xứ Thăng Long, vợ thứ của Trịnh Doanh, dân gian thường gọi bà là Thứ phi Hoa Dung. Người anh cả của ông, Trịnh Nhuận do Chính phi họ Nguyễn Mậu đẻ ra đã mất từ nhỏ, nên ông thường được coi là trưởng nam của chúa Trịnh Doanh.

Sau cuộc đảo chính năm 1740, Trịnh Doanh lên ngôi Chúa thay cho Trịnh Giang. Trịnh Sâm với tư cách là con trai trưởng của Chúa, trở thành ứng viên đầu tiên cho vị trí nối nghiệp trong tương lai. Năm 1745, theo lệ cũ dành cho trưởng nam trong phủ Chúa, Trịnh Sâm được ra ở phủ riêng, Chúa Trịnh Doanh còn sai Phủ doãn phủ Thuận Thiên là Dương Công Chú và cấp sự trung là Nguyễn Hoàn làm Tả, Hữu tư giảng cho Trịnh Sâm.

Cuối năm 1753, theo đề nghị từ quần thần, Trịnh Doanh chính thức tâu xin vua Lê để sách lập Trịnh Sâm - 14 tuổi, làm thế tử với đầy đủ nghi lễ, và bổ dụng tham tụng Nguyễn Công Thái giữ chức bảo phó để dạy Trịnh Sâm. Đến mùa đông năm 1758, ông lại được tiến phong làm Tiết chế các xứ thủy bộ chư quân, kiêm Chưởng chính cơ, Thái úy Tĩnh quốc công, mở phủ Lượng quốc, quyết định công việc nhà nước. Tư giảng Nguyễn Hoàn dâng 10 bài châm, gồm: Bụng nghĩ phải ngay thẳng; Học hỏi phải rộng khắp; Tề chỉnh việc chính trị trong nước; Phòng ngừa việc đối với người thân cận; Thống nhất căn bản chính sự; Cẩn thận việc sai phái, cất nhắc; Mở rộng việc thu nhận những lời khuyên can; Giữ phép tắc đã sẵn có; Hiệu lệnh phải cho tin thực; Việc nào đáng rộng rãi hay đáng nghiêm ngặt, nên suy xét kĩ; Trịnh Sâm đều tiếp nhận.

Ngày 25 tháng 11 năm 1767, Chúa Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên nối ngôi chúa; bấy giờ đã 28 tuổi. Ngày Đinh Mão tháng 5 năm ấy (31 tháng 5 năm 1767), vua Lê Hiển Tông sai Tham tụng Nguyễn Nghiễm đem sách ấn tiến phong cho ông làm Nguyên soái, tổng quốc chính, Tĩnh Đô vương. Khi nhận sách, chúa khóc đến nỗi nước mắt ướt cả áo, tả hữu ai cũng động lòng. Nhà vua cũng sách phong cho mẹ của ông là Nguyễn thị làm Thái phi.

Phong trào khởi nghĩa nông dân nổ ra từ những năm 1730 đến đây đã bị dập tắt gần hết, chỉ còn hai thế lực của Hoàng Công Chất ở Lai Châu và Lê Duy Mật ở Nghệ An, Trịnh Sâm cũng lập kế hoạch diệt trừ tận gốc.

Mùa đông năm 1767, Hoàng Công Chất đem quân xâm phạm Hưng Hóa và Thanh Hoa. Triều đình sai bọn Trịnh Phương, Nguyễn Trọng Điển, Nguyễn Đình Diễn ra đón đánh, Công Chất phải bỏ chạy. Đến đầu năm 1768, Chất chiếm giữ Bao La. Bấy giờ quân Trịnh có 2 đạo ở Hưng Hóa và Trường Yên đều có vị trí gần với nơi đóng quân của Chất, đình thần đều xin cho hai đạo quân ấy đánh kẹp lại. Chúa Trịnh có ý theo theo, nhưng có tướng Hoàng Phùng Cơ, Lưu thủ Hưng Hóa cho rằng vị trí Bao La hiểm yếu, nếu đánh giáp công dù có thắng thì phản quân lại trốn theo đường Mai Châu, chẳng khác gì đi không về không; kế vạn toàn là cùng tiến theo 4 đạo để chẹn đường rút lui của địch mới có thể toàn thắng. Vì thế lời bàn đánh kẹp lại bị bác bỏ.

Đầu năm 1769, Đoàn Nguyễn Thục không bằng lòng với việc Nguyễn Đình Huấn làm Thống tướng mà không lập được thành tích gì, làm tờ khải kể 10 tội của Đình Huấn. Trịnh Sâm lập tức hạ lệnh triệu Đình Huấn về, mà bổ Nguyễn Thục lên thay, đổi Vũ Huy Đĩnh làm Giám quân, Nguyễn Trọng Hoành làm Tán Lý. Nguyễn Thục tiến quân vào Thanh Châu. Lúc đó Hoàng Công Chất đã chết, con là Hoàng Công Toản cố giữ Thẩm Cô và đặt mai phục ở các nơi hiểm yếu. Đoàn Nguyễn Thục sai toán quân nhanh nhẹn sắc bén tiến lên trước đánh úp, tiếp đó sai toán quân mạnh khỏe theo đường tắt hợp sức cùng đánh, phá tan được quân địch và tiến vào được xứ Mường Thanh. Công Toản chạy sang Vân Nam và từ đó biệt tích. Đoàn Nguyễn Thục đào mả của Hoàng Công Chất, phá quan băm xác rồi lấy hài cốt thiêu thành tro đổ đi, sai người báo tin thắng trận về triều đình. Cuộc khởi nghĩa Hoàng Công Chất kết thúc sau hơn 30 năm tồn tại.

Sau trận đánh Mường Thanh, thổ quan châu Tư Lăng của nhà Thanh tranh chiếm địa giới xã Tĩnh Gia thuộc châu Lộc Bình. Triều đình Đại Việt hạ lệnh cho Phạm Đồng Viện, đốc đồng Lạng Sơn, sai người đi phân giải. Đến năm 1771, quan châu Lộc Bình bèn trả lại đất ấy, sau đó lại đem dâng ngựa để tạ lỗi.

Thủ lĩnh Lê Duy Mật xuất thân từ hoàng tộc nhà Lê, vì bất bình với sự chuyên quyền của họ Trịnh nên đã lập âm mưu đảo chính từ năm 1736 song thất bại và phải lẩn trốn sang miền thượng du, dần tập hợp lực lượng và liên kết với các tù trưởng xứ Bồn Man khiến triều đình Lê - Trịnh nhiều năm không đánh dẹp được."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn