Trịnh Tráng
Thanh vương Trịnh Tráng (chữ Hán: 鄭梉, 6 tháng 8 năm 1577 – 28 tháng 5 năm 1657), thụy hiệu Văn Tổ Nghị vương (文祖誼王), là chúa Trịnh thứ 2 thời Lê Trung hưng chính thức xưng vương khi còn tại vị, nắm thực quyền cai trị miền Bắc nước Đại Việt từ năm 1623 đến 1657. Về chính trị, ông là người củng cố địa vị cai trị của chế độ "vua Lê chúa Trịnh"; về quân sự, thời kỳ ông cầm quyền là bước chuyển căn bản giữa hai cuộc xung đột Nam-Bắc triều và Trịnh-Nguyễn. Đồng thời ông là cậu ruột của vua Lê Thần Tôn
"Trịnh Tráng là con trai thứ 3 của Bình An vương Trịnh Tùng với bà Thứ phi Đặng Thị Ngọc Dao - người làng Lương Xá huyện Chương Đức, con gái của Nghĩa quận công Đặng Huấn. Khi chào đời Trịnh Tráng được ông ngoại là Đặng Huấn đích thân cắt rốn rồi bế về nhà nuôi. Trịnh Tráng do đó sống những năm tháng đầu đời của mình ở nhà ngoại.
Trịnh Tráng đã từng nhiều năm giúp cha thiết lập bộ máy cai trị của họ Trịnh sau khi tiếp quản kinh kỳ Thăng Long từ tay nhà Mạc. Ngay khi Trịnh Tráng chưa lên ngôi, mâu thuẫn giữa họ Trịnh và họ Nguyễn phía nam bắt đầu manh nha hình thành. Ông cậu Nguyễn Hoàng ở phía nam muốn giữ hòa khí với cha ông đã gả con gái là Nguyễn Thị Ngọc Tú cho ông, người mà theo quan hệ họ hàng là cô họ của ông.
Thời trẻ, Trịnh Tráng được nhận phong tước vị Bình quận công, sau đó là Thái phó Thanh quốc công. Do người anh cả của ông là Tín Lễ công Trịnh Túc - do Chính phi Lại Thị Ngọc Nhu sinh ra mất sớm, người anh thứ hai là Trịnh Vân không được tín nhiệm mà nhà họ ngoại của Trịnh Tráng lại lớn mạnh nên ông trở thành một nhân tuyển thích hợp để kế thừa ngôi chúa, dù không chính thức được sắc phong Thế tử.
Bấy giờ thế lực của họ Mạc ở vùng Cao Bằng vẫn còn rất mạnh. Cháu vua Mạc là Mạc Kính Khoan tự xưng hiệu Khánh vương, tập hợp bè đảng quấy phá các vùng Vũ Nhai, Đại Từ...Năm 1618, Trịnh Tráng theo lệnh của Trịnh Tùng, cùng với Thái bảo Trịnh Xuân, đốc suất các tướng Nguyễn Cảnh Kiên, Nguyễn Văn Giai, Tạ Thế Phúc, Nguyễn Khải, Nguyễn Thực, Hoàng Đình Phùng, Trịnh Thức, Nguyễn Duy Thời cùng đánh họ Mạc; thắng được một trận lớn, sau đó lui quân về.
Tháng 6 ÂL năm 1623, Bình An vương Trịnh Tùng bị bệnh nặng bèn cho Thanh quận công Trịnh Tráng nắm giữ binh quyền, lại lấy con thứ là Vạn quận công Trịnh Xuân phó giữ binh quyền. Trịnh Xuân từng có ý cướp ngôi dòng trưởng, vào năm 1619 đã cùng Lê Kính Tông mưu giết Trịnh Tùng không thành nhưng lại được tha.
Ngày 15 tháng 7, Xuân cùng quận Điện và quận Bàng đem quân vào phủ cướp phá, đô thành đại loạn. Trịnh Tráng không biết tin tức gì về cha - vốn đã được Bùi Sĩ Lâm mang ra khỏi kinh, hôm sau ông sai em là Trịnh Giai rước Lê Thần Tông về Ninh Giang, còn mình tự lưu lại ở Nhân Mục (Vĩnh Lại), hội họp các quan văn võ cùng bàn bạc việc. Trịnh Đỗ sai con là quận Thạc đi đón Trịnh Tráng, ông bèn cùng quận Thạc ngồi chung voi đi, nhưng vì Lưu Đình Chất nghi ngờ Trịnh Đỗ, chạy ông khuyên không nên đi cùng quận Thạc. Trịnh Tráng bèn xuống voi tự mình về Ninh Giang. Sau đó Trịnh Tùng sai người dụ bắt và giết Trịnh Xuân.
Ngày 17 tháng 7, Trịnh Tùng được bọn Sĩ Lâm cáng võng đưa đi tìm thế tử, đi đến quán Thanh Xuân thì mất. Được tin báo của Sĩ Lâm, Trịnh Tráng trở về phát tang cha ngày 21 tháng 7 rồi lên thay làm chúa.
Tuy Trịnh Xuân đã chết nhưng đám loạn quân của ông ta (sử gọi là giặc Xuân Quang) vẫn đánh phá khắp thành Thăng Long. Trịnh Tráng phải đưa vua Lê về Thanh Hoa, đóng ở An Trường, có Trịnh Đỗ cũng đem quân bản doanh đi theo. Trịnh Tráng sai Nguyễn Danh Thế hòa giải hiềm nghi với Trịnh Đỗ để quan hệ 2 bên lại hòa hiếu như cũ. Nhà vua phong cho Trịnh Tráng làm Đô tướng tiết chế thủy bộ chư quân bình chương quân quốc trọng sự, Thái úy Thanh quốc công
Mùa thu năm đó, Mạc Kính Khoan nhân triều Lê có loạn, đem quân xuống Gia Lâm, lực lượng lên đến hơn vạn người. Ngày 28 tháng 8, Lê Thần Tông trao quyền cho Trịnh Tráng cầm quân đánh họ Mạc. Ông thống lĩnh quân thủy bộ, cùng Nguyễn Danh Thế, Đặng Thế Tài đánh về Gia Lâm. Quân Mạc thiệt hại nặng nề và phải lui về Cao Bằng. Trịnh Tráng bèn sai Lê Bật Tứ và Bùi Sĩ Lâm vào Thanh Hoa rước xa giá về kinh.
Tháng 11 ÂL, Trịnh Tráng tự tiến phong làm Nguyên soái tổng quốc chính, Thanh Đô vương. Mùa hạ tháng 5 ÂL năm 1625, ông hạ lệnh cho con trưởng là Trịnh Kiều lĩnh quân đánh họ Mạc ở Cao Bằng, bắt được vua Càn Thống Mạc Kính Cung và đồ đảng đưa về kinh sư giết đi. Mạc Kính Khoan cũng bị thua trận, dâng biểu xin hàng và được phong Thái úy Thông quốc công, hằng năm nộp cống, con cháu được ở đất Cao Bằng.
Ngày 24 tháng 1 năm 1629, Trịnh Tráng được lên tước vương một chữ, là Đại nguyên soái thống quốc chính thượng chúa Thanh vương. Mùa hạ tháng 5 ÂL năm 1630, chúa ép nhà vua lấy con gái mình là Trịnh Thị Ngọc Tú, vốn đã lấy bác họ của vua là Lê Duy Trụ và sinh được bốn con; vì Duy Trụ phạm tội bị bắt giam nên Trịnh Tráng mang con gái cho vua Lê. Thần Tông đành phải nhận lời.
Ngày 17 tháng 7 cùng năm, mưa to liền 4, 5 ngày, nước sông Hồng đầy tràn. Trịnh Tráng đích thân đi xem đắp đê, sai thu của quan tổng cán đê sông các xứ nhập vào quỹ công."



