Khác

TRỞ LẠI CHIẾN TRƯỜNG LÀO VÀ CHI VIỆN NAM BỘ KHÁNG CHIẾN

Giữa năm 1946, sau những tháng rút chạy ra vùng rừng núi và nông thôn ở Lào, giặc Pháp được chi viện mạnh đã tập trung mở các cuộc tiến công lớn chiếm lại tất cả các thành phố và thị xã ở Lào. Bộ đội Lào Itxala và các đơn vị Việt kiều giải phóng quân sau những tháng chiến đấu đánh địch, bảo vệ chính quyền cách mạng Lào và bảo vệ nhân dân, được chính quyền và nhân dân Thái Lan đồng tình ủng hộ, nên Việt kiều ở Lào và lực lượng võ trang của ta đều được chuyển sang đất Thái. Anh em trở về sinh sống

Lai Châu22/03/2026Sưu tầm (Đoàn xã Tà Tổng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

TRỞ LẠI CHIẾN TRƯỜNG LÀO VÀ CHI VIỆN NAM BỘ KHÁNG CHIẾN

Giữa năm 1946, sau những tháng rút chạy ra vùng rừng núi và nông thôn ở Lào, giặc Pháp được chi viện mạnh đã tập trung mở các cuộc tiến công lớn chiếm lại tất cả các thành phố và thị xã ở Lào. Bộ đội Lào Itxala và các đơn vị Việt kiều giải phóng quân sau những tháng chiến đấu đánh địch, bảo vệ chính quyền cách mạng Lào và bảo vệ nhân dân, được chính quyền và nhân dân Thái Lan đồng tình ủng hộ, nên Việt kiều ở Lào và lực lượng võ trang của ta đều được chuyển sang đất Thái. Anh em trở về sinh sống với gia đình một thời gian ngắn. Song, trước yêu cầu công tác, ai nấy đều tự nguyện trở lại chiến trường cũ.

Được Chính phủ Thái Lan giúp đỡ, ngay từ giữa năm 1946 và năm 1947, hàng chục chiến khu lớn nhỏ của Việt kiều được hình thành dọc theo vùng rừng núi đông Bắc nước Thái và cá ở tỉnh Prachin Bouri và tỉnh Trạt (Thái Lan), tỉnh Battambăng (lúc này Thái Lan đã trả tỉnh Battambăng cho thực dân Pháp). Song song với Tổng ủy Hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan (do Ban cán sự Đảng bộ Việt kiều lãnh đạo) trụ sở ở Đông Bắc Thái Lan thì ở Băngkok, có một Ban sưu tầm vũ khí cho Nam Bộ được thành lập do anh Trần Văn Giàu làm trưởng ban, anh Dương Quang Đông làm phó ban. Anh Trần Văn Giàu ở Nam Bộ được Trung ương mời ra Hà Nội và được Chính phủ ta biệt phái sang Bangkok hoạt động. Còn anh Dương Quang Đông thì đi từ Nam Bộ sang, hai anh gặp nhau tại Băngkok. Trong các năm ấy, Ban có ra một tờ “Tin Việt Nam” lưu hành đến tất cá các nơi có Việt kiều. Một số bài chính đều do các anh Hoàng, Ngô Hà (Trần Văn Giàu) và anh Lê Hy viết. Trụ sở tờ báo ở tại số nhà 543 Silom, Băngkok. Dưới đây là tên các chiến khu của Việt kiều giải phóng quân đã được thành lập trong các năm 1946 và 1947:

1. Chiến khu Umkè-Nọng Hỏi (thuộc tỉnh Nakhon Phanom) có trên 400 cán bộ chiến sĩ của Chi đội Trần Phú về chi viện Nam Bộ.

2. Chiến khu Noỏng Ổn (thuộc tỉnh Oudon) có gần 200 người Noỏng Ổn cũng là một trong những nơi mà Bác Hồ đã cùng một số đồng chí ở đó hoạt động cách mạng. Chiến khu Noỏng Ổn do hai anh Trần Quang Lợi và Đào Mạnh Duệ thành lập và xây dựng.

3. Chiến khu Viêng khúc (ở Thà Bò thuộc tính Noỏng Khay) có khoảng 100 người.

4. Chiến khu Si Kài (ngang Paksan) có khoảng 70 người.

5. Chiến khu Mường Lơi (có khoảng 50 người).

6. Chiến khu Tà Om (tỉnh Battambang) cua bộ đội Hải ngoại Độc lập 1 do anh Ngô Thất Sơn chỉ huy trưởng anh Đặng Văn Duyệt Bí thư chi bộ (có khoảng 80 người).

7. Chiến khu Phnum-TipờĐây (tỉnh Battambang) clo anh Phạm Ngọc Thuấn chỉ huy trưởng kiêm chính trị viên, anh Hoàng Xuân Bình chỉ huy trưởng quân sự. Đó là Bộ đội Hải ngoại Quang Trung, có khoảng 70 người về chi viện Nam Bộ.

8. Chiến khu Bản Mây (thuộc tỉnh Nakhon) có khoảng 150 người.

9. Chiến khu I Prak Poông cách ga Sarakheo 3 km (tỉnh Prachin-Bouri - Thái Lan) do anh Dung Văn Phúc làm Tiểu đoàn trưởng, có trên 200 người. Đó là Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II mới tập trung đợt đầu.

10. Chiến khu II Mai Ruột (tính Trạt - Thái Lan) do anh Dung Văn Phúc (Dương Quang Đông) Tiểu đoàn trưởng, quân số lên đến 280 người) là Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II, về chi viện khu 9 Nam Bộ kháng chiến.

11. Chiến khu Phi Mun (tỉnh Oubon) có 100 người.

12. Chiến khu Sa Vang (ngang Paksé - Lào) có 60 người.

13. Chiến khu Thung Phiêng (tỉnh Oubon) ngang Paksé, có 130 cán bộ, chiến sĩ.

Ngoài ra còn một số chiến khu nữa chưa biết chính xác, nên không ghi trong sách này. Qua một số chiến khu trên, thấy rõ tinh thần yêu nước, yêu Tổ quốc nồng nàn của 10 vạn Việt kiều Thái - Lào. Sang đất Thái Lan làm ăn sinh sống, nhà cửa không có, với hai bàn tay, khối óc và tinh thần yêu Tổ quốc, tuy ở hải ngoại xa xôi, nhưng hàng ngày bà con vẫn một lòng hướng về quê hương thân yêu của mình. Tổ chức thành lập và lãnh đạo, chỉ huy các chiến khu cũng như toàn bộ lực lượng Việt kiều giải phóng ở Lào và vùng Bắc, Đông Bắc Campuchia là Ban cán sự Đảng Tổng ủy Hội Việt kiều cứu quốc Thái Lan và Xứ ủy Ai Lao. Tư lệnh của Việt kiều giải phóng quân là anh Vũ Hữu Bỉnh.

Việt kiều ta ở Lào sang đất Thái Lan thời gian đầu đã dựa vào Việt kiều cũ sống trên đất Thái từ lâu và nhờ được chính quyền và nhân dân Thái Lan giúp đỡ cấp đất đai làm nhà cửa để làm ăn sinh sống, đồng thời chính quyền địa phương các tỉnh phía đông bắc Thái Lan lại tổ chức làm nhiều con đường đất lớn, tạo điều kiện cho Việt kiều mới ở Lào sang có công ăn việc làm. Trong gian khổ như vậy, nhưng Việt kiều vẫn tiễn đưa những con em thân yêu của mình đi vào chiến khu để đánh quân xâm lược Pháp. Tinh thần ấy thật đáng kính trọng biết nhường nào?

Các chiến khu thánh lập gồm những cán bộ, chiến sĩ đã từng chiến đấu trên mật trận Lào và nhiều thanh niên Việt kiều khi ở Lào là chiến sĩ và là cán bộ chỉ huy tự vệ, nhiều thanh niên mới 17-18 tuổi. Họ đã có sự hiểu biết nhất định về chính trị, và thời cuộc. Ở mỗi chiến khu đều có chương trình học tập chính trị do Ban chỉ huy các chiến khu giảng dạy. Ở chiến khu nào cũng vậy sinh hoạt tinh thần cũng vui tươi phấn khởi đoàn kết, kỷ luật tự giác, hàng ngày đều có sinh hoạt kiểm điểm và học các bài ca cách mạng, tập kịch và đốt lửa trại nhân dịp các ngày lễ kỷ niệm cách mạng v.v... Đi ra đường phố (tuy ở trên đất Thái Lan) nhưng cấp dưới gặp cấp trên, kể cả đang ngồi trong tiệm ăn, thấy chỉ huy đi ngang hoặc đi vào nhà hàng đều đứng ngay dậy chào người cấp trên của mình. Người Thái Lan nhìn thấy đều rất khâm phục ý thức kỷ luật tự giác của bộ đội Việt Nam.

Mỗi chiến khu, tùy theo quân số và thời gian học tập chính trị, quân sự mà Ban chỉ huy chiến khu bàn với chính quyền địa phương Thái Lan là làm các con đường. Làm đường có tiền để mua lương thực, thực phẩm. Công việc làm đường khá vất vả, nặng nhọc, nhiều người muốn bỏ cuộc. Nhưng nghĩ tới cái lớn lao sắp tới, mọi người lại hăng hái. Cái quý của anh em là ở chỗ đó.

Vũ khí và quân dụng là những thứ đem từ các mặt trận ở Lào sang từ giữa năm 1946. Ngoài rạ, do công tác ngoại giao với Chính phủ Thái lan, với Đảng Séri Thay, bạn tạo điều kiện để ta mua được nhiều vũ khí mới. Bạn còn tặng ta một số súng đạn và đồ dùng quân sự đáng kể. Quần áo, mùng mền ai có gì dùng nấy. Chỉ đến ngày sắp sửa làm lễ xuất quân lên đường đi chiến đấu mới được cấp phát quần áo kaki Mỹ, quân dụng thống nhất và bánh lương khô. Được trang bị vũ khí không thua kém gì vũ khí của quân đội Pháp - Ngụy khi ấy, đặc biệt vũ khí của ta được trang bị nhiều loại súng liên thanh mới của Mỹ, Anh, Nhật sản xuất, vì vậy hỏa lực của các đơn vị của ta khá mạnh.
Trong hàng chục chiến khu lớn nhỏ của Việt kiều Thái Lan và Lào sau thời gian 6 - 7 tháng học tập, huấn luyện chính trị - quân sự, có nhiều đơn vị trở lại chiến trường Lào hoạt động, chiến đấu; hai chiến khu Savang và Thung Phiêng và một số chiến khu khác sang các tỉnh phía Bắc Campuchia cùng lực lượng Issarak ở đó hoạt động. Số còn lại đều trở sang Lào. Có 4 đơn vị được thành lập để về nước là: Chiến khu Tà Om (Battambang) lấy tên là Bộ đội độc lập số 1, khi lên đường về nước, anh Huỳnh Văn Vàng, chỉ huy trưởng, anh Đặng Văn Duyệt, Bí thư chi bộ, anh Ngô Thất Sơn, chỉ huy phó, quân số có 80 người, hành quân từ Chok (Battambang) đi theo phía bắc biển Hồ (Tông Lê sáp) Campuchia về Tây Ninh. Đơn vị lên đường ngày 9-8-46 và về đến Tây Ninh (khu 7 - Nam Bộ) ngày 10-9-1946, mất 30 ngày đêm. Chiến khu Phnom-Tipờđây (Battambang) là bộ đội Quang Trung, quân số lên đường 60 người. Ban chỉ huy gồm Phạm Ngọc Thuận, chỉ huy trưởng kiêm chính trị viên, anh Hoàng Xuân Bình chỉ huy trưởng quân sự, anh Hoàng Ngọc Cừ chính trị viên, anh Nguyễn Trọng Thường chỉ huy phó... lên đường ngày 15-11-1946 từ chiến khu Phnum Tipờđây (Battambang). Đơn vị về đến Vĩnh Gia, Khu 9 ngày 5-1-47, mất 51 ngày đêm. Trên đường hành quân về nước, đơn vị bị tập kích hai trận.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn