Anh hùng Lực lượng vũ trang

Trợ về từ "Địa ngục trần gian" Phú Quốc

Trại giam tù binh Phú Quốc giai đoạn 1967 - 1973 là trại giam tù binh lớn nhất của chế độ cũ, nơi giam giữ hơn 40.000 chiến sĩ cách mạng. Nơi đây nổi tiếng với hệ thống tra tấn dã man vô nhân đạo, nhằm mục đích bẻ gãy hoàn toàn tinh thần và lý tưởng của những người lính lực lượng vũ trang ta.

Bắc Ninh01/07/2026Hoàng Thị Thu Huyền (Đoàn xã Hợp Thịnh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
  • Bị thương nặng và rơi vào tay giặc sau một trận giáp lá cà ác liệt tại chiến trường Đường 9 năm 1969, ông Đặng Văn Bốc bị đưa về giam giữ tại phân khu B2 của nhà tù Phú Quốc. Tại cái gọi là "địa ngục trần gian" này, ông phải chịu đựng những đòn tra tấn tàn khốc của các cai ngục khét tiếng: từ việc bị bắt khỏa thân phơi nắng trên những vỉ mâm nhôm nóng bỏng, bị đóng những chiếc đinh dài vào đầu gối, cho đến việc bị giam giữ trong các "chuồng cọp" làm bằng kẽm gai chật hẹp không thể đứng hay nằm thẳng người.

Thế nhưng, xiềng xích và đòn roi không thể khuất phục được người chiến sĩ sư đoàn 304. Ông Bốc cùng các đồng chí cốt cán đã bí mật thành lập một Chi bộ Đảng ngầm ngay trong lòng nhà tù. Dưới sự chỉ đạo của Chi bộ, các tù nhân đã tổ chức các cuộc đấu tranh tuyệt thực đòi cải thiện chế độ sinh hoạt, viết báo chuyền tay nhau bằng máu để giữ vững niềm tin cách mạng. Đỉnh điểm là cuộc tổ chức đào một con đường hầm ngầm vượt ngục dài hơn 30 mét xuyên qua hàng rào kẽm gai. Công cụ đào hầm duy nhất của ông Bốc và đồng đội chỉ là những chiếc thìa ăn cơm bằng nhôm bẻ gãy, mài sắc vào cạnh đá, và đất đào lên được giấu vào các túi quần túi áo để đem đổ đi mỗi khi được ra ngoài. Cuộc vượt ngục tuy gặp nhiều khó khăn, có người hy sinh, nhưng ý chí sống sót và lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc của ông Bốc là minh chứng hùng hồn cho tinh thần bất khuất của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

PHẦN 3: 20 CÂU CHUYỆN TIẾP THEO (CHI TIẾT, ĐẦY ĐỦ)

16. Tiếng loa hòa bình trên vĩ tuyến 17

  • Nhân chứng: Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hoan (Chiến sĩ Công an vũ trang giới tuyến, Vĩ tuyến 17).

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Sau Hiệp định Giơ-né-vơ năm 1954, dòng sông Bến Hải (Quảng Trị) trở thành giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt hai miền Nam - Bắc. Nơi đây diễn ra một cuộc chiến đặc biệt không tiếng súng nhưng vô cùng căng thẳng: cuộc chiến tâm lý chiến bằng hệ thống loa phát thanh công suất lớn giữa hai bờ sông.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Ông Nguyễn Văn Hoan là một chiến sĩ Công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) được giao nhiệm vụ bảo vệ và vận hành trạm loa phát thanh của ta ở bờ Bắc sông Bến Hải. Phía bờ Nam, chính quyền Ngụy Sài Gòn được Mỹ trang bị hệ thống loa "đại bác" công suất cực lớn, ngày đêm chĩa sang bờ Bắc phát những bản tin xuyên tạc, bôi nhọ chế độ miền Bắc và kêu gọi chiêu hồi. Để đáp trả, quân và dân ta đã dựng lên giàn loa công suất 500W độc nhất vô nhị.

  • Công việc của ông Hoan vô cùng nguy hiểm. Địch từ bờ Nam liên tục dùng súng bắn tỉa hoặc pháo kích tầm ngắn nhắm vào các cột loa của ta nhằm triệt hạ hệ thống âm thanh. Mỗi khi loa bị trúng đạn hỏng dây, ông Hoan lại phải ôm công cụ trèo lên đỉnh cột cao hơn 20 mét giữa bãi trống lộng gió, đối mặt trực diện với họng súng của kẻ thù để sửa chữa. Dưới sự bảo vệ của ông và đồng đội, tiếng loa bờ Bắc vẫn vang lên đều đặn, truyền đi giọng đọc ấm áp của các phát thanh viên, những bài ca ca ngợi quê hương đất nước, những thông điệp hòa bình và khẳng định chủ quyền thống nhất đất nước. Tiếng loa ấy đã xuyên qua dòng sông giới tuyến, trở thành chỗ dựa tinh thần thầm lặng cho đồng bào miền Nam ruột thịt hướng về miền Bắc cách mạng.

    17. Trận địa giả và "Bẫy rồng" trên bầu trời Hà Nội

    • Nhân chứng: Cựu chiến binh Đỗ Văn Đa (Chiến sĩ Dân quân tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động, Hà Nội).

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Trong 12 ngày đêm chiến dịch lịch sử "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" tháng 12 năm 1972, không quân Mỹ sử dụng siêu pháo đài bay B-52 đánh phá hủy diệt Thủ đô. Hệ thống phòng không của ta phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn đạn tên lửa và bị máy bay tiêm kích Mỹ săn lùng các trận địa pháo ráo riết.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Để bảo vệ các tiểu đoàn tên lửa phòng không SAM-2 quý giá của quân đội chủ lực, lực lượng Dân quân tự vệ Thủ đô đã nghĩ ra một chiến thuật vô cùng thông minh: xây dựng các trận địa pháo cao xạ giả. Ông Đỗ Văn Đa cùng phân đội tự vệ nhà máy đã thức trắng đêm để bện những thân tre, gỗ thành hình thù các khẩu pháo cao xạ 57mm giống như thật, dùng bạt rách che phủ ngụy trang khéo léo trên các bãi hoang ven bờ sông Hồng.

  • Khi các tốp máy bay tiêm kích F-4 và F-105 của Mỹ lao vào đánh phá tầm thấp trước khi B-52 rải thảm, tổ của ông Đa có nhiệm vụ kích hoạt các bộc phá khói, đốt những đống rơm lớn trộn dầu thải để tạo ra những quầng lửa và cột khói lớn giả định như pháo ta đang bắn trả dữ dội. Máy bay Mỹ dính bẫy, tưởng đây là trận địa thật nên đã tập trung trút hàng tấn bom xuống bãi đất trống. Trong khi địch đang tập trung hỏa lực vào trận địa giả của ông Đa, các khẩu đội pháo cao xạ và tên lửa thật của ta từ các trận địa ngụy trang bí mật gần đó bất ngờ đồng loạt nhả đạn, tạo thành một "bẫy rồng" đan lưới lửa dày đặc, bắn hạ nhiều máy bay địch. Sự dũng cảm "làm mồi nhử" giữa làn bom đạn của tổ ông Đa đã góp phần bảo vệ vẹn toàn cho lực lượng chủ lực lập nên kỳ tích đập tan cuộc tập kích chiến lược của Mỹ.

    18. Người con gái ôm bom lao vào xe tăng địch

    • Nhân chứng: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Út (Chiến sĩ Biệt động huyện Tòa Thánh, Tây Ninh).

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Chiến trường Tây Ninh năm 1967, trong các đợt càn quét mang tính hủy diệt của quân đội Mỹ vào căn cứ kháng chiến của ta (Chiến dịch Gian-xơn Xi-ti). Địch sử dụng tối đa ưu thế của các lữ đoàn thiết giáp càn quét qua các cánh rừng, san phẳng chiến hào của quân giải phóng.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Trong một trận chiến chống càn ác liệt tại vùng ven núi Bà Đen, một đại đội bộ binh của quân ta bị rơi vào thế bất lợi khi một chiếc xe bọc thép lội nước M-113 của Mỹ bất ngờ xuất hiện từ hướng sườn, nã đạn súng máy liên thanh điên cuồng vào đội hình rút lui của ta. Nhiều chiến sĩ bị ghim chặt dưới chiến hào nông, không thể dịch chuyển, nguy cơ bị xe tăng địch xích nát là rất lớn. Lúc bấy giờ, các vũ khí chống tăng tầm xa của đơn vị đã hết đạn.

  • Chứng kiến đồng đội đang hy sinh, nữ chiến sĩ biệt động Nguyễn Thị Út khi đó mới 20 tuổi đã đưa ra một quyết định cảm tử. Bà quấn vội một khối thuốc nổ định hình nặng 5kg quanh bụng, rút chốt nổ hẹn giờ, rồi lợi dụng những lùm cây rậm rạp và khói bom mịt mùng, bà luồn lách áp sát hướng di chuyển của chiếc xe bọc thép. Khi chiếc xe chỉ còn cách đội hình ta chưa đầy 15 mét, bà Út bật dậy, lao thẳng người vào gầm xích xe tăng địch. Một tiếng nổ kinh hoàng vang lên, chiếc xe M-113 bị xé toạc một bên xích sắt, khói đen bốc cao và dừng lại hoàn toàn, họng súng máy bị dập tắt. Sức ép khủng khiếp của vụ nổ đã hất văng bà Út ra xa vào một hố bom đầy bùn đất. Bà bị ngất lịm đi, toàn thân bị chấn thương nghiêm trọng nhưng đã sống sót một cách thần kỳ. Hành động dũng cảm của bà đã cứu sống toàn bộ đơn vị và bẻ gãy mũi tiến công của địch.

    19. Ba mươi ngày đêm giữ chốt trên đỉnh cao mây mù

    • Nhân chứng: Cựu chiến binh Hoàng Văn Sùng (Chiến sĩ Bộ binh, Sư đoàn 313, chiến đấu tại mặt trận Vị Xuyên).

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới vị trí mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) những năm 1984 - 1989. Đây là thời điểm chiến sự diễn ra cực kỳ khốc liệt tại các điểm cao như 1509, 772, nơi địa hình núi đá vôi bị pháo kích bắn phá dữ dội đến mức biến thành màu trắng xóa, được mệnh danh là "lò vôi thế kỷ".

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Ông Hoàng Văn Sùng cùng tiểu đội của mình được giao nhiệm vụ chốt giữ điểm cao 685, một mỏm núi đá chiến lược có vị trí khống chế toàn vùng. Địch liên tục dội hàng vạn quả đạn pháo mỗi ngày đêm xuống đỉnh chốt nhằm san phẳng mọi công sự phòng thủ, sau đó tổ chức từng đợt bộ binh đông đảo tràn lên đánh chiếm. Ông Sùng và đồng đội phải sống và chiến đấu trong các hang đá nhỏ chẹp hẹp, ngột ngạt, chịu đựng cái lạnh cắt da của vùng cao và mùi khét lẹt của thuốc súng bám vào da thịt.

  • Có những đợt pháo kích kéo dài liên tục khiến đường tiếp tế lương thực và nước uống từ tuyến sau bị cắt đứt hoàn toàn suốt nhiều ngày liền. Các chiến sĩ phải chia nhau từng hớp nước ngưng tụ chảy ra từ vách đá vôi, ăn những hạt gạo sấy ngấm nước loãng. Mỗi khi dứt tiếng pháo, nghe tiếng giày đinh của đối phương loảng xoảng tiến lên đá núi, ông Sùng lại ôm khẩu súng AK cùng đồng đội lao ra khỏi hang, dùng lựu đạn và súng máy bắn trả quyết liệt. Suốt 30 ngày đêm kiên cường bám trụ, tiểu đội của ông đã đẩy lùi hơn 20 đợt tiến công, giữ vững nguyên vẹn ngọn chốt biên cương thiêng liêng của Tổ quốc, dù sau chiến dịch cả tiểu đội chỉ còn lại ba người lành lặn.

    20. Bản tình ca viết bằng máu của người chiến sĩ giải phóng

    • Nhân chứng: Họa sĩ, Cựu chiến binh Lê Duy Ứng (Chiến sĩ tuyên huấn, Quân đoàn 2).

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Những ngày cuối cùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tháng 4 năm 1975. Các đơn vị quân giải phóng tiến đánh vào các cửa ngõ trọng yếu bao quanh Sài Gòn dưới sự kháng cự tuyệt vọng bằng hỏa lực hạng nặng của quân đội chế độ cũ tại căn cứ Nước Trong.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975, người chiến sĩ tuyên huấn, họa sĩ trẻ Lê Duy Ứng đang đi cùng mũi xe tăng đi đầu của Quân đoàn 2 tiến đánh căn cứ Nước Trong (Long Thành). Nhiệm vụ của ông là ghi lại những hình ảnh chân thực, hào hùng của quân ta trong giờ phút lịch sử. Bất ngờ, một quả đạn pháo của địch nổ tung ngay cạnh chiếc xe tăng nơi ông đang đứng tác nghiệp. Sức ép hất văng ông ra xa, các mảnh pháo sắc nhọn găm thẳng vào đầu, mặt và phá hủy hoàn toàn đôi mắt của người họa sĩ trẻ.

  • Khi tỉnh dậy giữa làn khói đạn mịt mùng, xung quanh là tiếng súng gầm vang, ông Lê Duy Ứng nhận ra thế giới trước mắt mình đã hoàn toàn chìm vào bóng tối, hai mắt máu chảy đầm đìa. Nghĩ rằng mình sắp hy sinh và không thể tiếp tục chứng kiến ngày chiến thắng, bằng niềm tin và lòng kính yêu vô hạn với vị lãnh tụ kính yêu, ông đã dùng ngón tay của mình chấm vào dòng máu đang chảy ra từ đôi mắt, mò mẫm trong bóng tối vẽ một bức chân dung Bác Hồ trên một mảnh giấy sổ tay nhỏ mang theo người. Phía dưới bức chân dung, ông run rẩy viết dòng chữ: "Ánh sáng của Đảng - Niềm tin của con. Gửi lại đất mẹ!". Bức tranh bằng máu ấy đã được đồng đội tìm thấy và lưu giữ, trở thành một hiện vật lịch sử thiêng liêng minh chứng cho lòng trung thành và ý chí bất diệt của người chiến sĩ giải phóng. Ông Ứng sau đó được cứu sống và trở thành một họa sĩ mù tài hoa.

    21. Tiếng còi tàu và chuyến áp tải vàng lịch sử

    • Nhân chứng: Cựu chiến binh Nguyễn Minh Trí (Chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang, Cục Hậu cần tối cao).

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Giai đoạn sau Hiệp định Paris 1973, chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Để bảo đảm nguồn lực tài chính cấp bách cho chiến trường miền Nam mua nhu yếu phẩm và khí tài tại chỗ, một chiến dịch tuyệt mật mang mật danh "B.21" được thành lập nhằm vận chuyển hàng tấn vàng và ngoại tệ từ Trung ương vào Nam Bộ.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Ông Nguyễn Minh Trí cùng một tổ công tác đặc biệt gồm các chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang tinh nhuệ được giao nhiệm vụ áp tải một đoàn xe tải ngụy trang, bên trong chứa hàng chục hòm gỗ bọc kẽm đựng vàng thỏi và tiền mặt đô-la Mỹ. Chặng đường hành quân vượt qua hàng ngàn cây số dọc đường Trường Sơn luôn bị rình rập bởi máy bay thám báo OV-10 và các toán biệt kích Mỹ - Ngụy thả xuống rừng sâu. Để bảo đảm tuyệt đối bí mật, toàn bộ xe phải ngụy trang thành xe chở củi khô hoặc xe chở thương binh nặng tuyến sau.

  • Ông Trí kể lại, suốt hành trình kéo dài hơn một tháng trời, các thành viên trong tổ không một ai dám chợp mắt quá hai tiếng mỗi ngày, súng luôn lên đạn và tay không rời bọc hàng nửa bước. Có lần, đoàn xe bị lọt vào một trận địa pháo bầy của địch bắn chặn tại ngã ba biên giới. Một chiếc xe trong đoàn bị trúng mảnh pháo hỏng động cơ, trong tình thế lửa cháy ngùn ngụt xung quanh, ông Trí đã cùng đồng đội lao vào biển lửa, dùng tay trần vác những hòm vàng nặng hàng chục ký chuyển sang xe khác dưới làn đạn pháo. Sự dũng cảm và kỷ luật sắt đá của ông và đồng đội đã đưa toàn bộ chuyến hàng an toàn đến căn cứ Trung ương cục Miền Nam, kịp thời cung cấp nguồn lực tài chính khổng lồ phục vụ cho hậu cần chiến dịch giải phóng.

    22. Người thợ máy giữ "linh hồn" cho những cánh bay

    • Nhân chứng: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Đức Soát (Phi công tiêm kích, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam).

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ ra miền Bắc những năm 1965 - 1972. Các sân bay quân sự của ta như Nội Bài, Kép, Gia Lâm luôn là mục tiêu đánh phá hủy diệt hàng đầu của máy bay cường kích Mỹ nhằm làm tê liệt lực lượng không quân tiêm kích non trẻ của ta.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Phía sau những chiến công bắn rơi máy bay "Thần sấm" (F-105) và "Con ma" (F-4) của các phi công huyền thoại là sự hy sinh thầm lặng, chịu đựng gian khổ của đội ngũ thợ máy mặt đất. Ông Nguyễn Đức Soát nhớ lại, mỗi khi còi báo động phòng không rú vang, các phi công lập tức chạy ra máy bay cất cánh lao vút lên bầu trời, thì đó cũng là lúc các thợ máy mặt đất phải ở lại chịu trận. Khi máy bay Mỹ trút bom xuống đường băng, các thợ máy phải ẩn nấp trong các công sự chật hẹp bằng bê tông ngay sát bãi đỗ.

  • Ngay khi đợt bom vừa dứt, khói bụi còn mù mịt, đất đá còn đang lở loét, họ lập tức lao ra khỏi hầm. Bất chấp nguy cơ bom nổ chậm có thể kích nổ bất cứ lúc nào, các thợ máy dùng tay trần và cuốc xẻng phối hợp với công binh lấp hố bom khẩn cấp. Dưới cái nắng hè như thiêu như đốt trên đường băng bê tông, hay dưới những đêm đông rét mướt thiếu ánh sáng, họ phải dùng đèn pin che kín bằng vải nilon để tỉ mẩn sửa chữa từng vi mạch điện tử, vá lại vỏ nhôm của những chiếc tiêm kích MiG-21 bị trúng mảnh bom. Những đôi bàn tay của người thợ máy bám đầy dầu mỡ, rướm máu vì ốc vít cào xước, đã làm việc không quản ngày đêm để giữ vững "linh hồn", bảo đảm cho các cánh bay của ta luôn ở trạng thái hoàn hảo nhất để cất cánh giành lại quyền chủ động trên bầu trời.

    23. Nữ du kích "Tóc dài" bẻ gãy trận càn trực thăng vận

    • Nhân chứng:Nguyễn Thị Định (Nữ du kích xã Lương Hòa, Giồng Trôm, Bến Tre).

  • Mô tả chi thích bối cảnh: Những năm 1964 - 1965, khi quân đội Mỹ áp dụng chiến thuật tân tiến "Trực thăng vận" và "Thiết xa vận" trên chiến trường miền Nam. Địch sử dụng các phi đội trực thăng UH-1 đổ quân ào ạt xuống các vùng căn cứ du kích nhằm bao vây và tiêu diệt lực lượng ta bằng tốc độ.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Bà Nguyễn Thị Định (tên trùng với nữ tướng Nguyễn Thị Định) là tiểu đội trưởng một đội du kích toàn nữ tại xã Lương Hòa. Khi nhận được tin thám báo một tiểu đoàn lính thủy quân lục chiến Ngụy chuẩn bị đổ bộ bằng trực thăng xuống cánh đồng làng, bà Định đã chỉ huy chị em bàn mưu tính kế đánh địch bằng vũ khí tự chế độc đáo của vùng sông nước. Các cô gái đã đi thu thập hàng chục tổ ong vò vẽ lớn trong rừng hoang, bí mật treo dọc theo các ngọn cây bần, cây đước quanh bãi đất trống mà máy bay địch dễ hạ cánh, dùng dây bẫy liên kết ngụy trang khéo léo. Đồng thời bên dưới bùn lầy, họ cắm dày đặc hệ thống chông tre ngâm thuốc độc.

  • Khi phi đội trực thăng địch gầm rú sà thấp xuống đổ quân, sức gió từ cánh quạt trực thăng giật đứt các dây bẫy, khiến hàng vạn con ong vò vẽ dữ tợn ào ra tấn công lính giặc điên cuồng. Quân địch hoảng loạn, la hét, chạy tán loạn và dẫm bừa vào bẫy chông tre phía dưới, đội hình hoàn toàn bị xé nát. Tận dụng thời cơ có một không hai đó, bà Định cùng các nữ du kích nấp trong các bụi rậm đã dùng súng trường CKC bắn tỉa chính xác, hạ gục nhiều tên địch và ép phi đội trực thăng phải vội vã bốc quân tháo chạy. Trận đánh cho thấy sự mưu trí, dũng cảm vô song của Đội quân tóc dài Bến Tre.

    24. Người chiến sĩ tình báo và chiếc radio cũ

    • Nhân chứng: Cựu chiến binh Trần Văn Đôn (Chiến sĩ tình báo, mạng lưới tình báo chiến lược H63).

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Sài Gòn giai đoạn 1968 - 1974, thời điểm cơ quan tình báo Mỹ (CIA) và Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng hòa tung mạng lưới mật vụ dày đặc kiểm soát gắt gao nhằm phát hiện, bẻ gãy các đường dây tình báo ngầm của quân giải phóng cài cắm vào các cơ quan đầu não chính quyền.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Mang vỏ bọc là một viên chức mẫn cán, có lối sống thượng lưu và mối quan hệ rộng rãi với các sĩ quan cao cấp tại Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, ông Trần Văn Đôn (thuộc lưới H63 huyền thoại) sống một cuộc đời hai mặt đầy căng thẳng. Ban ngày, ông tham gia các buổi tiệc tùng, khéo léo thu thập các thông tin về kế hoạch hành quân quân sự, bản đồ bố phòng và sơ đồ các chiến dịch càn quét sắp tới.

  • Khi đêm về, trong căn biệt thự riêng cửa đóng then cài, cuộc chiến thực sự của ông mới bắt đầu. Công cụ liên lạc duy nhất của ông với căn cứ Trung ương Cục là một chiếc radio National cũ được ông cải tiến khéo léo phần mạch bên trong thành một máy phát sóng ngắn. Chỉ một tiếng động lạ bên ngoài, một cái bóng đi qua cửa sổ cũng khiến tim ông đập mạnh, bởi nếu bị phát hiện, hình phạt sẽ là máy chém hoặc bị giam cầm vĩnh viễn ở Côn Đảo. Ông Đôn phải thức trắng đêm để mã hóa các thông tin thu được thành các dãy số, rồi dùng cần gạt gõ moóc-xơ (Morse) truyền tín hiệu đi trong vài phút ngắn ngủi để tránh bị xe dò sóng của địch định vị. Suốt nhiều năm trời đơn độc chiến đấu giữa hang ổ kẻ thù, bằng sự điềm tĩnh và bộ óc thiên tài, ông đã gửi về hàng trăm bản tin tình báo vô giá, giúp quân ta chủ động bẻ gãy nhiều kế hoạch hành quân chiến lược của Mỹ - Ngụy.

    25. Đêm vượt ngục bằng thìa ở nhà tù Côn Đảo

    • Nhân chứng: Cựu chiến binh, cựu tử tù Côn Đảo Lê Hồng Tư.

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Nhà tù Côn Đảo những năm 1960 được ví như "bàn mổ sống" dành cho các chiến sĩ cách mạng cốt cán của lực lượng vũ trang. Địch xây dựng các khu "chuồng cọp" kiên cố bằng bê tông, phía trên phủ lưới kẽm gai dày đặc, cai ngục rải vôi bột liên tục xuống phòng giam để tàn phá phổi và làn da của tù nhân.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Bị kết án tử hình vì hoạt động ám sát hụt quan chức Mỹ trong nội đô Sài Gòn, ông Lê Hồng Tư bị đày ra Côn Đảo và giam giữ tại khu chuồng cọp cấm cố đặc biệt. Không chấp nhận ngồi chờ ngày ra pháp trường, ông đã bí mật tập hợp một nhóm chiến sĩ lực lượng vũ trang trong phòng giam lập kế hoạch vượt ngục chấn động. Không có bất kỳ một thanh sắt hay công cụ đào bới nào, các anh đã tận dụng những chiếc thìa ăn cơm bằng nhôm cũ bị gãy mà họ nhặt được trong những lần được cho ra ngoài dọn vệ sinh.

  • Mỗi đêm, khi tiếng lính gác đi tuần thưa dần, ông Tư cùng đồng đội lại thay phiên nhau nằm sát đất, dùng chiếc thìa nhôm nhỏ mài mòn từng chút một vào mạch vữa của tường gạch bê tông dày gần nửa mét. Để ngụy trang tiếng động sột soạt, các đồng chí khác trong phòng giam phải thay phiên nhau giả vờ ho lớn, tụng kinh hoặc đồng thanh hát các bài ca cách mạng để át tiếng đào tường. Đất cát đào ra được họ nuốt giấu vào trong bụng hoặc hòa vào nước tiểu để đổ ra khe rãnh nhỏ. Công việc kiến trì kéo dài ròng rã suốt hơn 5 tháng trời, bức tường bê tông kiên cố cuối cùng cũng bị đục thủng một lỗ vừa một người chui. Dù cuộc vượt ngục sau đó ra biển gặp giông bão lớn và nhiều người bị bắt lại, nhưng tinh thần gan dạ dùng thìa đào tường của ông Lê Hồng Tư đã trở thành một thiên anh hùng ca bất tử về ý chí tự do của người lính cách mạng.

    26. Giao liên nhí và chuyến vượt sông dầm mình trong nước lũ

    • Nhân chứng:Lê Thị Hiền (Cựu giao liên huyện Điện Bàn, Quảng Nam).

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Chiến trường Quảng Nam năm 1969, vùng đất bị quân đội Mỹ thực hiện chiến thuật "vành đai diệt tự do", biến các làng quê thành vùng đất trống trắng xóa. Hệ thống giao liên bộ đội liên tục bị đứt gãy do địch lập các hàng rào chốt chặn dày đặc dọc các con sông lớn.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Tham gia cách mạng từ năm mới 12 tuổi, cô bé giao liên Lê Thị Hiền có dáng người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, thường xuyên sắm vai đứa trẻ đi chăn trâu cắt cỏ để qua mắt lính gác đồn. Một ngày mùa thu năm 1969, bà nhận được một mật lệnh tối khẩn từ Huyện ủy giao sang cho Bộ chỉ huy Sư đoàn 2 quân chủ lực, thông báo tọa độ địch chuẩn bị dùng máy bay rải thảm bom Napalm thiêu rụi khu rừng đóng quân của ta. Khốn nỗi, con sông Thu Bồn duy nhất dẫn sang căn cứ đang vào mùa lũ lớn, nước sông dâng cao cuồn cuộn, chảy xiết dữ dội và đầy những thân cây gỗ mục trôi dạt. Đường bộ và cầu sắt đều bị quân Ngụy phong tỏa nghiêm ngặt.

  • Biết rằng nếu chậm trễ một giờ, hàng trăm chiến sĩ sẽ bị bom giặc sát hại, cô bé Hiền đã cởi chiếc áo rách, lấy dải lụa bọc kín bức thư mật chống nước rồi bới tóc quấn chặt vào bên trong búi tóc của mình. Bà ôm lấy một thân cây chuối rỗng đã chuẩn bị sẵn, đẩy mình lao thẳng xuống dòng sông lũ dữ đang gầm réo. Suốt hơn 3 tiếng đồng hồ dầm mình trong làn nước lạnh ngắt, cơ thể nhỏ bé bị sóng dữ quật lên quật xuống, nhiều lần suýt bị cuốn vào dòng xoáy xoáy đá. Mỗi khi có tàu tuần tra của địch lướt qua rọi đèn pha bét nhè trên mặt nước, bà lại phải buông cây chuối, lặn sâu xuống lòng nước đục ngầu, nín thở đến thắt cả lồng ngực. Bằng sự kiên cường và lòng dũng cảm phi thường, cô bé giao liên đã cập được bờ bên kia, chạy bộ đến rách cả chân để trao lá thư kịp thời, giúp đơn vị bộ đội chủ động rút quân an toàn trước khi phi đội máy bay Mỹ đến trút bom hủy diệt.

    27. Người anh cả của đại đội thiết giáp vượt bão sa mạc

    • Nhân chứng: Cựu chiến binh Nguyễn Khắc Nguyệt (Trưởng xe tăng 390, Đại đội 4, Lữ đoàn xe tăng 203).

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Mũi đột kích binh chủng thiết giáp của quân giải phóng dẫn đầu bởi xe tăng 843 và 390 tiến công thần tốc vào trung tâm đầu não Sài Gòn, đối mặt với các chốt chặn cuối cùng bằng súng chống tăng và hỏa lực bắn tỉa hạng nặng của địch.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Ông Nguyễn Khắc Nguyệt là trưởng xe của chiếc xe tăng T-54 mang số hiệu 390 lịch sử. Trước khi húc đổ cánh cổng sắt của Dinh Độc Lập vào lúc 11 giờ 30 phút, chiếc xe của ông cùng đồng đội đã phải trải qua những giờ phút chiến đấu nghẹt thở trên các tuyến phố Sài Gòn. Khi tiến qua cầu Thị Nghè, xe tăng 390 lọt vào tầm ngắm của một ổ súng chống tăng bazooka của địch ẩn nấp trong một tòa nhà lầu kiên cố bên đường. Quả đạn chống tăng bắn sượt qua tháp pháo làm xe rung chuyển mạnh, khói bụi bốc lên mịt mùng bên trong khoang lái.

  • Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, ông Nguyệt vẫn giữ được sự bình tĩnh tuyệt đối của một người chỉ huy. Qua hệ thống thông tin nội bộ, ông ra lệnh cho pháo thủ xoay tháp pháo, nạp đạn nhanh và bắn một quả đạn xuyên phá dập tắt hoàn toàn ổ hỏa lực địch. Ngay sau đó, ông thúc giục tài xế tăng ga hết cỡ, cho xe tăng lao băng băng qua các chướng ngại vật kẽm gai và bao cát trên đường phố với tinh thần "Tất cả cho ngày toàn thắng". Sự dũng cảm, quyết đoán và phối hợp nhịp nhàng giữa ông Nguyệt và các thành viên kíp xe đã đưa xe tăng 390 húc văng cánh cổng Dinh Độc Lập, chính thức ghi tên mình vào trang sử vàng chói lọi, kết thúc hoàn toàn cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm.

    28. "Thần y" của những khẩu pháo hạng nặng

    • Nhân chứng: Cựu chiến binh Vũ Đình Phùng (Thợ sửa chữa vũ khí, Xưởng quân giới Quân khu 5).

  • Mô tả chi tiết bối cảnh: Chiến trường Khu 5 những năm 1971 - 1972 khốc liệt. Trong các chiến dịch tiến công tổng hợp, các khẩu pháo lựu 122mm và cao xạ của ta phải hoạt động liên tục với tần suất cao, thường xuyên bị hỏng hóc hóc búa do tác động của nhiệt độ và mảnh bom địch băm vằn, cần được khắc phục ngay tại trận địa.

  • Nội dung chi tiết câu chuyện: Ông Vũ Đình Phùng là một người thợ cơ khí quân giới tài hoa, được mệnh danh là "thần y" của các loại pháo binh hạng nặng. Chiếc ba lô trên vai ông không đựng quần áo mà chật ních các loại kìm, búa, mỏ lết và các linh kiện cơ khí tự chế. Trong chiến dịch giải phóng Đắk Tô - Tân Cảnh, một khẩu pháo lựu 122mm – hỏa lực chủ lực của trung đoàn – bị kẹt đạn ngay trong nòng sau một loạt bắn dài. Quả đạn pháo khổng lồ nằm kẹt giữa chừng, ngòi nổ đã kích hoạt, có thể nổ tung bất cứ lúc nào do nhiệt độ nòng pháo đang quá nóng, đe dọa mạng sống của cả khẩu đội pháo và làm tê liệt trận địa.

  • Mọi người được lệnh lùi ra xa để bảo đảm an toàn, nhưng ông Vũ Đình Phùng đã xung phong một mình tiến lại gần khẩu pháo. Giữa làn bom đạn của máy bay địch đang oanh tạc trận địa xung quanh, ông Phùng áp tai vào thân pháo nóng rực, dùng một chiếc đục tự chế đặc biệt và búa cao su tẩn mẩn, nhẹ nhàng gõ từng chút một vào bệ khóa nòng để giải phóng áp lực khí. Mồ hôi vã ra như tắm, hòa cùng dầu mỡ bám đen kịt khuôn mặt. Chỉ một cú gõ sai lực, quả đạn sẽ nổ tung. Bằng đôi bàn tay nhạy cảm và lòng dũng cảm phi thường, sau hơn 15 phút nghẹt thở, ông đã tháo gỡ thành công quả đạn kẹt ra ngoài, cứu vẹn toàn khẩu pháo quý giá. Khẩu pháo ngay sau đó lại tiếp tục gầm vang nã đạn vào đồn địch, ghi nhận chiến công thầm lặng của người lính thợ quân giới.

    29. Đội rà phá bom mìn và những bước chân trên cái chết

    Là một chiến sĩ công binh rà phá bom mìn, công việc hàng ngày của ông Trần Văn Thọ và đồng đội là đi bộ trực diện vào các bãi bom vừa rải thảm để mở đường cho đoàn xe vận tải phía sau. Thời bấy giờ, quân ta không có các thiết bị dò tìm bom mìn hiện đại, mọi việc hoàn toàn phụ thuộc vào đôi mắt quan sát, chiếc gậy tre mộc mạc và lòng quả cảm. Ông Thọ kể lại, có những quả bom từ trường nằm ẩn sâu dưới lớp đất đỏ, chỉ cần có một vật kim loại nhỏ hay một bước chân nặng đi qua là kích nổ ngay lập tức.Để vô hiệu hóa chúng, ông Thọ đã tự chế ra những chiếc xe đẩy bằng tre ngụy trang, gắn những khối nam châm lớn thu lượm từ xác máy bay địch để đi trước kích nổ bom từ trường từ xa. Có những lần gặp phải loại bom nổ chậm thế hệ mới có ngòi nổ chống tháo gỡ, ông Thọ đã ra lệnh cho đồng đội lùi lại phía sau, một mình ông nằm bò sát đất, dùng chiếc dao găm nhỏ tỉ mẩn bóc tách từng lớp vỏ bọc khóa ngòi nổ của quả bom khổng lồ nặng nửa tấn. Đã có rất nhiều đồng đội thân thiết của ông đã ngã xuống, cơ thể tan hoang ngay trước mắt ông, nhưng người chiến sĩ công binh ấy chưa bao giờ lùi bước. Ông tâm niệm: "Mỗi bước chân của chúng tôi có thể là cái chết, nhưng nếu chúng tôi sợ hãi dừng lại, toàn bộ mạch máu giao thông chi viện cho miền Nam sẽ bị chặt đứt"

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn