Trung đoàn Đặc công 113
Diễn biến "Bão lửa" giữ cầu tại Biên Hòa (27 - 30/4/1975)
Trong những ngày cuối của Chiến dịch Hồ Chí Minh, Cầu Ghềnh và Cầu Hóa An bắc qua sông
Đồng Nai trở thành những nút thắt tử huyệt. Nhiệm vụ mở cửa cửa ngõ hướng Đông Bắc này được
giao cho Trung đoàn Đặc công 113 nhằm bảo vệ nguyên vẹn các cây cầu, dọn đường cho đại quân
(Quân đoàn 4) thần tốc tiến vào Sài Gòn.
Mốc thời gian Diễn biến trận đánh quyết định tại Biên Hòa
4 giờ 30 ngày
27/4/1975
Trận chiến bùng nổ. Đại đội 1 và Đại đội 3 (Tiểu đoàn 23 đặc công) nổ súng
áp sát đầu cầu phía Bửu Hòa và Hóa An. Chỉ sau 30 phút mưu trí mật tập, ta
đánh bật địch ra khỏi các chốt chiếm giữ trên cầu.
8 giờ 30 ngày
27/4/1975
Địch điên cuồng phản kích. Chúng trút "bão lửa" từ pháo binh, xe tăng và
máy bay oanh tạc dữ dội xuống trận địa nhằm phá hủy cầu hoặc đẩy lùi quân
ta. Các chiến sĩ đặc công bám trụ kiên cường từng mét công sự.
Ngày 28 -
29/4/1975
Cuộc chiến giằng co khốc liệt diễn ra ngay bên dòng sông Đồng Nai. Nhiều
chiến sĩ anh dũng hy sinh ngay trên mặt cầu để bảo vệ nguyên vẹn cấu trúc
giao thông chiến lược này.
Đêm 29, rạng
sáng 30/4/1975
Tuyến phòng thủ Hố Nai - Biên Hòa của địch hoàn toàn vỡ vụn. Cầu Ghềnh
và cầu Hóa An được giữ vững an toàn. Đại quân xe tăng và pháo binh của
Quân đoàn 4 rầm rập vượt cầu tiến thẳng vào nội đô.
Ký ức thời hoa lửa qua lời kể của Cựu chiến binh
Các nhân chứng lịch sử từ Trung đoàn Đặc công 113 bồi hồi nhớ lại tinh thần quyết tử của những
ngày tháng tư lịch sử:
Sự đùm bọc của nhân dân Biên Hòa: Khí thế giải phóng sục sôi khiến bà con ở các vùng ven như
Hóa An, Bửu Hòa không sợ hiểm nguy, thậm chí chủ động “tháo cả cánh cửa nhà để lát công sự cho
Sở chỉ huy quân ta”. Sự che chở của người dân chính là điểm tựa lớn nhất giúp bộ đội bám trụ qua
những trận mưa bom.
Tinh thần hy sinh trước thềm chiến thắng: Những cựu chiến binh chia sẻ rằng ranh giới giữa sự
sống và cái chết lúc bấy giờ rất mong manh. Đau xót nhất là có những đồng đội ngã xuống khi chỉ
còn cách giờ phút hòa bình vài mươi tiếng đồng hồ, nhưng tinh thần dũng cảm bảo vệ cầu để "mở
đường cho đại quân tiến bước" không một ai lung lay.
Ký ức ngày 30/4: Khi lệnh đầu hàng của chính quyền Sài Gòn vang lên, người dân Biên Hòa cùng
các chiến sĩ tràn ra đường, ôm lấy nhau khóc nghẹn trong niềm vui vỡ òa: "Hòa bình rồi, giải phóng
rồi!"
Hiện nay, tại Biên Hòa có một số di tích lịch sử gắn liền với sự kiện này như Cầu Ghềnh hay Di tích
Tòa hành chánh tỉnh Biên Hòa.
Nhớ về những ngày tháng 4 hào hùng của dân tộc là nhớ về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân
1975; là nhớ về những trận đánh táo bạo, bất ngờ của Trung đoàn Đặc công 113 trên mặt trận
Biên Hòa góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước.
Ngày 3-6-1972, tại ngã ba suối Bà Hào thuộc Căn cứ Chiến khu Đ, lực lượng Tiểu đoàn 9,
Tiểu đoàn 174 pháo binh và 2 tiểu đoàn đặc công Biên Hòa được sáp nhập thành Trung đoàn Đặc
công 113, do đồng chí Nguyễn Thanh Tùng làm Trung đoàn trưởng. Nhiệm vụ của Trung đoàn Đặc
công 113 là xây dựng căn cứ, hành lang, bàn đạp vững chắc, bám chắc các mục tiêu, đánh phá
thường xuyên các căn cứ, hậu cứ sâu và hiểm của địch.
Mật tập đánh kho bom Bình Ý
Bước vào tháng 3-1975, Trung đoàn Đặc công 113 được giao nhiệm vụ khẩn trương tổ chức
lực lượng pháo kích vào Sân bay Biên Hòa, đồng thời dùng 2 tiểu đoàn tiến công phá hủy kho bom
Bình Ý. Trong 2 nhiệm vụ đó, việc đánh phá kho bom Bình Ý để địch không còn bom đánh phá quân
ta là rất khó khăn. Bởi kho bom Bình Ý vốn nằm sâu trong vùng địch chiếm đóng, được xây dựng
gần với Tổng kho Long Bình, cũng là kho vũ khí quan trọng của địch nên được bố trí 16 lớp rào kẽm
gai và nhiều bãi mìn khác nhau bảo vệ, chưa kể một loạt hệ thống đồn bót, tháp canh dày đặc bao
quanh, phòng thủ khá cẩn mật.
Trong vòng 3 năm (1972-1975), Trung đoàn Đặc
công 113 đã phối hợp với Tỉnh ủy Biên Hòa, với
lực lượng vũ trang địa phương và được sự che
chở, đùm bọc của nhân dân Biên Hòa đánh hơn
256 trận, phá hủy hàng trăm máy bay, hàng trăm
ngàn tấn bom đạn, xăng dầu, nhiều cầu tàu và
phương tiện chiến tranh hiện đại, tiêu diệt và loại
khỏi vòng chiến đấu gần 4 ngàn tên địch...
Ngày 22-4-1975, Thường vụ Đảng ủy
và Ban Chỉ huy Trung đoàn Đặc công 113
đã họp thông qua quyết tâm lần cuối và giao
cho Đại đội 53 trinh sát đảm nhiệm, nhưng
lực lượng đánh trực tiếp chỉ có 3 người, do
đồng chí Hồ Văn Sinh chỉ huy. Trên cơ sở
nắm tình hình địch và địa hình kho bom,
nhất là những tài liệu do Tiểu đoàn Đặc
công Tỉnh đội Biên Hòa cung cấp, tổ trinh
sát 3 người (Sinh, Quỳnh, Lương) đã sử dụng kỹ thuật đặc công bí mật đột nhập kho bom Bình Ý
làm nổ tung gần 250 ngàn tấn bom đạn và những bồn xăng bốc cháy nghi ngút rực sáng cả một góc
trời.
Trận đánh thắng lợi, tiêu hao lượng lớn vũ khí của quân địch, hạn chế các phi vụ ném bom để cản
phá đội hình quân ta và tạo điều kiện để cho pháo chiến dịch của ta vào điểm xây dựng trận địa an
toàn.
Kiên cường đánh chiếm căn cứ Hốc Bà Thức
Đầu tháng 4-1975, Trung đoàn Đặc công 113 nhận lệnh tăng cường cho Quân đoàn 4 đánh
chiếm các mục tiêu quan trọng bên trong hậu cứ của địch ở Biên Hòa, đơn vị được giao nhiệm vụ
đánh chiếm căn cứ Chiến đoàn 15 Thiết giáp địch ở Hốc Bà Thức, mở đường cho Sư đoàn 7 tiến
công Sân bay Biên Hòa và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy; đồng thời, đánh chiếm cầu Ghềnh và cầu
Hóa An, chốt giữ cầu để mở đường cho Sư đoàn 7 và Quân đoàn 4 tiến về giải phóng Sài Gòn.
Đồng chí Đỗ Văn Ninh, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đặc công 113, chỉ huy trận
đánh hồi tưởng: “Cái thiêng liêng của thời điểm, cái nghiêm túc của nhiệm vụ đã nâng trách nhiệm
trong chúng tôi lên, có sức thôi thúc chúng tôi phải ráng hết sức mình mà vươn tới! Đây là trách
nhiệm, vừa là vinh dự đối với lực lượng đặc công”.
Hốc Bà Thức là căn cứ trọng yếu của Chiến đoàn 15 ngụy nằm án ngữ giữa đường 1A và
đường 24 (nay là khu vực phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa). Từ căn cứ này, chúng có thể
thường xuyên uy hiếp vùng giải phóng của ta và là hàng rào vững chắc không cho ta thâm nhập vào
vùng chúng tạm thời kiểm soát. Nhổ được căn cứ này là chọc thủng một mắt xích rất quan trọng
trong dải phòng ngự Bắc Sài Gòn của địch.
Với tầm quan trọng như vậy, Trung đoàn Đặc công 113 đã họp lên phương án tác chiến, phân
công Tiểu đoàn 9 và Đại đội Trinh sát 53 phải bao vây tập kích tiêu diệt bằng được căn cứ này. Sau
nhiều ngày chuẩn bị, đêm 28-4-1975, đồng chí Đỗ Văn Ninh - Chỉ huy trưởng trận đánh, đã hành
quân từ căn cứ Tân Uyên đến căn cứ Bùng Binh (xã Thiện Tân) cách mục tiêu chưa đầy 1km rồi
dừng lại triển khai lập sở chỉ huy và các mũi tiến công. Đúng 2h ngày 29-4, các mũi tấn công của
quân ta đã lọt vào và nổ súng đánh các mục tiêu bên trong căn cứ Hốc Bà Thức và khoảng 30 phút
sau đã chiếm được căn cứ, tiêu diệt 60 tên địch, bắt sống 7 tên, trong đó có tên đại tá thiết đoàn
trưởng.
Sáng sớm 29-4, Sở Chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy cho quân phản kích nhiều đợt hòng chiếm lại
căn cứ. Trong tình thế đạn dược, thuốc men, lương thực nước uống thiếu thốn nhưng với ý chí kiên
cường, dũng cảm, các chiến sĩ đặc công đã đánh lùi các cuộc phản kích của địch vào căn cứ, chốt giữ
Hốc Bà Thức đến 16h ngày 29-4, khi đại quân ta tiến vào, quân địch hoảng loạn tháo chạy, căn cứ
được giải phóng.
Sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đồng Nai đã xây dựng các
công trình tưởng niệm như Tượng đài Liệt sĩ đặc công Sân bay Biên Hòa, Đài tưởng niệm Chiến
thắng Long Bình, Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ Đặc công 113 và một ngôi miếu thờ 47 chiến sĩ đặc
công 113 được nhân dân phường Bửu Hòa lập ở chân cầu Ghềnh, để đời đời ghi nhớ sự hy sinh to
lớn, oanh liệt của các anh hùng liệt sĩ Trung đoàn Đặc công 113 đã ngã xuống trên đất Đồng Nai cho
ngày đại thắng của đất nước, non sông thu về một mối. Đồng thời là những địa chỉ giáo dục truyền
thống yêu nước, ý chí cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
Trận đánh giữ cầu Ghềnh và cầu Hóa An vào cuối tháng 4-1975 có ý nghĩa rất lớn, mở thông
đường cho đại quân cách mạng nhanh chóng tiến vào giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước.
Để góp phần làm nên chiến thắng này phải kể đến vai trò quan trọng của các chiến sĩ của
Trung đoàn đặc công 113.
Đêm 24, rạng sáng 25-4-1975, những người lính đặc công thuộc Tiểu đoàn 23 và Tiểu đoàn
174 (Trung đoàn đặc công 113) đã hành quân đến khu vực giáp ranh giữa 2 tỉnh Bình Dương - Đồng
Nai ngày nay và đặt Sở chỉ huy Trung đoàn gần cầu Hang (xã Hóa An, TP.Biên Hòa) để chuẩn bị
nhiệm vụ bảo vệ cầu Ghềnh, cầu Hóa An. Trước khi các tổ lên đường chiến đấu, lãnh đạo Trung
đoàn đặc công 113 đã dặn dò các chiến sĩ đặc công bằng mọi giá phải chiếm và giữ bằng được cầu.
* Đi vào nơi nguy hiểm
Để thực hiện nhiệm vụ, các chiến sĩ đặc công phải di chuyển vào sát cầu Ghềnh, cầu Hóa An
trong nội ô TX.Biên Hòa (nay là TP.Biên Hòa). Trong khi đó, những ngày cuối tháng 4, sau khi thất
bại Chiến dịch Xuân Lộc, các cánh quân của địch đổ dồn về phòng thủ dọc theo quốc lộ 1 và
TX.Biên Hòa rất đông. Ngoài ra, cầu Ghềnh, cầu Hóa An đều nằm gần Sân bay Biên Hòa và Bộ Tư
lệnh Quân đoàn 3 của quân đội Sài Gòn nên rất nguy hiểm, địch dễ dàng phản công với lực lượng áp
đảo.
Trước tình hình đó, Ban chỉ huy Trung đoàn đặc công 113 đã quyết
định tổ chức 3 lực lượng chính gồm: 2 lực lượng chính đánh cầu,
khi chiếm được phải bố trí chốt giữ không để địch lấy lại. Tiếp tục
tổ chức một lực lượng khác dọn đường, tiễu trừ thám báo. Sau
cùng, để đảm bảo hỗ trợ nhau trong quá trình chiến đấu, ngoài Sở
chỉ huy chung, trung đoàn còn lập Sở chỉ huy tiểu đoàn tăng
cường, chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ huy 3 lực lượng chiến đấu.
Đại tá Đinh Xuân Nghiêm (nguyên Phó trung đoàn trưởng Trung
đoàn đặc công 113, hiện ngụ xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, TP.Hồ
Chí Minh) nhớ lại nhiều người dân địa phương đã giúp đỡ đơn vị
bằng cách giúp đào công sự, tháo cánh cửa nhà để lát công sự cho
Sở chỉ huy. Dường như khí thế các cánh quân giải phóng đang dần áp sát Sài Gòn cũng khiến bà con
hăng hái hơn, ai cũng mong chờ đến ngày giải phóng.
Đúng 4 giờ 30 ngày 27-4-1975, trận chiến bắt đầu. Đại đội 1 và Đại đội 3 (Tiểu đoàn 23) đảm
nhiệm đánh cầu Ghềnh và cầu Hóa An thì chạm trán ngay với địch tại các khu vực đầu cầu thuộc địa
giới phường Bửu Hòa và xã Hóa An ngày nay. Trong vòng 30 phút, các mũi tiến công đã đánh bật
địch khỏi các chốt trên cầu và bắt đầu giai đoạn khó khăn nhất: giữ cầu. Khoảng 4 tiếng đồng hồ sau,
bão lửa của địch bắt đầu trút xuống từ các hướng, đây cũng là biện pháp địch thường sử dụng trước
các tình huống gay cấn.
Đối với ông Nguyễn Văn Chương (nguyên chiến sĩ đặc công Tiểu đoàn 23, hiện ngụ phường
Tân Phong, TP.Biên Hòa), dù chiến tranh đã lùi xa gần 43 năm nhưng ông vẫn không thể quên giây
phút sinh tử trong trận đánh bảo vệ cầu Ghềnh, cầu Hóa An.
“Pháo của địch từ Thủ Đức bắn lên, từ Châu Thới bắn sang, từ Long Bình bắn tới, đất trời
rung chuyển vì pháo. Pháo vừa im, bộ binh địch tiến vào, đạn bắn áp đảo. Sau đó là biệt động quân
rồi xe tăng của địch bắt đầu thọc vào Sở chỉ huy của chúng tôi và các chốt đang giữ cầu hòng chiếm
lại cầu nhanh nhất” - ông Chương kể.
* Quyết tử cho đất mẹ
Sau gần 2 giờ giằng co, lực lượng giữ cầu đã đánh bật được đợt phản công của địch. Nhưng
sau đó, máy bay L19 của địch tiếp tục quần đảo trên đầu để tìm hiểu trận địa phòng ngự của Trung
đoàn đặc công 113 hòng tìm cách đánh khác. Máy bay vừa đi thì pháo lại tiếp tục nã xuống, liên tục,
lặp đi lặp lại cả ngày 27-4-1975. Hôm đó các chiến sĩ đặc công đã đánh bật 4 đợt phản kích của địch.
Ông Phạm Xuân Mộc (chiến sĩ Tiểu đoàn 174, hiện ngụ phường Tân Hiệp, TP.Biên Hòa) nhớ
lại: “Tối 27-4-1975, địch ngưng tấn công, anh em chúng tôi xốc lại đội hình, củng cố công sự, thu
thập vũ khí chờ đợt phản công ngày mai của địch. Lúc đó, anh em ai nấy đều bảo lúc cần sẵn sàng
chiến đấu tới hơi thở cuối cùng, bắn cầm cự, không để phí đạn. Đến mờ sáng 28-4-1975, 5 máy bay
trực thăng từ Sân bay Biên Hòa lao đến trận địa và tên lửa, đạn đại liên xả liên tục xuống đầu chúng
tôi”.
Chiều 28-4, do địch áp đảo về quân số nên đã chiếm lại được cầu Ghềnh. Tuy nhiên, nhờ sự
giúp đỡ của nhân dân, du kích địa phương, cùng với ý chí kiên cường quyết tử cho Tổ quốc mà các
chiến sĩ đặc công vẫn kiên trì bám trụ các vị trí tại cầu Ghềnh. Ngay tối 28-4, Trung đoàn đặc công
113 lập tức tổ chức tiến công đánh bật quân địch, chiếm lại cầu lần nữa. Sau 2 ngày phòng thủ ở 2
cây cầu quan trọng này, đến sáng ngày thứ 3 (29-4-1975), pháo và bộ binh, xe tăng địch lại tiếp tục
tấn công dồn dập hòng lấy lại các vị trí quân ta đã chiếm.
“Nghe tin đồng đội liên tục ngã xuống, chúng tôi rất đau lòng. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh đồng
đội Lã Văn Điều bị mảnh pháo văng vào bị thương, nhưng vẫn vác nòng pháo ĐKZ còn nóng đỏ trên
vai và giật cò tiêu diệt 1 xe tăng địch và hy sinh ngay sau đó. Đau thương lắm, nhưng anh em ai cũng
phải nén lại để chiến đấu tới cùng” - ông Nguyễn Văn Chương bùi ngùi kể lại.
Quá trưa 29-4-1975, quân giải phóng từ hướng Tân Uyên nổ súng tấn công địch, đạn pháo
quân giải phóng hòa cùng hỏa lực các chiến sĩ đặc công đã khiến quân địch bỏ chạy. Sáng 30-4, các
chiến sĩ đặc công đã tay bắt mặt mừng cùng những người lính Sư đoàn 7, Quân đoàn 4 tiến về Sài
Gòn thông qua các cây cầu họ đã kiên cường giữ vững suốt những ngày qua...
Trung đoàn đặc công 113 (nay là Lữ đoàn đặc công 113) được thành lập ngày 3-6-1972 tại Chiến khu Đ (thuộc huyện Vĩnh Cửu ngày nay). Từ khi được thành lập cho đến ngày miền Nam hoàn toàn thống nhất, đơn vị đã tham gia 2 chiến dịch lớn, đánh 256 trận. Sau năm 1975, đơn vị còn tham gia chiến đấu tại biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc và làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn Campuchia. Đơn vị 3 lần được nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân vào những năm 1975,
1979 và 2000.



