Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Sinh Hưởng - Người đại đội trưởng xe tăng trở về căn cứ Phú Lợi
Nhập ngũ khi mới 17 tuổi, Đoàn Sinh Hưởng trưởng thành từ người lính trẻ thành đại đội trưởng xe tăng. Trong những ngày cuối tháng 4-1975, ông chỉ huy Đại đội 9 chiến đấu liên tục từ Tây Nguyên tiến về Sài Gòn. Sau chiến thắng, đơn vị của ông trở về căn cứ Phú Lợi, vừa bảo vệ thành quả cách mạng, vừa giúp Nhân dân Tân Uyên ổn định cuộc sống.

Năm 1966, khi vừa tròn 17 tuổi, Đoàn Sinh Hưởng tình nguyện nhập ngũ. Từ một thanh niên miền núi chưa từng biết đến xe tăng, ông được tuyển chọn, huấn luyện rồi trở thành chiến sĩ của lực lượng tăng thiết giáp. Chiến dịch đầu tiên ông tham gia là Đường 9 – Khe Sanh, nơi người lính trẻ phải đối mặt với bom pháo và những trận đánh khốc liệt kéo dài.
Qua nhiều năm chiến đấu, Đoàn Sinh Hưởng từng bước trưởng thành, đảm nhiệm cương vị Đại đội trưởng Đại đội 9 xe tăng. Đơn vị của ông được điều động vào chiến trường Tây Nguyên, chuẩn bị tham gia cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975.
Một trong những trận đánh quan trọng đầu tiên là tiến công cụm cứ điểm Đắk Pét. Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy chiếc xe tăng mang số hiệu 980, phối hợp với bộ binh đánh thẳng vào hệ thống phòng thủ của đối phương. Trên địa hình rừng núi hiểm trở, đường hành quân hẹp và bị đánh phá liên tục, các chiến sĩ vừa phải chiến đấu, vừa tìm cách bảo vệ phương tiện, sửa chữa hư hỏng ngay tại trận địa.
Sau chiến thắng Đắk Pét, Đại đội 9 tiếp tục tham gia trận đánh Buôn Ma Thuột. Nhiệm vụ của đơn vị là phối hợp với bộ binh tiến công Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 – một cơ quan chỉ huy quan trọng của đối phương tại Tây Nguyên.
Khi trận đánh bắt đầu, hỏa lực từ các vị trí phòng thủ bắn ra dữ dội. Đoàn Sinh Hưởng ra lệnh cho đội hình xe tăng vừa cơ động vừa bắn áp chế, mở đường cho bộ binh tiến lên. Chiếc xe tăng 980 do ông chỉ huy dẫn đầu đội hình, vượt qua các vật cản và thọc sâu vào khu trung tâm.
Trong khói lửa mịt mù, liên lạc giữa các xe có lúc bị gián đoạn. Đoàn Sinh Hưởng phải quan sát trực tiếp chiến trường, nhanh chóng xác định mục tiêu và điều chỉnh hướng tiến công. Đại đội 9 phối hợp với Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 21 thuộc Sư đoàn 10 đánh chiếm Bộ chỉ huy Sư đoàn 23, cắm cờ chiến thắng trên mục tiêu được giao.
Không dừng lại ở đó, đơn vị tiếp tục phát triển tiến công tại ngã năm, ngã sáu Buôn Ma Thuột, góp phần giải phóng toàn bộ thị xã. Từ Buôn Ma Thuột, những chiếc xe tăng lại vượt qua quãng đường dài, phối hợp giải phóng Cheo Reo – Phú Bổn và tiến xuống Tuy Hòa.
Cuộc hành quân thần tốc đặt ra những thử thách lớn. Xe tăng hoạt động liên tục, máy móc nóng lên, xích xe và các bộ phận dễ hư hỏng; trong khi nhiên liệu, đạn dược phải được tiếp tế ngay trên đường tiến quân. Có những đêm, các chiến sĩ vừa tranh thủ sửa xe vừa thay nhau ngủ bên vệ đường. Nhưng mệnh lệnh tiến về Sài Gòn thôi thúc tất cả không được chậm trễ.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng cùng đơn vị tham gia mũi tiến công từ phía Tây Sài Gòn. Những chiếc xe tăng nối tiếp nhau vượt qua các tuyến phòng thủ, phối hợp với bộ binh đánh chiếm những mục tiêu được giao. Đến ngày 30-4-1975, ông là một trong những người lính may mắn có mặt tại Sài Gòn giữa thời khắc thành phố rợp bóng cờ giải phóng.
Sau chiến thắng, đơn vị của Đoàn Sinh Hưởng không lập tức nghỉ ngơi. Các chiến sĩ được lệnh bàn giao những mục tiêu vừa tiếp quản, sau đó hành quân về đóng quân tại căn cứ Phú Lợi, tỉnh Thủ Dầu Một – một địa danh từng ghi dấu nhiều đau thương trong chiến tranh.
Tại Phú Lợi, Đại đội 9 vừa củng cố đội hình, bảo quản phương tiện, vừa sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu và giữ gìn an ninh trên địa bàn. Tàn quân và các nhóm chống đối vẫn còn hoạt động, vì vậy những người lính luôn phải duy trì tinh thần cảnh giác.
Đơn vị còn được phân công đến huyện Tân Uyên làm công tác vận động quần chúng và hỗ trợ xây dựng chính quyền cách mạng. Những người lính xe tăng từng chiến đấu giữa bom đạn nay về với xóm làng, cùng Nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống và xây dựng bộ máy chính quyền mới.
Tại đây, Đoàn Sinh Hưởng cùng đồng đội tiếp tục thực hiện nhiệm vụ với một tâm thế khác. Thay cho tiếng súng là những cuộc gặp gỡ Nhân dân; thay cho mệnh lệnh tiến công là công việc giúp địa phương giữ gìn an ninh, vận động người dân trở về sản xuất và xây dựng cuộc sống mới.
Tối 12-9-1975, qua chương trình thời sự, Đoàn Sinh Hưởng bất ngờ nghe tin mình nằm trong danh sách được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Cuối năm ấy, lễ đón nhận danh hiệu được tổ chức tại tỉnh Sông Bé cũ.
Trong giờ phút huy hiệu Anh hùng được gắn lên ngực áo, ông không nghĩ nhiều về những chiến công của bản thân mà nhớ đến những đồng đội đã nằm lại. Ông hiểu rằng phía sau danh hiệu của người còn sống là sự hy sinh của rất nhiều người không thể trở về.
Sau này, Đoàn Sinh Hưởng tiếp tục học tập, công tác và trưởng thành trong quân đội, đảm nhiệm chức Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp rồi Tư lệnh Quân khu 4, mang quân hàm Trung tướng. Khi nghỉ hưu, ông tiếp tục tham gia những hoạt động tri ân, giáo dục truyền thống và chăm lo cho thế hệ trẻ.
Câu chuyện về Đoàn Sinh Hưởng gắn với Bình Dương không phải bằng một trận đánh riêng lẻ, mà bằng những ngày đầu hòa bình tại căn cứ Phú Lợi và vùng đất Tân Uyên. Người đại đội trưởng xe tăng vừa bước ra khỏi khói lửa đã cùng đồng đội ở lại bảo vệ thành quả cách mạng, giúp Nhân dân hồi sinh cuộc sống trên vùng đất từng bị chiến tranh tàn phá.



