Trung tướng Cao Văn Khánh – Vị tướng tham mưu trưởng thành từ thực tiễn chiến trường
Cao Văn Khánh sinh năm 1917 tại thành phố Huế, trong một gia đình có truyền thống học tập. Trước khi tham gia quân đội, ông từng là giáo viên và có trình độ cử nhân Toán học, cử nhân Luật học. Báo Quân đội nhân dân ghi nhận ông là một trí thức tham gia cách mạng và sau đó trưởng thành qua thực tiễn chiến đấu. Năm 1945, ông gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng.
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Cao Văn Khánh đảm nhiệm nhiều cương vị ở chiến trường miền Trung. Ông từng là Trung đội trưởng, Đại đội trưởng Quân Giải phóng ở Huế, Ủy viên Quân sự tỉnh Bình Định và tham gia chỉ huy lực lượng ở Khu 5. Từ cuối năm 1946 đến năm 1948, ông giữ cương vị Khu trưởng Khu 5. Đây là giai đoạn chiến trường miền Trung có vị trí quan trọng trong thế trận kháng chiến, giúp ông tích lũy kinh nghiệm chỉ huy trên nhiều địa bàn và điều kiện tác chiến khác nhau.
Từ năm 1949, Cao Văn Khánh được điều ra Bắc và đảm nhiệm cương vị Đại đoàn phó Đại đoàn 308. Ông tham gia nhiều chiến dịch quan trọng của cuộc kháng chiến chống Pháp, trong đó có Chiến dịch Biên giới năm 1950 và Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Các tài liệu về ông cũng ghi nhận quá trình ông tham gia xây dựng và chỉ huy lực lượng chủ lực, đồng thời đảm nhiệm công tác huấn luyện quân sự.
Sau năm 1954, Cao Văn Khánh chuyển sang nhiều nhiệm vụ gắn với xây dựng quân đội chính quy và đào tạo cán bộ. Ông từng giữ chức Cục trưởng Cục Nhà trường thuộc Tổng cục Quân huấn, sau đó làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân. Năm 1964, ông được giao làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 3. Những nhiệm vụ này cho thấy quá trình chuyển từ chỉ huy chiến đấu sang kết hợp giữa chỉ huy, huấn luyện và công tác tham mưu trong thời kỳ quân đội bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển mới.
Trong kháng chiến chống Mỹ, Cao Văn Khánh lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí chỉ huy tại các chiến trường. Từ năm 1966 đến 1969, ông giữ các cương vị Phó Tư lệnh tại Mặt trận B3, Quân khu Trị - Thiên và Quân khu 4. Năm 1970, ông được giao làm Tư lệnh Mặt trận 968 ở Hạ Lào và Tư lệnh Binh đoàn B70. Năm 1971, ông là Phó Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào và Tư lệnh Mặt trận B5; năm 1972, ông đảm nhiệm cương vị Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên.
Đặc biệt, trong giai đoạn chuẩn bị và tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Cao Văn Khánh giữ vai trò trong bộ phận tham mưu chiến lược tại Tổng Hành dinh. Theo tư liệu của Hoàng thành Thăng Long, năm 1974 ông là Tổ trưởng Tổ Trung tâm, có nhiệm vụ thường trực theo dõi tình hình chiến sự và đề xuất phương án tác chiến. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng ở cấp tham mưu chiến lược trước bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh.
Năm 1974, Cao Văn Khánh được phong quân hàm Thiếu tướng và được bổ nhiệm làm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1980, ông được phong quân hàm Trung tướng. Ông qua đời cùng năm 1980.
Di sản của Cao Văn Khánh gắn với hai phương diện nổi bật: chỉ huy thực tiễn trên nhiều chiến trường và công tác tham mưu, huấn luyện quân sự. Từ một trí thức từng giảng dạy trước Cách mạng Tháng Tám, ông trưởng thành qua các cuộc chiến tranh, đảm nhiệm nhiều vị trí từ chỉ huy đơn vị, chỉ huy chiến trường đến tham mưu cấp chiến lược. Hoàng thành Thăng Long giới thiệu ông với danh xưng “vị tướng tham mưu chiến lược”, phản ánh vai trò nổi bật của ông trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ.



