Anh hùng Lực lượng vũ trang

Trung tướng Lê Nam Phong - Cuộc đời và chiến trận phần kết - Khúc khải hoàn của mùa xuân đại thắng

Trung tướng Lê Nam Phong - Khúc khải hoàn của mùa xuân đại thắng

Lai Châu10/03/2026CAND (Chi đoàn PV01)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau khi giải phóng được Xuân Lộc, cả Quân đoàn chuẩn bị gấp rút, việc triển khai công tác tư tưởng để nhận nhiệm vụ mới, song song với việc tập trung những nỗ lực cao truy quét, tiêu diệt lực lượng còn lại của Sư đoàn 18 bộ binh ngụy và trung đoàn 5 thiết giáp của chúng, để đánh chiếm yếu khu Trảng Bom trên đường tiến quân về Hố Nai - Biên Hòa.

Tôi còn nhớ không khí sôi động, khẩn trương của hội nghị Đảng ủy Quân đoàn họp bàn công tác lãnh đạo các đơn vị thực hiện các nhiệm vụ cấp bách của chiến dịch. Ngày 23 tháng 4 năm 1975, Đảng ủy đã nêu quyết tâm: "Tập trung mọi ưu thế binh lực, hỏa lực, phát huy sức mạnh đột kích cơ giới, xe tăng, nhanh chóng đạp tan tuyến phòng thủ Biên Hòa, mở cửa đột kích vào Sài Gòn, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trong nội đô".

Những ngày đó, quân ta ào ạt với khí thế một ngày bằng 20 năm, tiến công Trảng Bom, đánh chiếm từ Hưng Nghĩa đến Bàu Cá.

Ngày 29 tháng 4, trước lúc xuất quân tiến công vào nội đô Sài Gòn, đồng chí Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4, đã trao lá cờ "Quyết chiến, quyết thắng" cho Sư đoàn 7 chúng tôi để cắm trên nóc dinh Độc Lập.

Đó là một vinh dự to lớn cho sư đoàn và cá nhân tôi và các cán bộ chỉ huy của Sư đoàn 7 Anh hùng. Vậy là sau 30 năm xông pha chiến trận để đánh giặc cứu nước, ngày hôm nay cùng toàn quân, toàn dân, tôi sắp được bước tới phút vinh quang và thiêng liêng của lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc, ngày quân ta xông thẳng vào sào huyệt cuối cùng của chế độ Mỹ - ngụy, chứng kiến sự thất bại thảm hại của chúng! Ngày quân ta tiến vào Sài Gòn - Gia Định để ca khúc khải hoàn.

Cánh quân phía Đông, được sự chỉ huy của đồng chí Trung tướng Phó Tổng tham mưu trưởng, Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh - Lê Trọng Tấn, gồm hai Quân đoàn là Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4.

Bộ Tư lệnh QD4 đã gia nhiệm vụ đánh chiếm Sở chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy (Biên Hòa), sân bay Biên Hòa, Sở chỉ huy vùng 3 chiến thuật và Sở chỉ huy Sư đoàn không quân ngụy cho Sư đoàn 6 và Sư đoàn 341. Còn Sư đoàn bộ binh 7 được tổ chức thành lực lượng thọc sâu, binh chủng hợp thành tiến thẳng vào nội đô tiêu diệt địch, đánh chiếm Quận I, mục tiêu chủ yếu là dinh Độc Lập và đài phát thanh.

Cuộc tiến công đánh chiếm các mục tiêu ở Biên Hòa gặp nhiều khó khăn. Bọn địch ngoan cố nấp ở các nhà cao tầng vẫn bắn vào quân ta. Theo phương án đã duyệt, tôi ra lệnh giải quyết thật nhanh các cuộc cản phá của địch để thần tốc tiến vào Sài Gòn. Nhưng thật không may, đoàn quân đang hối hả chạy đua với thời gian thì chựng lại ở đầu cầu Ghềnh vì cầu quá hẹp và yếu, xe tăng không lọt qua được. Lòng tôi như lửa đốt, lệnh bỏ đường Biên Hòa - Thủ Đức, quay ra đường I.

Trong hoàn cảnh khó khăn ác liệt và phức tạp ấy, bộ đội vẫn giữ vững khí thế tiến công là nhờ trước chiến dịch Hồ Chí Minh, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh rất chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Ngoài việc họp Đảng ủy, Bộ Tư lệnh sư đoàn đã quán triệt nhiệm vụ vinh quang được giao cắm cờ trên dinh Độc Lập, tôi và đồng chí Chính ủy Phan Liêm và Phó Chính ủy Nguyễn Văn Thái còn trao đổi và bàn bạc kỹ càng về công tác giáo dục chính trị, động viên khí thế quyết tâm cho bộ đội.

Đồng chí Thái về làm Phó Chính ủy Sư đoàn 7 từ năm 1971. Khi đồng chí Phan Liêm bị thương, đồng chí Thái được bổ nhiệm quyền Chính ủy, rồi Chính ủy sư đoàn. Anh dường như sinh ra để làm chính trị. Với tác phong, phong độ trí thức, điềm đạm, sâu sát, hòa đồng, cách nói năng nhỏ nhẹ, có lý có tình, anh có khả năng thuyết phục quần chúng. Tôi nóng như lửa còn anh mát tính. Anh lo về tư tưởng tình cảm và đời sống tinh thần để tôi quyết tâm về phương án đánh địch và đời sống vật chất. Không những anh sâu về công tác Đảng, công tác chính trị và sáng kiến quân sự của anh khi lâm trận khá sắc sảo. Nhớ năm 1973, thời gian trước ngày hiệp định Pa-ri có hiệu lực, địch thực hiện âm mưu "tràn ngập lãnh thổ", chiếm đất. Trong trận Bố Lá (Bình Dương) tôi và anh Thái đi phía trước, bị máy bay B52 đánh trúng, sở chỉ huy bị thương vong gần hết. Anh Thái thoát được nhờ mảnh pháo băm trúng đuôi khẩu súng ngắn. Trong hòa cảnh ấy, mọi người trông vào những người chỉ huy lãnh đạo và anh Nguyễn Văn Thái đã góp phần quan trọng ổn định tư tưởng, xốc lại đội hình chiến đấu. Rồi lúc sư đoàn đánh Chiến đoàn 8 thuộc Sư đoàn 5 ngụy. Nó cơ động nhanh, ta toàn đánh vuốt đuôi. Ngày thứ hai, anh Thái góp ý: Trinh sát nắm địch không chắc. Địch ở rừng le rất khó quan sát. Nó lại đặt chốt tiền tiêu, ta nhầm là lực lượng chủ lực của địch nên phán đoàn sai. Tôi đồng ý, cho trinh sát lại và tổ chức lực lượng đánh chia cắt. Ngày thứ 3 đơn vị chiến đấu giành thắng lợi.

Anh không chỉ kỹ càng trong việc lớn mà cả trong sinh hoạt thường ngày, điều đó tạo cho sư đoàn trưởng sự yên tâm, ổn định. Chẳng hạn đơn vị có chiếc Honda 90 để cơ động. Lái xe trở anh mà phóng nhanh vượt ẩu, anh bắt dừng lại, giảng một bài về luật lệ giao thông, về an toàn tính mạng "tòng đầu triệt vĩ" dài đến ... bàn chân mọc rễ, khiến lái xe cạch đến già!

Trong cuộc đời binh nghiệp của tôi có một lần thử làm tuyên huấn. Ấy là năm 1953 ở Thái Nguyên, bộ đội học tập về chủ trương cải cách ruộng đất. Chính ủy Trung đoàn 88 (Sư đoàn 308) Đặng Quốc Bảo thấy tôi mồm mép cũng khá, xuất thân là bần cố nông, nên cho giảng một bài chính trị có đầu đề: "Ngồi mát ăn bát vàng" với nội dung lên án bọn địa chủ, cường hào. Sau màn dạo đầu xuôi sẻ, vào nội dung chính, tôi nói được đúng 15 phút thì hết vốn. Trung đoàn trưởng Thái Dũng, Chính ủy Đặng Quốc Bảo và Trung đoàn phó Nam Hà quyết định để tôi chuyển ngành quân sự và cho đi học trường Hoàng Phố.

Kể lại chuyện trên đây để muốn nói rằng, làm công tác chính trị phải có năng khiếu mới giỏi được. Không rõ người khác nghĩ sao, còn tôi, chế độ chính uỷ, chính trị viên của quân đội ta là tuyệt vời! Từ khi là đại đội trưởng, trải qua các cấp, lên đến quân đoàn trưởng, tôi ở và làm việc với nhiều chính trị viên và chính ủy, nhưng chưa bao giờ cảm thấy mình không muốn có họ. Vì vậy, lúc biết tin bỏ chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội, tôi và anh Hoàng Cầm đã khóc. Khóc thật sự, bởi vì tiếc cho một cơ chế đã trở thành truyền thống quí báu của Quân đội nhân dân Việt Nam và vì lưu luyến, bịn rịn khi phải chia tay cơ chế ấy.

Thực ra, tôi không chỉ nhìn cán bộ chính trị đồng cấp mà nhìn lên cả cấp trên. Đó là Chính ủy sư đoàn Vương Thế Hiệp (khi tôi là trung đoàn trưởng) và Chính ủy quân đoàn Hoàng Thế Thiện (khi tôi là cán bộ sư đoàn). Anh Vương Thế Hiệp rất tỉ mỉ, cụ thể trong công việc, có khả năng khái quát tư tưởng chỉ đạo bằng những khẩu hiệu ngắn gọn, dễ nhớ và đặc biệt anh rất chân tình với mọi người. Biết tôi mắc tật thích rượu, một lần anh vỗ vai: "Mày sẽ lên tướng nhưng phải bỏ rượu!". Tôi rút bi đông đặt trước mặt anh, xin bỏ. Tuy nhiên, sau đó, mấy em giúp việc thấy tôi thần sắc kém, đã dùng túi nhựa của xe tăng đựng rượu, nhét vào túi mìn clay-mo và bắt vòi lên cổ áo. Tất nhiên là việc này không qua được mắt Chính ủy Hiệp vì mọi khi, không bao giờ tôi dùng túi hay cặp. Sau này về làm Tư lệnh Quân đoàn I, Chính ủy Đỗ Mạnh Đạo cũng rất hợp với tôi và giúp đỡ tôi rất nhiều.

Trở lại sáng 30 tháng 4 năm 1975. Quay ra đường xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa, tôi ngồi trên chiếc xe bọc thép tiến về nội đô. Những đoàn xe bên đường ùn tắc lại do biển người chào đón chen lấn hò reo làm xe không đi được. Đã thấy có thể trễ thời gian, không kịp thực hiện nhiệm vụ trên giao cắm cờ chiến thắng trên dinh Độc Lập, nên tôi bàn giao nhiệm vụ liên lạc với quân đoàn cho đồng chí Chính ủy Nguyễn Văn Thái rồi nhảy khỏi xe bọc thép, gọi một chiến sĩ lái xe Honda chạy thẳng vào Thành phố. Đến đầu cầu Thị Nghè, gặp đồng chí Minh, trợ lý tác chiến, tôi nóng ruột hỏi ngay:

- Đại đội 7 có cắm cờ được không?

Đồng chí nét mặt trầm xuống, trả lời:

- Quân đoàn 2 đã cắm cờ trước. Đại đội 7 chúng ta đến sau 30 phút. Gần 12 giờ trưa chiếc xe tăng đầu tiên của Đại đội 7 chúng ta mới tiến đến cửa dinh Độc Lập!

Trong lòng tôi thoáng dậy một nỗi buồn tiếc; nhưng trấn tĩnh lại, tôi nói với đồng chí trợ lý tác chiến và cũng là an ủi mình:

- Chúng ta mất nhiều thời gian trên đường tiến quân ở Biên Hòa. Thôi đồng chí ở lại đón Trung đoàn 12, Trung đoàn 209 và Trung đoàn 210 ... vào chiếm các mục tiêu đã được phân công. Tôi vào dinh Độc Lập, có việc gì liên lạc gặp tôi ở đó.

Mấy phút sau, chiến sĩ lái xe Honda đưa thẳng tôi vào dinh Độc Lập.

Tôi bước qua cổng, bỗng có nhiều tiếng gọi:

- Nam Phong! Hoan hô Nam Phong!

Tại đây, tôi gặp các anh Hoàng Đan, Phó Tư lệnh Quân đoàn 2; Trung tướng Nam Long, phái viên của Bộ; anh Nguyễn Ân, Sư trưởng Sư đoàn 304. Trước khi đi vào dinh, tôi gặp đồng chí Hoàng Cao Đại, chính trị viên Đại đội 7 đang chờ sẵn. Trong nét mặt anh buồn, tôi hiểu tâm trạng cán bộ của mình và an ủi:

- Ta đến được thứ hai cũng là tốt lắm rồi. Các đồng chí cứ ở đây. Đại đội 7 sẽ vào tiếp quản dinh Độc Lập.

Thông cảm với tôi anh Hoàng Đan thân mật nói:

- Chúng tôi thuận lợi hơn nên vào được trước. Nhưng thôi, thế cũng là vui vẻ cả ... Chúng tôi đang đợi lệnh để "bàn giao mục tiêu" cho Quân đoàn 4 làm nhiệm vụ quân quản, chứ đâu đến phần chúng tôi. Nội các Dương Văn Minh đang ở trên tầng 2, chúng tôi đã cho canh gác cẩn thận.

Ngày hôm đó, tôi luôn động viên an ủi các cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 7 và thường dùng câu nói đùa: "Quân đoàn 2 cắm cờ cao thì chúng ta cắm cờ thấp. Cũng đều cắm cờ "Quyết chiến quyết thắng" cả. Bởi vì tất cả chúng ta đều là người chiến thắng!".

Trong những giờ phút thiêng liêng ấy, tôi nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cha thân yêu của lực lượng vũ trang đã sáng lập, giáo dục và rèn luyện quân đội ta. Vị lãnh tụ kính yêu của toàn dân tộc. Người vĩnh biệt nhân dân ta khi miền Nam chưa được giải phóng, đất nước chưa được thống nhất nhưng trong tim Người lúc nào cũng có hình ảnh miền Nam. Chính tư tưởng của Người đã dẫn dắt cho nhân dân ta, quân đội ta đi đến chiến thắng ngày hôm nay.

Bộ đội ta với tinh thần quyết chiến quyết thắng và ý chí quyết tâm cao, đã nhanh chóng khai thác được thời cơ lịch sử của giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, tạo được thế áp đảo, nâng cao tốc độ tiến công, thần tốc và táo bạo. Sư đoàn 7, Sư đoàn 6, Sư đoàn 9 đều lập công vang dội, tiêu diệt làm tan rã nhanh chóng từng trung đoàn, sư đoàn của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch mang tên Bác Hồ kinh yêu.

Cùng các cán bộ chiến sĩ trong đơn vị cũng như trong toàn quân, là người chỉ huy ở tư thế chiến thắng, lòng tôi vô cùng tự hào và tràn đầy xúc động, tin tưởng và hăng say mãnh liệt khi được nhận nhiệm vụ tiến quân vào Sài Gòn để giải phóng thành phố lớn nhất miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc giai đoạn chiến tranh đã kéo dài 30 năm của dân tộc ta.

Tôi đã ra sức động viên cán bộ chiến sĩ thực hiện tốt những nhiệm vụ trong giai đoạn này. Cuộc tiến công của bộ đội ta kể từ Xuân Lộc đến Hố Nai - Biên Hòa là một chặng đường tuy ngắn mà đầy ác liệt, gian nguy, thử thách, nhiều hy sinh cao cả. Trong cuộc chiến cam go ác liệt ấy nổi lên nhiều tấm gương anh hùng dũng cảm vô song. Nhiều cán bộ chiến sĩ ta đã nằm xuống trong thời điểm lịch sử này. Đó là những tổn thất, những hy sinh mất mát vô cùng đau đớn ... Nó khắc sâu trong tâm trí và ký ức đời chiến trận của tôi.

Mỗi khi nhớ lại hình ảnh hàng trăm, hàng ngàn cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 7, Sư đoàn 6, Sư đoàn 341 đã hy sinh và thương vong trong những ngày tháng đó, tôi vô cùng bùi ngùi thương tiếc. Một nỗi xúc động sâu xa tận đáy lòng hòa với lòng ngưỡn Sau khi giải phóng, ngay chiều 30 tháng 4 năm 1975, Quân đoàn được giao nhiệm vu quân quản thành phố. Nhiệm vụ thật mới mẻ, nặng nề và phức tạp. Chế độ cũ vừa xụp đổ, chính quyền mới bắt đầu thiết lập, quân đội ta vừa mới vào thành phố. Công tác duy trì và thực hiện nghiêm ngặt việc giữ gìn an ninh trong thành phố, trấn áp bọn phản cách mạng bảo vệ các cơ sở kinh tế, chính trị của cách mạng đặt ra những vấn đề vừa khó khăn vừa cấp bách. Nó đòi hỏi cấp lãnh đạo phải sâu sát, chặt chẽ và ý thức chính trị phải nhạy bén và hiểu biết về văn hóa - xã hội phải cao.

Bộ đội phải nêu cao được phẩm chất và đạo đức cách mạng, ý thức "cần, kiệm, liêm, chính", phải hết lòng vì dân vì nước mới hoàn thành tốt các nhiệm vụ khó khăn giai đoạn này. Lực lượng quân quản phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đảng và các đoàn thể cách mạng của Thành ủy, nhanh chóng xây dựng chính quyền và thiết lập trật tự xã hội. Chúng tôi đã nỗ lực vượt bậc, ngày đêm đem hết sức mình, dựa vào dân, cùng các đại phương ổn định đời sống của nhân dân, truy lùng bọn phản cách mạng và những kẻ trốn tránh khai báo trình diện. Tôi phổ biến và luôn nhắc nhở bộ đội, từ cán bộ đến chiến sĩ, phải nghiêm chỉnh chấp hành chính sách của Đảng và Nhà nước, sâu sát và chăm sóc tầng lớp nhân dân lao động nghèo; phải động viên khích lệ các nhân sỹ, trí thức và các nhà tư bản tiến bộ, các doanh nghiệp của người Việt người Hoa đã từng tích cực giúp đỡ đóng góp công sức tiền của cho cách mạng. Khi được nhận nhiệm vụ quân quản Sài Gòn, tôi nhớ lại có lần đã được vị tướng là một giáo viên trường Hoàng Phố (Trung Quốc) kể lại trong một tiết học về "tình quân dân".

Tháng 5 năm 1949, Quân giải phóng trung Quốc vượt sông Dương Tử đánh bại quân Tưởng ở Hoa Nam, vào giải phóng và thực hiện chế độ quân quản thành phố Thượng Hải, một thành phố lớn bậc nhất Trung Quốc với trên 10 triệu dân. Công tác quân quản vô cùng khó khăn, phức tạp. Việc thực thi các chính sách của Đảng Cộng sản trung Quốc khi vừa mới lập chính quyền cách mạng chủ yếu dựa vào lực lượng của các Quân đoàn Quân giải phóng nhân dân trung Quốc, đồng thời phát động phong trào tự quản của nhân dân lao động và các tầng lớp thanh niên trí thức tiến bộ ở Thượng Hải. Có một lần, một vị chỉ huy cấp sư đoàn khi tiếp quản một doanh nghiệp tư doanh, ông ta tịch thu toàn bộ tài sản, nhà cửa, của cải, đẩy cả gia đình ấy vào hoàn cảnh khó khăn. Nhà tư sản ấy đã chửi rủa "Giải phóng quân" là vong ơn bội nghĩa! Vị chỉ huy tức giận bắt giam ông ta và đưa ra toàn án quân sự xét xử ... Sau đó nhờ Nguyên soái Bành Đức Hoài và một số cán bộ đảng ở Thượng Hải xác nhận mới biết người này là một trí thức tư bản tiến bộ, yêu nước, đã hết lòng phục vụ, cống hiến tài lực công sức cho cách mạng và giúp đỡ các cán bộ Quân giải phóng qua nhiều thời kỳ khó khăn. Do không đi sâu sát và không nắm vững chính sách chủ trương cụ thể nên vị sư đoàn trưởng nọ đã phạm sai lầm trong công tác "quân quản". Vị chỉ huy ấy bị kỷ luật, giáng xuống 3 cấp.

Suy nghĩ từ ví dụ của giáo viên trường Hoàng Phố, tôi rất thận trọng cân nhắc, và hỏi ý kiến Đảng ủy Quân đoàn cũng như liên hệ với thành ủy, ủy ban nhân dân mỗi khi gặp những vấn đề phức tạp khó khăn.

Quân đoàn trải trên địa bàn công tác rất rộng và kiểm soát nhiều mục tiêu quan trọng như: dinh Độc Lập, Bộ Quốc phòng (ngụy), Bộ chỉ huy sư đoàn thủy quân lục chiến, Bộ Tư lệnh hải quân, cảng Bạch Đằng, đài phát thanh. Và trực tiếp quân quản các quận 1, 2, 3, 4, 10, 11 ở nội thành và quận Bình Thạnh.

Chiều ngày 1 tháng 5 năm 1975, Thiếu tướng, Chính ủy Quân đoàn Hoàng Thế Thiện giao nhiệm vụ cho tôi và anh Nguyễn Văn Thái, chiều ngày 2 tháng 5 năm 1975, tổ chức buổi lễ để ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định công bố quyết định của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam, trả tự do cho các thành viên nội các ngụy quyền Sài Gòn, nội các Dương Văn Minh, và tổ chức đưa họ về với gia đình.

Chiều ngày 2 tháng 5 năm 1975, sau buổi lễ, đồng chí Trung tướng Trần Văn Trà - Chủ tịch Ủy ban Quân quản, bảo anh Nguyễn Văn Thái, Chính ủy sư đoàn và tôi đưa tổng thống Dương Văn Minh, Phó Tổng thống Nguyễn Văn huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mậu lên gặp đồng chí Trà ở lầu trên. Sau đó, anh Nguyễn Văn Thái ở lại, còn tôi đi tổ chức anh em và chuẩn bị đưa họ về gia đình.g mộ chân thành đối với các đồng chí anh hùng liệt sỹ ấy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn