Trung tướng Lê Văn Tưởng
Trung tướng Lê Văn Tưởng (1919 - 2007), bí danh Lê Chân, Hai Chân, Hai Lê, quê xã Thạnh Lợi, huyện Thủ Thừa, tỉnh Tân An (nay là huyện Bến Lức tỉnh Long An). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo có truyền thống yêu nước. Ông nội ông là nghĩa quân Thiên Địa Hội từ trước năm 1930. Cha ông tham gia hội kín của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, về sau gia nhập Đảng Cộng sản.
Năm 17 tuổi, ông giác ngộ cách mạng và làm liên lạc trong phong trào Đông Dương đại hội. Nhờ sức vóc vạm vỡ và tính khí can trường, ông nhanh chóng chiếm được niềm tin của những bậc cha chú đi trước và được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng. Năm 1938, tại một cuộc biểu tình đấu tranh ở Tân An trong phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ông bị thực dân Pháp bắt giam sáu tháng ở khám Mỹ Tho. Ra tù, ông về lại quê tiếp tục hoạt động bí mật trong phong trào Nông hội đỏ, tham gia chỉ huy quân sự xã. Tháng 6/1940 ông chính thức đuợc kết nạp Đảng Cộng sản.Ngày 23/11/1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Ông là thành viên nòng cốt đội du kích xã Thạnh Lợi cùng nhân dân đứng lên cướp chính quyền. Cuộc khởi nghĩa ở xã Thạnh Lợi biểu thị được lòng yêu nước, gây tiếng vang, nhưng rồi nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp. Chúng bao vây, lùng sục, khủng bố dã man. Nhiều chiến sĩ bị địch bắt và thủ tiêu. Nhà của ông cùng mấy chục căn nhà khác ở Thạnh Lợi bị đốt cháy trụi. Gia đình phải bỏ trốn đi nơi khác làm ăn sinh sống. Cả Nam Kỳ chìm trong máu lửa của khủng bố trắng. Ông cùng một số chiến sĩ Cộng sản rút vào bưng biền củng cố và xây dựng lực lượng chuẩn bị chiến đấu lâu dài.Khoảng 1 tháng sau, Đội du kích Thạnh Lợi do ông chỉ huy tổ chức tấn công đồn điền mía Hiệp Hòa ở xã Hòa Khánh, huyện Đức Hòa. Trận công đồn bất ngờ này đã gây tiếng vang lớn cả vùng, du kích đã thu đuợc một khẩu súng ngắn 6,35 ly của tên Đồn trưởng. Đây là khẩu súng sản xuất ở Tiệp Khắc do tên Đồn trưởng lê dương lấy được trong Chiến tranh thế giới thứ nhất khi sang chiến trường Đông Âu. Ông được Đội du kích xã Thạnh Lợi giao sử dụng khẩu súng 6,35 ly chiến lợi phẩm.Đầu năm 1941, trong một lần ông cùng Đội võ trang từ bưng biền về xã Thạnh Lợi công tác, bất ngờ bị tên Hương quản Chánh và tên Hương tuần Tám tấn công. Ông đã dùng khẩu súng 6,35 ly thu được ở Hiệp Hòa bắn chết Hương quản Chánh. Tháng 4/1945, ông tham gia công tác xây dựng cơ sở huyện Thủ Thừa. Trong Cách mạng Tháng Tám, ông được phân công lãnh đạo khởi nghĩa ở huyện Thủ Thừa. Sau đó, với tư cách Ủy viên quân sự huyện, ông thành lập lực lượng dân quân cách mạng, được trang bị vũ khí thu được từ các đồn bốt giặc. Nam bộ kháng chiến, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Tân An, tiếp tục tổ chức chỉ huy bộ đội chiến đấu. Tháng 12/1945, ông là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Tân An và là Chỉ huy trưởng bộ đội liên quân Chợ Lớn-Tân An. Đầu năm 1946, hai lần thủ lĩnh du kích quân Lê Văn Tưởng đón tiếp Trần Văn Trà - Chính trị viên Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa từ Gia Định xuống Tân An thành lập Chi đội 14, rồi xây dựng căn cứ địa Đồng Tháp Mười. Cuộc gặp gỡ này cũng chính là mối duyên kỳ ngộ mở đầu cho tình bạn chiến đấu keo sơn giữa hai vị tướng Tư Chi - Trần Văn Trà và Hai Chân -Lê Văn Tưởng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Lúc Chi đội 14 mới hình thành, Trần Văn Trà làm Chi đội trưởng, Lê Văn Tưởng và Nguyễn Văn Siêu làm Chi đội phó, Nguyễn Đức Huy làm Chính trị viên.Năm 1949, sau khi Trần Văn Trà được Trung ương cử làm Khu bộ trưởng Khu 8, Chi đội 14 chuyển thành Trung đoàn 120. Nguyễn Công Trung, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ được điều về làm Trung đoàn trưởng, Lê Quốc Sản làm Trung đoàn phó, ông làm Trưởng ban tác chiến. Sau đó, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 358, Liên trung đoàn 120-105, Phó Bí thư liên Liên chi và Trung đoàn ủy viên.Từ tháng 2/1950 đến tháng 9/1955, ông lần lượt giữ các chức vụ Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tân An, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Đồng Tháp, Huyện đội trưởng Huyện đội Mộc Hóa, Chính trị viên Tiểu đoàn rồi Trung đoàn Mỹ Tho, Trung đoàn Ủy viên. Sau đó, ông giữ chức Trưởng ban tổ chức Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Tháng 10/1955, ông làm Chính ủy Trung đoàn 556 thuộc Sư đoàn 330, Bí thư Trung đoàn ủy rồi Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn. Tháng 3/1957, ông theo học trường Nguyễn Ái Quốc.Năm 1960, ông là Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 330, Phó bí thư Đảng ủy Sư đoàn. Ngày 7/5/1961, ông được Quân ủy Trung ương phân công trở về Nam chiến đấu. Đoàn Phương Đông 1 do Trần Văn Quang làm Trưởng đoàn, Trần Nam Trung làm Chính ủy, ông làm Phó chính ủy. Đoàn đã bí mật vượt Trường Sơn, sau 3 tháng về đến Mã Đà thuộc Chiến khu Đ. Ông được cử làm Chủ nhiệm Chính trị Ban Chỉ huy Quân sự Miền. Trong thời gian này, ông là Chính ủy Mặt trận Bình Giã rồi Phó Chính ủy Chiến dịch Đồng Xoài.Từ tháng 2/1966, theo chỉ thị của Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy tiền phương được thành lập với nhiệm vụ chỉ huy ba thứ quân chiến đấu ở phía bắc Sài Gòn, bảo vệ an toàn Chiến khu Đ, nơi có cơ quan đầu não của ta cùng nhiều kho tàng chiến lược. Hoàng Cầm được cử làm Chỉ huy trưởng, Lê Văn Tưởng làm Chính ủy, Nguyễn Hồng Lâm làm Chỉ huy phó, Hoàng Thế Thiện làm Phó Chính ủy, với lực lượng gồm Sư đoàn 9, Tiểu đoàn Phú Lợi, các đơn vị vũ trang tập trung và du kích cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu miền Đông.Từ năm 1967 đến năm 1970, ông lần lượt giữ các chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh miền, Ủy viên quân ủy miền kiêm Bí thư, Chính ủy Khu Đông Bắc, Bí thư kiêm Chính ủy Chiến dịch Chen-La 2. Tháng 9/1972, ông là Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 4/1975, ông làm Chính ủy Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh (Lê Đức Anh làm Tư lệnh) . Ông cùng Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ huy hai cánh quân hướng tây và nam tiến vào giải phóng Sài Gòn, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước... Tháng 5/1976, ông được cử làm Chính ủy Quân khu 9. Từ tháng 6 năm 1978 đến năm 1987, ông là Ủy viên thường trực Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tháng 11/1987, ông về hưu.Với những thành tích trong quá trình công tác, ông được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu thành đồng Tổ quốc và nhiều huân huy chương khác.



