Trung tướng Nguyễn Đức Sơn – Ký ức những ngày lửa đạn và nghĩa tình đồng đội
Trung tướng Nguyễn Đức Sơn có hơn 40 năm phục vụ trong Quân đội, từng trải qua nhiều chiến trường ác liệt như Lào, Quảng Trị và biên giới phía Bắc. Những năm tháng chiến đấu đã để lại trong ông không chỉ những vết thương mà còn là ký ức sâu sắc về tình đồng chí, đồng đội. Tiêu biểu là trận đánh điểm cao Măng Mô năm 1969, khi ông bất chấp hiểm nguy kéo người đồng đội Nguyễn Văn Vịnh bị thương nặng ra khỏi trận địa. Sau đó, dù mang nhiều mảnh đạn trong cơ thể, ông vẫn trở lại chiến đấu. Năm 1972, ông tiếp tục chỉ huy 68 cán bộ, chiến sĩ vượt sông Thạch Hãn vào Thành cổ Quảng Trị, tham gia 81 ngày đêm chiến đấu. Những ký ức ấy trở thành động lực để ông cùng đồng đội tích cực cung cấp thông tin, hỗ trợ tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ.

Trung tướng Nguyễn Đức Sơn, nguyên Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tổng Tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng, có hơn 40 năm gắn bó với Quân đội. Tháng 3-1967, khi chưa tròn 18 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ, trở thành chiến sĩ Trung đoàn 165, Sư đoàn 312. Từ đó, ông lần lượt chiến đấu tại chiến trường Lào, Thành cổ Quảng Trị và tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.
Một trong những ký ức sâu sắc nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông là trận đánh tại điểm cao Măng Mô, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào) cuối năm 1969. Khi ấy, Trung đoàn 165 được giao tham gia Chiến dịch 139 nhằm phản công lực lượng Vàng Pao và quân đội Thái Lan được Mỹ hỗ trợ, giành lại địa bàn chiến lược.
Sau khi trinh sát, đơn vị quyết định sử dụng phương án “mật tập”, bí mật tiếp cận mục tiêu và đánh theo cách thức của đặc công. Khi trận đánh bắt đầu, Nguyễn Đức Sơn, lúc đó là trung đội phó, được giao chỉ huy một mũi tiến công. Mũi của ông nhanh chóng đánh chiếm được hai lô cốt đầu cầu. Xạ thủ B40 Nguyễn Văn Vịnh, người đồng hương Phú Xuyên, đã bắn trúng miệng hầm địch, tạo điều kiện cho bộ đội tiến lên.
Tuy nhiên, các hướng tiến công khác không phát triển, khiến quân địch tập trung hỏa lực vào mũi của Nguyễn Đức Sơn. Do dự kiến đánh mật tập nên bộ đội mang theo không nhiều đạn, trong khi lực lượng địch đông hơn dự kiến. Sau thời gian chiến đấu quyết liệt, đạn dần cạn và thương vong tăng lên. Nguyễn Đức Sơn buộc phải ra lệnh cho đồng đội rút lui, còn ông cùng xạ thủ Nguyễn Văn Vịnh ở lại chặn địch.
Khi những quả đạn B40 cuối cùng được bắn ra, Nguyễn Văn Vịnh bị đạn địch bắn trúng mặt và bị thương rất nặng. Nguyễn Đức Sơn không nỡ bỏ lại đồng đội. Ông vừa kéo Vịnh xuống núi, vừa tìm cách đánh trả địch. Quãng đường chỉ hơn 100m nhưng vì hỏa lực đối phương dày đặc, hai người phải mất hàng giờ mới xuống được chân đồi. Khi gặp lực lượng đón phía dưới, Nguyễn Đức Sơn cũng kiệt sức và mất nhiều máu. Đáng tiếc, người đồng đội Nguyễn Văn Vịnh đã không qua khỏi.
Ba tuần sau khi bị thương, dù còn sáu mảnh đạn trong cơ thể, trong đó có một mảnh nằm ở đầu, Nguyễn Đức Sơn đã rời bệnh xá trở lại đơn vị. Ông tiếp tục tham gia chiến đấu trong Chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng với cương vị Chính trị viên Đại đội 6, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 165. Những trận đánh tiếp theo lại tiếp tục chứng kiến sự hy sinh của nhiều đồng đội. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, việc chưa tìm được hài cốt của một số người từng chung chiến hào vẫn là nỗi day dứt trong lòng ông.
Giữa năm 1972, khi đang chiến đấu ở Lào, Nguyễn Đức Sơn được điều gấp về Mặt trận Quảng Trị, nơi chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt. Đầu tháng 9-1972, Tiểu đoàn 5 được bổ sung 52 tân binh. Trên cương vị Chính trị viên phó Tiểu đoàn, ông được giao nhiệm vụ đưa toàn bộ lực lượng vượt sông Thạch Hãn vào vị trí chiến đấu.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Đúng 1 giờ 10 phút ngày 4-9-1972, đoàn gồm 68 người, trong đó có 52 tân binh, bắt đầu vượt sông Thạch Hãn trong đêm. Các chiến sĩ vừa bơi, vừa lội qua sông, tranh thủ những khoảng thời gian ngắn giữa các loạt pháo kích. Đến rạng sáng, toàn bộ lực lượng đã tới vị trí chốt giữ của Tiểu đoàn 5 ở phía đông nam Thành cổ Quảng Trị. Tại đây, họ tiếp tục chiến đấu trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.
Sau những ngày chiến đấu khốc liệt, những người lính năm xưa từng hẹn nhau rằng khi hòa bình sẽ hằng năm gặp mặt tại trung đoàn. Nhưng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc tiếp tục diễn ra, khiến lời hẹn phải kéo dài nhiều năm. Chỉ khi về hưu, một số đồng đội còn khỏe mới có điều kiện thường xuyên liên lạc và gặp gỡ. Mỗi lần hội ngộ, họ lại cùng nhau ôn lại đêm vượt sông Thạch Hãn và nhớ về những người đã mãi mãi nằm lại chiến trường.
Với Trung tướng Nguyễn Đức Sơn, những ký ức chiến tranh không chỉ là câu chuyện của quá khứ mà còn là trách nhiệm với những đồng đội đã hy sinh. Ông đánh giá cao các hoạt động tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, đồng thời khẳng định những cựu chiến binh từng trực tiếp chiến đấu sẵn sàng cung cấp thông tin về địa hình, trận đánh và vị trí đồng đội hy sinh để hỗ trợ công tác tìm kiếm.
Qua câu chuyện của Trung tướng Nguyễn Đức Sơn, hình ảnh người lính hiện lên thật đẹp: dũng cảm trong chiến đấu, sẵn sàng nhận phần hiểm nguy về mình, không bỏ lại đồng đội và luôn đau đáu với những người đã hy sinh. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng nghĩa tình đồng đội vẫn là sợi dây gắn kết những người lính năm xưa, đồng thời trở thành động lực để họ tiếp tục góp sức tìm kiếm, đưa các liệt sĩ trở về với gia đình và quê hương.



