“Trước giờ nổi dậy”
Đầu năm 1945, trước những thất bại liên tiếp của phát xít Đức tại Berlin và quân Nhật ở Mãn Châu, cùng bước tiến của Đồng minh từ Normandy đến Thái Bình Dương, Tỉnh ủy lâm thời ở Ba Tơ nhận định thời cơ cách mạng đang đến gần. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Trương Quang Giao, tổ chức quyết định phát động phong trào công khai, treo cờ, rải truyền đơn, xây dựng căn cứ du kích miền núi, tranh thủ quần chúng và chuẩn bị thoát ly tập thể. Mọi công tác in ấn, liên lạc, phân công cán bộ được gấp rút hoà
| Đầu năm 1945 Tỉnh ủy lâm thời họp nhận, định: Tình hình thế giới chuyển biến nhanh chóng, ở mặt trận phía Tây, Hồng quân Liên Xô tấn công như vũ bão tiêu diệt nhiều binh đoàn tinh nhuệ của phát xít Đức. Bọn Đức quốc xã đang huy động toàn lực để bảo vệ Bá Linh, ở mặt trận phía Đông, Hồng quân Liên Xã giáng những đòn trí mạng vào lực lượng hùng hậu nhất của quân đội Nhật ở Mãn Châu khiến bọn chúng không còn sức gượng dậy. Ở mặt trận Thái Bình Dương, liên quân Anh-Mỹ đã chiếm các quần đảo Mác-san, Ca-xô-lin, Phi-líp-pin, đổ bộ lên Ô-ki-na-oa và Kiu-sin, lãnh thổ của Nhật. Ở Pháp, trước khi lực lượng Đồng mình đổ bộ lên bờ biển Noóc-măng-đi ở phía bắc nước Pháp thì những người cộng sàn đã lãnh đạo các đoàn quân du kích cùng với lực lượng của tướng Đờ Gôn, chiến đấu anh dũng giải phóng nhiều thành phố. Trước tĩnh hình đó, có nhiều khả năng Nhật lật Pháp để rảnh tay đối phó khi lực lượng khi Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương. Mặt khác, bọn Pháp thân phái Đơ Gôn, tích cực chuẩn bị lực lượng khi Đồng minh đến. Việc gần đây Pháp chở hàng bằng xe ô tô che kín vải bạt lên Ba Tơ, Gi Lăng, mở lại con đường Gi Lăng đi Kôm Plông, sửa lại sân bay Vi Ranh cho tàu bay Mỹ xuống chứng tỏ nhân định của Tỉnh ủy là có cơ sở. Về phần chúng ta, phong trào ở trung châu phát triển rộng khắp. Các huyện đều xây dựng được đoàn thể cứu quốc như: Chỉ hội nông dân Cứu quốc, Đoàn thanh niên Cứu quốc... Cơ sở miền núi tạm thời có chỗ dựa nhưng cũng chỉ mới vận động được các tù trưởng, già làng, còn quần chúng chưa hiểu gì về cách mạng. Điều đáng lo là phong trào tuy phát triển rộng, nhưng chưa mạnh. Bởi lẽ ta còn thiếu cán bộ có năng lực, có kinh nghiệm vận động, có uy tín, do đó chưa thuyết phục lôi kéo được một số chính trị phạm lâu nay mất liên lạc còn đang nằm chờ thời, số người này lại có uy tín lớn trong quần chúng. Tiếng nói và thái độ ủng hộ cách mạng của họ có sức lôi kéo phong trào rất mạnh. Anh Giao vẫn ngồi im lắng nghe ý kiến từng người, thỉnh thoảng cầm que cời than trong bếp cho ngọn lửa bốc cao rồi gạch một chữ lên nền đất như thể ghi nhớ một ý kiến cần khẳng định, hay phải phân tích thêm cho rõ. Đợi anh em nói xong, anh mới lên tiếng: - Những ý kiến các đồng chí vừa nói đều đúng với tình hình phong trào tỉnh ta. Tôi nghe và cũng sáng ra nhiều vấn đề. Nhưng tôi có một ý kiến bổ sung. Mọi người nhìn anh chờ đợi. Người đồng chí ấy đã qua nhiều nhà tù, chịu đủ cực hình tra tấn, chứng kiến những bước thăng trầm của phong trào cách mạng trong tỉnh, nên đã tôi luyện anh thành con người gang thép kiên trung. Anh là chỗ dựa của Tỉnh ủy lâm thời. Giọng anh chậm rãi, rành mạch, dứt khoát: - Dân ta có tinh thần cách mạng. Phong trào yêu nước bắt đầu từ những ngày các cụ con khăn xếp áo the kéo dân đi đòi khất thuế cho đến khi Đảng ra đời. Mặc dù bọn Pháp bắt giam cầm tra tấn, tù đày chém giết những người yêu nước, nhưng phong trào tạm lắng rồi bùng lên. Đặc điếm đó là thuận lợi cơ bản cho việc vận động phong trào cách mạng trong tỉnh. Hiện nay cả Pháp lẫn Nhật đều ra sức áp bức vơ vét của dân để phục vụ chiến tranh. Lòng người vô cùng căm ghét, chờ đợi cách mạng đứng ra lành đạo nhân dân vùng dậy chống lại bọn chúng. Tình thế đó cho phép chúng ta phát động phong trào, vận động công khai bằng việc treo cờ, rải truyền đơn, dán biểu ngữ khắp các địa phương trong tỉnh và liên hệ với tỉnh bạn cùng phối hợp. Đồng thời chúng ta thoát ly tập thể. Một số đồng chí tỏa về địa phương lãnh đạo phong trào, giành giật quần chúng đừng để họ rơi vào cạm bẫy của bọn cơ hội mà thực chất là tay sai cho giặc, hoặc của bọn thân Nhật ráo riết hoạt động dưới chiêu bài: "Châu Á của người Châu Á". Một số khác đi sâu vào vùng đồng bào Thượng, tranh thủ uy tín của các già làng, các tù trưởng tuyên truyền giác ngộ đồng bào lòng căm thù Tây - Nhật, xây dựng căn cứ du kích để khi thời cơ đến ta có ngay lực lượng hậu thuẫn cho việc khởi nghĩa từng phần như tinh thần Nghị quyết tám của Trung ương. Mọi người tán thành ý kiến anh Giao và chuyển sang những công việc cụ thể. Tỉnh ủy phân công anh Khuy (Trần Nam Trung) cùng các đồng chí trung kiên ở địa phưong lãnh đạo ba huyện Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành, đồng thời lo bắt liên lạc với phong trào cách mạng tỉnh Bình Định. Tôi, anh Khoách, anh Kiệt và một số đồng chí hăng hái, khỏe mạnh đi sâu vào rừng, vận động đồng bào Thượng xây dựng cản cứ du kích. Anh Giao, anh Khế (Trần Quý Hai) cùng một số đồng chí quê ở các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa trả về địa phương hoạt động. Riêng anh Giao với cương vị bí thư Tỉnh ủy lâm thời thường xuyên liên lạc với ba nhóm để nắm tình hình, điều chỉnh chủ trương hoạt động cho phù hợp với từng giai đoạn, đồng thời tìm đường dây chắp nối với cơ quan lãnh đạo của Xứ ủy và Trung ương, liên hệ phối hợp hành động với phong trào Quảng Nam. Trước mắt, chúng tôi khẩn trương tổ chức việc in truyền đơn, biểu ngữ, chương trình, điều lệ Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị băng cờ, khẩu hiệu và một số phương tiện cần thiết trước khi trốn thoát khỏi căng an trí Ba Tơ. Thời gian hành động dự kiến vào ngày 15 tháng 3 năm 1945. |


