TRƯỚC LÀN ĐẠN NHỌN
TRƯỚC LÀN ĐẠN NHỌN
Trước khi chúng tôi về thì Xưởng phim gặp một biến cố, biệt kích đột nhập vào đơn vị lúc vắng người, bắn chết mấy anh em, trong đó có anh Phạm Tranh, nhà nhiếp ảnh kỳ cựu. Chúng tôi chưa có dịp gặp anh, sau này nhìn lại những tấm ảnh anh chụp được đăng báo Quân đội Nhân dân mới hình dung phần nào trình độ nghề nghiệp của anh. Thật đáng tiếc cho chúng tôi không có may mắn được chung sống với anh để học hỏi thêm.
Qua năm 1966 có hai nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp cùng về công tác với chúng tôi. Hai anh em này tính khí khác nhau. Nguyễn Văn Năng quê ở Thái Bình, tính tình nhu mì, ít nói, chỉ lắng nghe, nghe đâu nhớ đấy, trí nhớ tốt đến độ tôi phát sợ, đúng hơn là kính nể. Sau chiến dịch trở về, anh em túm tụm uống trà, ăn đường tán, nói cười như pháo nổ, Năng ta cứ lẳng lặng, lâu lâu cười tủm. Bom đạn ác liệt, Năng ta vẫn thế. Ngoài chiến trường chụp được kiểu ảnh ưng ý, lại cười tủm. Mùa mưa năm 1968, trong một trận đánh ở Tây Ninh, Năng chạy ngang với bộ binh và… tôi không bao giờ gặp lại nụ cười tủm của Năng nữa. Bây giờ trong các tấm hình tư liệu lưu trữ còn có tên tác giả nhiếp ảnh Nguyễn Văn Năng nữa hay không, tôi không rõ, nhưng trong tâm trí tôi đó là mộ nhiếp ảnh viên có trình độ chuyên môn cao, người đồng chí tốt.
Ngược với tính nết của Nguyễn Văn Năng, anh Nghiêm Hà quê ở Hải Phòng, đi đến đâu thì như "lân đớp pháo" đến đó, vui như hội. Về chuyên môn của anh thì tôi khỏi nói vì khi về đến nơi anh được bổ nhiệm ngay làm tổ trưởng tổ nhiếp ảnh. Và từ khi có anh, hình ảnh chụp về đã vượt qua tính chất tư liệu, trở thanh báo chí và có lúc đạt trình độ nghệ thuật. Mùa mưa năm 1968, Nghiêm Hà ra mặt trận vào Sài Gòn và đã để lại một phần bàn tay phải của mình. Từ đó anh thôi không đi mặt trận nữa, nhưng vẫn tiếp tục hướng dẫn các thế hệ nhiếp ánh tiếp nối. Với giọng nói oang oang, tiếng cười giòn giã của anh trong những năm tháng ở rừng quả là quý báu và cần thiết, miễn là khi báo động có biệt kích hoặc đi qua vùng có máy dò tiếng động thì: “Nghiêm Hà ơi, bé bé cái mồm kẻo chết cả lũ".
Xin nhắc lại đầy đủ, ba anh nhiếp ảnh từ miền Bắc vào chi viện cho Quân giải phóng B2, ba người có học vấn và trình độ nghề nghiệp cao, có kinh nghiệm công tác báo chí trên Miền Bắc: Pham Tranh, Nguyễn Văn Năng, Nghiêm Hà. Ba ngươi vào thì hai hy sinh, một bị thương nặng. Những bức ảnh chiến tranh mà chúng ta còn xem được ngày hôm nay đã phải trả giá bằng cái giá như thế.
Từ năm 1969 trở về sau, đội ngũ nhiếp ảnh ngày càng đông và thành thạo nghiệp vụ, ít nhiều đều do Nghiêm Hà đào tạo. Hai mươi hai năm sau, chiến tranh kết thúc, đội ngũ đó có người chuyển nghề, có ngươi còn đeo đẳng với nghề nghiệp và đạt đỉnh cao của cuộc đời, chắc nhiều người còn nhớ đến ông thầy của thời vỡ lòng.
Người quay phim của Xưởng phim chúng tôi ngã xuống sớm nhất trước làn đạn nhọn của quân thù có tên Nguyễn Phú Thạnh, hy sinh vào mùa khô 1966. Tôi chưa có dịp gặp anh, nhưng một duyên may khiến tôi ghi nhớ về anh đến tận bây giờ. Khi tôi về đến Miền Đông thì anh Phú Thạnh cùng với Lê Tiễt và Dương Tôn Báo đang đi làm phim ở Sư đoàn 5. Chưa được mấy hôm thì Lê Tiết đem phim sống xuống Sư đoàn 5 cho Phú Thạnh và cùng với đoàn tiếp tục làm phim. Chưa kịp ra đi thì Dương Tôn Báo trở về buồn thiu báo tin, trong một trận đánh giao thông, Phú Thạnh xung phong cùng xung kích đứng trên ụ gò mối để lấy toàn cảnh thi lãnh nguyên một trái M79. Tôi nhận cùng với Dương Tôn Báo và Lê Tiết dựng phim về những chất liệu anh Phú Thạnh quay được. Nhờ đó tôi mới biết thêm ở Miền Đông có núi Mây Tào, ga Gia Huynh, ga Trảng Táo... những cảnh quay của anh chững chạc như đặt trên chân máy, nội dung từng cảnh đâu ra đấy, có con người, có bối cảnh rõ ràng rành mạch. Sau này xem các phim của anh Trần Nhu thì thấy rõ ràng thầy nào trò nấy, Phú Thạnh đã học được nơi người thầy của mình, những cốt lõi ngữ pháp ngôn ngữ điện ảnh và thực hiện một cách nhuần nhị ngay cả dưới làn đạn nhọn. Hay nói một cách khác, trong khi hai bên bắn nhau túi bụi, khói bụi mù mịt, đất cát lấm lem, người lính trông như củ khoai vừa bới dưới ruộng lên, vừa hành tiến đứng lên, chạy tới, nằm xuống núp đạn, vừa quan sát, vừa bắn, người quay phim cũng làm như vậy, nhưng cảnh quay của anh không rung không lắc, bấm máy đúng lúc và ngưng máy khi nội dung vừa đủ. Phú Bằng, nhà báo thân hữu của chúng tôi có nói "Quay phim là những phóng viên viết sách trên bảo thảo của mình dưới làn đạn nhọn”. Câu nói đó hoàn toàn đúng cho trường hợp của Phú Thạnh và là mục tiêu phấn đấu của chúng tôi. Tinh thần anh dũng của người quay phim là ở chỗ đó.
Vũ Thập là một nhà quay phim giỏi.
Câu nói đó không phải từ ông giám đốc Xưởng phim mà từ đồng nghiệp của chúng tôi công nhận. Tốt nghiệp cấp ba hệ chín năm, Vũ Thập vào bộ đội. Ngày ấy, những đầu năm 1950, trong một trung đoàn, số quân nhân có bằng thành chung, tú tài hiếm lắm, đếm được trên đầu ngón tay. Sau này Thập được quân đội gửi đi học đại học. Đó là một chàng trai nhanh nhẹn, khỏe mạnh và thông minh. Trong đợt Mậu thân, chủ lực ta đột nhập vào Sài Gòn hướng quận 6, Thập và Dương Phước An - một người quê Ninh Bình, một người quê Quảng Trị - cặp quay phim thành công nhất trong giới chúng tôi. Ngay ấy lực lượng ta đột nhập vào Sài Gòn chưa đủ mạnh để áp đảo địch. Vũ khí chỉ có B40 và AK với cơ số đạn trên lưng, di chuyển tung hoành vào ban đèm, sáng ra là thiên về phòng ngự. Trong khoảnh khắc bình minh ngắn ngủi (từ 5g00 đến 6g00 sáng), hai anh em đã tranh thủ quay được những cảnh tuyệt vời mà trong lịch sứ chống Mỹ cứu nước chẳng có nhà quay phim nào quay được.
Mùa mưa năm 1968, còn gọi đợt 8 Mậu Thân, vết thương phần mền mới lên da non, Vũ Thập lại tham gia trận phục kích vận động trên quốc lộ 22 đoạn Trảng Bàng. Nhanh nhẹn và dũng cảm đã đem lại cho anh những kết quả mà không mấy ai đạt đươc. Một chú lính Mỹ đưa tay đầu hàng ngay tại trận. Chú là lính lái xe, cùng với khẩu Rouleau sáu viên chưa bắn phát nào khi giao nộp. Sau này trong trại tù binh có dịp quay phim là hắn ta luôn miệng cảm ơn ông quay phim vì hy vọng hình ảnh này sẽ phát lên truyền hình Mỹ, má y có dịp xem để tin rằng y còn sống. Chú lính Mỹ gốc Mêhicô này còn nhờ tôi chuyển lời cảm ơn đến ông quay phim ngoài mặt trận (Vũ Thập) đã cho y những kiến thức cần thiết để tránh đạn của đồng đội y. Một thành công thứ hai của Vũ Thập là một cảnh quay bộ đội ta bắn đại liên (tiền cảnh) xung kích chạy lên (trung cảnh) và xa xa là xe Mỹ (bối cảnh). Gần 30 năm rồi tôi vẫn còn nhớ lại, đêm đó, trong rừng Tây Ninh, mưa lắc rắc cuối mùa, khi chiếu phim nháp đến cảnh này, tất cả chúng tôi, quay phim, nhiếp anh, dựng phim, đều vỗ tay hoan hô. Còn Vũ Thập lúc đó đang nằm trong quân y viện. Trận này anh bị thương, vết thương buộc anh phải giã từ quay phim, trở thành cán bộ huấn luyện cho đến khi trở về nghỉ.
Ngược lại với Vũ Thập sôi nổi, vui vẻ. Dương Phước An thâm trầm, kín đáo nhưng anh không xa cách mọi người. Sức mạnh nội tâm đã thuyết phục được giám đốc xưởng cử anh đi Bến Tre để làm một phóng sự về vùng đất này trong giai đoạn chiến tranh cục bộ. Bến Tre thời đồng khỏi đã được miêu tả nhiều trong một số phim. Những năm đó, Bến Tre là đất thánh của cách mạng Miền Nam, đến Bến Tre là mơ ước của nhiều phóng viên chúng tôi. Tôi không kể lại đây những gian truân vượt đồn bốt, sông rạch của chuyến đi mà chỉ ghi lại câu chuyện tình cảm. Giọng Quáng Trị của anh ở đất Bến Tre gây chú ý cho nhiều người. Một tối xong việc ngồi chơi thì một du kích địa phương đến thăm hỏi Dương Phước An. Sau khi thăm hỏi quê quán của An, người du kích đòi An thưởng một xị rượu đế. Đòi cho vui vậy thôi, anh ta kể:
“Trước đây, khi anh ta đi quân dịch bị điều động ra vùng 1 chiến thuật (tức Thừa Thiên – Quảng Trị) có đến thăm viếng nhà dân. Nay nghe An nói đúng tên xóm láng người thân trong nhà, anh ta đã xác định rằng anh ta đã đến đúng nhà An. Biết được trên 10 năm nay, An không có tin tức gia đình, anh ta chỉ cung cấp vài chi tiết là bố mẹ An vẫn sống mạnh giỏi và chị vợ An vẫn chờ An không đi lấy chồng. Chị ta đứng đắn, có vẻ như người hoạt động cho cách mạng đằng mình".
Chỉ biết được bấy nhiêu thôi là Dương Phước An đã quá mừng. Sau chuyến đi Bến Tre về, anh vui vẻ cởi mở hơn trước. Còn toàn bộ hình ảnh chuyến đi Bến Tre 1967 đó chưa kịp in tráng thì An tham dự Mậu Thân và hy sinh. Công tác biên tập năm đó không có ai trông nom nên phim cất kho luôn, sau này tôi chỉ nghe anh em kể lại một số cảnh quay mà chặc lưỡi hít hà!
Tôi chỉ công tác chung với Dương Phước An có hơn 4 năm, từ Hà Nội đến rừng Tây Ninh và đã cách biệt nhau ngót 30 năm rồi, nhưng giọng nói, dáng đi, cảnh quay của Dương Phước An vẫn còn rõ mồn một trong tâm trí. Nếu sức mạnh nội tâm của An thuyêt phục được ông Cố Hỷ giám đốc Xưởng phim Quân giải phóng để được đi Bến Tre rồi nhận tin nhà qua một người từng là lính ngụy, vui niềm vui ngắn ngủi trong 3 tháng cuối đời, rồi ngã xuống trên nẻo đường giao liên, nơi cánh rừng tràm Ba Thu, thì âu ra ký ức tôi chưa phai mờ về anh có lẽ cũng do sức mạnh tâm linh đó.
Hàng chục năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chị Lê Thị Muộn, vợ liệt sĩ Dương Phước An sau khi liên lạc được với tôi về việc tìm hài cốt chồng thì có nhờ cháu gọi điện thoại từ Quảng Trị vào Thành phố Hồ Chí Minh rằng chị quá già yếu không thể đi nổi. Hài cốt của Dương Phước An đã hoà cùng cỏ cây đất nước, non sông này.


