Truông Bồn
TÁC PHẨM: TRUÔNG BỒN
Tác giả: Bùi Thị Bảo Nhi
Học sinh lớp: 10/4
——————————————————
Tôi từng đọc qua những bài báo, bài viết hậu chiến viết về chiến tranh như thế này: “...13
thanh niên ngã xuống hy sinh vì hòa bình...”, “...hơn 2 triệu người qua đời trong kháng chiến
chống Mỹ...” Tôi đã mang trong mình thắc mắc rằng tại sao cùng là con người với nhau,
nhưng khi đọc các báo cáo, bài viết, cái chết của hàng vạn người lại được ghi nhẹ như lông
hồng vậy? Có những đứa con sau chiến tranh nào từng nghĩ rằng sau những con số khốc liệt
ấy, họ là những con người chưa? Nếu hơn 2 triệu cuộc đời, từng sống, từng cười, từng khóc,
từng yêu, từng có gia đình, từng hy vọng vào cuộc sống chỉ kết lại trên con số “2 triệu”, liệu
con người ta có đang quá nhẫn tâm với chính lịch sử dân tộc hay không?
Tôi muốn viết nên câu chuyện trên bởi những thôi thúc ấy, tôi muốn đem một cuộc đời nhỏ ra
trước hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ để mọi người thấy rằng, trong 2 triệu con người đã
ngã xuống đó, họ đều từng đẹp như vậy.
——————————————————
Ngày 27 tháng 11 năm 1968, xóm 11, xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
“ Má ơi”
“ Ai ngoài đó rứa?”
“ Con đây, thằng Hoà của mạ đây. Con mang con dâu về cho má nề.”
Tiếng bát đũa leng keng buông xuống, tiếng bước chân ồn ã dội ra, trong ngôi nhà bình
thường như bao ngôi nhà chạy giặc khác, bà Hợp cùng anh Lợi và chị Hợp tất tả mở cửa đón
thằng Ba về nhà.
“ Hoà, lâu ni đi thanh niên ra răng. Chộ ôi, nó đen nhẻm như cây cột nhà cháy, đen thui”
“ Anh ba, anh đi vui quá hì, lừa được con gái người ta về luôn mà, được, được.”
“ Hai bây nín hết cho mạ. Chưa chào hỏi được chi đã vồ vập. Chào con gái, vô nhà đi rồi nói
chuyện.”
Trước ngưỡng cửa là hai hình bóng một đôi anh và chị thanh niên xung phong. Nước da đen
bóng, thân hình gầy gò và nụ cười sáng loáng trên môi. Bộ đồ thanh niên cũ sờn, vương mùi
bùn đất và bó hoa trên tay nở rộ. Hai anh chị tay trong tay nhau, cùng bước vào ngôi nhà
tranh đã cũ đương dở bữa cơm.
Chị gái là Trần Thị Tâm, cô thanh niên xung phong tròn 17 tuổi, thuộc đại đội 317 trên cao
điểm Truông Bồn. Anh trai là Cao Văn Hoà, anh thanh niên xung phong 20 tuổi cùng đại đội
317 của chị Tâm. Được biết hai anh chị đã là một đôi nức tiếng cả tiểu đội, cùng làm nhiệm
vụ, cùng ăn chung một bát cơm, cùng chung câu hát, và hôm nay, anh Hoà đưa chị Tâm về ra
mắt gia đình.
“ Mạ, anh hai, con Út, đây là Tâm, người con đã nói với gia đình là con đang yêu. Tâm, đây
là mạ Hợp, anh Lợi, con Hợp, em anh. Ờm... con đưa Tâm về... ra mắt gia đình
mình...Mồng một tháng sau, là ngày lành tháng tốt...gia đình mình qua nhà em Tâm rước
dâu ạ, ngày nớ con với em hết hạn thanh niên xung phong rồi, gia đình tác thành cho chúng
con.” Anh Hoà lắp bắp mở lời cho sự ra mắt như vậy. Trong tiếng gà mổ cục tác, tiếng bát
đũa rời rạc, tiếng cười ồn ả giữa những cơn gió lạnh dần lúc sang đông, trời man mát, rặng tre
xanh ngát, bữa cơm ấm nồng của gia đình, của câu chuyện tình hai anh chị thanh niên, của
gia đình anh Hoà, của chuyện chiến đấu nối dài.
“ Chuyện đại đội 317 răng rồi em gái?” Anh Lợi mở lời.
“ Cũng thường thôi anh ạ, em cũng đi lấp đường xe qua, tối thì dẫn đường, thấy bom thì né,
thấy hố bom thì lấp. Có chừng đó thôi anh ạ. Cực thì có cực, người ngợm em lúc nào cũng
như quỷ ấy. Nhưng may em gặp được anh Hoà, cũng đỡ đần nhiều cái.”
“Ôi dào, anh hiểu mà, nhìn thằng Hoà đi về gầy sọp đi, con quý con báu của mẹ Hợp trắng
trẻo phốp pháp cỡ nào mà giờ còn chừng ni. Hắn cũng cực mà hắn cũng vui em ạ. Ráng lên
em rồi sau bớt khổ.”
“Dạ anh.”
——————————————————
Ngày 30 tháng 10 năm 1968, trên cao điểm Truông Bồn.
Ở cái chốn lửa xen người, xém từng cái cây ngọn cỏ đến cả gió lập đông còn chẳng ăn thua gì
cái sức nóng ấy. Ấy vậy dưới cơn mưa lửa nực người, những chiếc bóng đen cày xới trên
mảnh đất khô cằn, chẳng phân ngày đêm mà mày mò. Cái đất dài ấy vốn chẳng nên cho
người sống nữa. Đêm thì tiêm kích thét gào, máy bay trinh sát gầm rú suốt. Ngày thì bom rơi,
bom cày, bom cào lên sức sống vốn chẳng còn mấy cỏ cây, cào lên từng nóc hầm, cào lên
giấc ngủ của người lấp bom đạn, đất bay tứ tung mặc cho câu chửi của người lính mệt nhoài,
chịu đựng cả đêm.
Tâm và Hoà nằm chung một khu, gọi là khu cho sang mồm chứ cái lán tạm bợ xây từ vài
tháng trước ấy đã bị đánh sập vài chục lần trong mấy ngày gần đây. Dường như gần cuối năm
bọn Mỹ càng lên hứng ném cho hả cơn giận mấy năm sa lầy ở Việt Nam liên hồi, nhiên liệu
bom đạn chắc chúng không thiếu trên đất Việt nên chúng khá “hài lòng trong việc ném bom”
cày xới đất ta.
Thương thay đến cỏ cây ngọn gió còn khó mà trụ được trong cái nóng kinh kiếp ấy nhưng
phàm là những cô cậu thanh niên xung phong, Tâm và Hòa như mọi cô cậu khác đều ngày
ngày bén rễ ở chốn này mà hy sinh. Những anh chị thanh niên ấy dù sống trong tình cảnh
thống khổ, nóng ran ấy vẫn đối xử với nhau bằng nụ cười, vẫn đối xử với nhau bằng tiếng
cười, bằng tình yêu, trong câu chuyện của chị Tâm và anh Hòa ấy, cả tiểu đội 2 ấy sáng nên
một tình người nồng đậm.
Đêm 30 tháng 10 năm 1968, tiểu đội 2, đại đội 317 quây quần bên góc lán trại, vai kề vai với
nhau những phút cuối.
Tám trong mười ba cô cậu thanh niên xung phong chuẩn bị chia tay trong đêm hôm nay là
những cô cậu có quyết định hết hạn thanh niên xung phong được ra học Trung cấp Y và trở
về quê hương. Bữa cơm đơn sơ, giản dị không có gì nhiều nhặng cả, nhưng tiếng nói tiếng
cười mới là thứ gia vị thơm nhất trong bữa cơm trắng dưa cà hôm ấy. Bừng lên trong ánh nến
leo lắt là những gương mặt đa sầu đa cảm của những cô cậu thanh niên ấy.
“Anh Hòa chuẩn bị có người nâng khăn sửa túi rồi hỉ, ngó cái mặt cậu vui chưa tề. Bọn bây
cứ ăn cho nhiều vào, ăn cho đẫy vào. Mai bây xa chị rồi. Gắng lên trên đó học mà nhớ về chị,
nghe chưa. ” Chị Thông, người tiểu đội trưởng hào hứng nói lên, trong các anh chị được
chuyển ngành và đi học, chị là người duy nhất ở lại chốn này tiếp tục phần công việc các
đồng đội còn đang dang dở.
“Chị ghẹo hai đứa ni miết, cho em ghẹo chung với. Hì hì. Con Tâm nớ, mi có lên tuốt trên nớ
mà không thèm quay lại Nghệ An ni ta cũng bốc trời lên mà tìm mi cho trót. Sắp xa cái khổ
rồi, tao vừa vui vừa buồn ghê ri mi....”Chị Doãn, một người chị có tiếng ăn nói bộc trực cả
đội, chưa giấu ai điều gì vừa quơ đũa, vừa liếc mắt hết người này sang người kia, nói: “Con
Đang, con Phúc, chị Bốn, chị Vinh, chị Dung, chị Hiên. Em là em yêu mấy người lắm đó.
Gặp nhau rồi,..khó xa,...một ngày gọi hai tiếng chị em, cả đời nhớ làm chị em với em nghen,
gặp nhau được nhiều hơn là em xách mấy người lên Trung cấp Y học với em luôn. Hu hu...”
Người ăn nói bộc trực duy nhất của cả đội cũng bắt đầu khóc, chị khóc như khóc thay cái
không khí trầm lắng, kìm nén nước mắt nãy giờ của cả tiểu đổi. Ai cũng ngổn ngang trăm
mối trong lòng, tuyệt không chịu ai trào nước mắt, chỉ đợi chị Doãn lên tiếng là cả tiểu đội
cùng khóc theo.
Cách bày tỏ mỗi người mỗi khác trong khắc chia tay ấy. Anh Hòa chị Tâm dựa lưng vào
tường, nhìn cảnh các em chơi đùa nghịch ngợm như nhìn lũ trẻ tương lai của hai anh chị mà
cười thầm với nhau, tay đan tay, mơ về một ngôi nhà. Chị Thông lại tay khăn rằn, tay kia cần
đôi đũa dí đứa nhỏ nhất đi dọn chén bát do chả ai còn tâm trạng ăn uống nữa. Chị Doãn đi
choàng vai bá cổ hết đám con gái mà cười lẫn khóc, nước mắt nước mũi tèm nhem để lại trên
đôi vai áo của mỗi người con gái chị đi qua. Chị Phúc, chị Vinh cứ mặc cho con Doãn phá
phách mà ngồi im chén hết tí nước trà cuối cùng còn lại, cái lá trà mà rửa cả trăm lần không
vơi đi mùi khét và thứ đất nâu vàng dính chặt vào từng gân lá, vĩnh viễn không gặp được cái
vị lá trà độc bản ấy sau này. Chị Hiên, chị Dung, chị Bốn cần trong tay quyết định đi học mà
đi đọc lại như thể tấm giấy ấy sẽ còn trang thứ ba, thứ tư báo hiệu một tương lai mà cả ba chị
chưa đoán được. Tấm giấy thông báo nhàu nát ấy trong tay mỗi người thanh niên xung phong
là kết quả của những trận khóc lớn, nhảy vào nhau mà ôm chặt, những đêm mất ngủ lại lôi ra
đọc đi đọc lại mà ôm, mà mơ. Mỗi người một tâm trạng như đều quy lại trên một điểm mốc
rằng họ đang thương nhau và đối xử với nhau bằng tình yêu thương sâu sắc.
Bỗng, tiếng hét trấn an của chị Thông hét động của căn lán: “Mấy đứa bây im hết cho chị
chưa?À dạ, em đang nghe đây ạ. Dạ... Đã nhận lệnh, thưa tổng đội trưởng.” Sau khi nhận
được lệnh hỏa tốc ngay trong đêm rằng 0 giờ ngày 1 tháng 11 năm 1968, lính Mỹ sẽ dừng
ném bom và 7 giờ sáng ngày 31 tháng 10 sẽ có đoàn xe đi qua đây và ngay trong sáng mai
phải hoàn thành việc lấp hố bom trên tuyến đường này, chị Thông liền thông báo cho toàn
tiểu đội.
“Mấy đứa nghe đây, chị biết chỉ ngay ngày mai là chị em ta phải xa nhau nhưng còn nhiệm
vụ bất ngờ được đưa tới, là 7 giờ sáng ngày mai trước giờ mấy đứa xuất phát là có đoàn xe
vận tải phải đi qua đây, bằng mọi giá phải mở được con đường máu và yêu cầu mấy đứa đi
lấp hố bom. Chị không muốn ép mấy đứa nhưng ai muốn ở lại với chị đến sáng mai?” Mang
tâm thế chắc mấy đứa ni không muốn làm nữa đâu, mai bọn nó hạnh phúc rồi, còn ai ở với
mình nữa. Chị phải bất ngờ vì chính bọn nhỏ của chị, lại tất cả đồng lòng ở lại cùng chị đến
hết nhiệm vụ cuối cùng này.
“Chị nói sao rứa hè, chị không ép, em tự nguyện làm cho xong nhiệm vụ ni với chị luôn.”
“Chị Thông, chị cứ lo, em làm cho chị ơi, em chuyên làm ba cái đồ ni. Coi như có kỉ niệm
cuối cùng chị em mình.”
“Em, em, em, em chị,..”
“Em...”
“Được rồi mấy nhỏ, nhưng mấy đứa bây chắc chưa? Chị...Mai mấy đứa được tự do rồi, gần
như lần ni là bọn bây ra chỗ nguy hiểm lần nữa đó, bây chắc chưa? Có lựa chọn an toàn hơn
là đi ra ngoài Bắc rồi, mắc cái chi bây lại làm thêm cái nữa? Mỗi lần lấp hố bom là mỗi lần
xém chết, bây chắc biết mà. Sao bây vẫn lại...chọn?” Lời chị Thông vang lên đầy thắc mắc,
nổi cộm trong lòng một người đồng đội mà còn là một người chị lo cho đàn em. Kết quả đã
khiến chút niềm tin le lói cuối sáng lên trong chị, cả mười ba anh chị thanh niên xung phong
đều chọn ở lại với chị trong nhiệm vụ cuối này. Trong chút ánh nến leo lắt ấy, chị Thông đã
hiểu và ôm chầm lấy đồng đội, chỗ dựa vững chãi nhất của cả đội giờ đây đang dựa vào
người các đồng đội sắp cũ để khóc.
Sau trận khóc sụt sùi ấy của cả tiểu đội cũng là giờ họ phải đi ngủ. Mỗi đồng chí không thiu
thiu giấc thì cũng thức trắng mà ngẫm nghĩ. Riêng chị Doãn, người con gái cạn hết nước mắt
nãy giờ và bừng tỉnh nửa đêm chỉ để hỏi một câu vô nghĩa như mọi lần.
“ Sao giờ ni tao không thấy bom bọn Mỹ bắn phá hè, mấy hôm trước là bọn hắn bắn muốn
sụp cái hầm ni chứ sao giờ ta không nghe bây ơi. Hay mai hắn mới bắn?”
“Mi ngủ chưa Doãn, cái mồm mi ăn mắm ăn muối xong nói ba cái lời xui rủi lắm nghe. Đi
ngủ liền cho chị.” Giọng chị Bốn vừa ngái ngủ vừa muốn quát con em của mình cho nó bớt
nói gở lại.
“Nhưng em có nói sai đâu, chị nghĩ xấu em. Hổng chịu đâu.”
“Giận với chả dỗi, cả đội dậy hết rồi tề. Mai dậy sớm tối ni không chịu ngủ.”
Cả tiểu đội quả thật đều dậy, nhao nhao tiếng lầm bầm, to nhỏ phản ý cái ý tưởng xui xẻo của
con Doãn mới đề ra.
“Ngủ liền cho chị. Con Doãn nói chi kệ thây hắn, đi ngủ đi. Còn con kia, trước khi nói uốn
lưỡi bảy lần.”
——————————————————
5 giờ sáng ngày 31 tháng 10 năm 1968, tại tuyến đường 30, thuộc tọa độ chết Truông Bồn.
Đã hơn một tiếng tiểu đội 2 làm việc lấp bom trên tuyến đường 30 ấy. Con đường dài 5km
mà cả tiểu đội ngỡ như dài lê thê cả trăm cây số. Hàng vạn hố bom dồn ứ từ sáng sớm tới giờ
đã hơn chục hố, cứ lấp rồi lại bị cày xới lên, đào quả này lên thì quả kia rơi xuống. Tiếng máy
bom ném bom cứ bay ầm trời, lại nghe tiếng bom rơi nổ lạc đâu đó trên suốt tọa độ chết này.
Mặc. Các anh chị bám trụ được đến bây giờ đã qua bao mùa mưa bom bão đạn, cả hè nóng
như lửa cháy và mùa mưa nước ngập đến hông. Tiếng cuốc xẻng, xúc đất vẫn rầm rì vang đều
đều.
——————————————————
6 giờ sáng ngày 31 tháng 10 năm 1968, tại đường 30, thuộc tọa độ chết Truông Bồn.
Tiếng máy bay càng ngày càng gần lại, tiếng bom ngày càng rát, dồn dập như trống vỗ vào
thẳng vào tai.
Đã có vài cụm đất rơi thẳng vào chỗ cả tiểu đội đang làm việc, một số đã trúng người, số còn
lại rơi vào hầm, bay tứ tung. Họ vẫn lầm lì làm việc, tiếng cuốc vẫn vang lên dồn dập. Từng
gương mặt đã quá quen với cảnh bom đạn đến nỗi chẳng buồn ngước mặt lên nhìn trời. Gió
đang thổi mạnh hơn, gió quật vào ngọn cây, gió rít qua dãy núi. Liệu đó là gió của trời hay
gió của máy bay? Họ không biết và không muốn biết, nếu càng không biết sẽ càng bớt sợ hãi
hơn.
——————————————————
6 giờ 10 phút sáng ngày 31 tháng 10 năm 1968
Hàng trăm quả bom đạn cùng lúc trút xuống tuyến đường 30, cùng một lúc, trong một khoảnh
khắc duy nhất. Mười hai con người đều cùng trở tay không kịp, đều cùng nằm lại ngay trong
khoảnh khắc ấy.
Chị Thông vốn trong lều chỉ huy nghe tiếng rầm in trời ấy liền liều mạng vọt chạy. Chị chạy
bằng hết sức bình sinh, đôi chân còn chẳng mong chạm đất, nhưng trước mắt chị, ngoài một
hố bom sâu hoắm và tiếng gió rít, khung cảnh chẳng còn gì. Sau cái tang thương ấy là tiếng
gào khóc của chị Thông và âm thanh Ban chỉ huy đơn vị cùng Ban chỉ huy Tổng đội TNXP
chạy đến hiện trường. Mọi người gắng sức đào bới, gắng sức gọi từng tiếng khản đặc “Anh
ơi”, “Chị ơi”, “Có ai còn sống không?”, “Em ơi”. Mặc mọi người thét gào, tiếng rừng xanh
sâu thẳm trả lời bằng sự im lặng.
Chị Thông, người duy nhất may mắn còn sống sót đứng trân trân tại đó. Tại sao chị lại lên lều
chỉ huy ngay lúc đó? Sao chị lại được sống? Sao mọi người phải đi? Tại sao? Tại sao không
để chị chết chung? Tại sao chị là người duy nhất sống sót? Hố bom không biết trả lời.
Nhưng nếu họ không chết, họ sẽ có cuộc sống rất huy hoàng phải không? Nếu chiến tranh
không nhẫn tâm, họ đã được hạnh phúc, được vui cười, được là những người đồng chí với
nhau, tiếp tục làm những ước mơ còn dang dở.
Nhưng họ đã không còn sống. Sau này, trong những bài báo cáo hậu chiến, người ta viết:
“Ngày 31 tháng 10 năm 1968, tại Truông Bồn, 13 thanh niên xung phong đã hy sinh khi làm
nhiệm vụ.” Cũng như bao bài báo khác người ta viết: “Hơn 2 triệu người đã ngã xuống trong
kháng chiến chống Mỹ cứu nước.” Dù con số ấy đúng, nhưng trong mỗi con số đó đều từng
có linh hồn, đều từng sống, từng cười, từng yêu, từng mơ về một tương lai tươi sáng như 13
anh chị thanh niên ấy. Có lẽ, điều đau đớn nhất của chiến tranh là không phải cái chết mà khi
những cuộc đời hy sinh ấy chỉ được nhớ lại bằng những con số.


