Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TRƯỞNG THÀNH

Những năm đầu, Trung đoàn tổ chức bay với số lượng còn ít, chủ yếu làm quen địa hình Hoàng Liên Sơn và duy trì nhịp bay. Dần dần, kế hoạch huấn luyện được triển khai bài bản, số ban bay và giờ bay tăng mạnh, nội dung từ bay kỹ thuật, không chiến, công kích mặt đất đến bay biển, bay đêm. Trình độ phi công ngày càng vững vàng, nhiều người trưởng thành thành giáo viên, chỉ huy bay. Trong điều kiện thời tiết Yên Bái khắc nghiệt, máy bay cũ, bảo đảm kỹ thuật vất vả, mỗi giờ bay đều là kết quả của sự

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những ban bay huấn luyện đầu tiên của Trung đoàn, số lượng chuyến bay không nhiều chỉ với mục đích làm quen với các không vực bay, với địa hình vùng Hoàng Liên Sơn và chống giãn cách bay mà thôi.

Các ban bay sau số lượng chuyến bay tăng dần lên và bắt đầu với các khoa mục bay theo đúng kế hoạch bay và tiến độ trong kế hoạch bay của Trung đoàn đã được Sư đoàn phê duyệt.

Sự chuyển biến bộc lộ một cách rõ rệt không chỉ nhìn vào cái chung mà cụ thể ngay từ cá nhân từng cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn. Tôi còn nhớ, có một lần khi đi họp về, lúc qua cổng của Trung đoàn, anh Đoàn Văn Sàn hơi “giật mình” khi nhác thấy cậu cảnh vệ có bộ ria nghe chừng không bình thường, về đến phòng, anh nói nhỏ với tôi vẻ nghi ngờ:

- Này, cậu này! Tớ cảm thấy hình như cái “thằng" cảnh vệ lúc nó kéo ba-ri-e lên cho xe mình vào, nó xăm ria thì phải?

- Không phải là hình như mà là chắc chắn 100 phần trăm! - Tôi trả lời.

- Chẳng nhẽ lại như thế nhỉ? - Anh lẩm bẩm rồi sau một chút suy nghĩ lại nói tiếp: “Biết thế đếch nào được!”.

Anh bỏ đi đâu không biết. Phải mất gần nửa tiếng đồng hồ sau đó anh mới trở về, sang phòng tôi và nói:

- Đúng thế, cậu ạ!

- Cái gì đúng cơ? - Tôi hơi ngơ ngác hỏi lại anh.

- Thì cái “thằng" xăm ria ấy. Đúng là xăm thật! Trần đời tớ chưa thấy thế bao giờ!

- Thế thì anh chưa biết còn có “thằng” xăm cả hình cô con gái cởi truồng ở đùi rồi! Mà có khi anh biết thừa, anh chẳng thèm nói với tôi cũng nên!

- Lại thế nữa! Đúng là tớ không biết thật! Mà sao cậu biết nhiều thế nhỉ?

- Ơ, phải hiểu rõ lính của mình chứ! Mà công tác tư tưởng là của anh đấy nhé!

Câu chuyện anh em chúng tôi trao đổi với nhau tưỏng chừng sơ sài thế thôi, nhưng sau đó là cả một kế hoạch tính toán nghiêm túc để làm sao có thể xoay chuyển được nhận thức của tất cả mọi người trong Trung đoàn. Các đợt sinh hoạt, những lần tiếp xúc, gặp gỡ riêng, nghe ngóng, giải quyết mọi khúc mắc... được tiến hành thường xuyên và sự chuyển biến ngày càng rõ rệt. Đặc biệt, cậu có hình xăm ỏ đùi đã làm một chuyện mà tôi nghe cũng thấy “choáng”: ấy là cậu đã lấy một miếng gang, cho vào bếp nung nóng lên rồi áp vào chỗ hình xám để tẩy sạch hình xăm đi, chấp nhận vết bỏng thay thế vào chỗ hình xăm. Đấy chính là một tấm gương sáng và kể từ đó, tình hình vi phạm kỷ luật trong Trung đoàn giảm đi đáng kể.

Khi lòng người đã thuận thi mọi việc tiến triển rất “thuận buồm, xuôi gió”. Trung đoàn tôi đóng quân ở vùng rừng núi nên Sư đoàn không giao cho kế hoạch bay biển mà chủ yếu là nhiệm vụ bay đánh chặn các mục tiêu trên không, đánh các mục tiêu mặt đất và nhiệm vụ bay trinh sát. Tôi cùng một số người biên soạn và dịch những tài liệu mình từng học ở Học viện để lên lớp cho anh em. Những phần lí thuyết xen kẽ vói những khoa mục bay thực hành đã làm cho lực lượng phi công của Trung đoàn bay ngày càng vững tay hơn. Ngay từ năm 1974 tôi đã là giáo viên bay rồi và đặc biệt là vào năm 1970, trước khi sang bên sân bay Tường Vân bay thử các máy bay mình để ở bên đó để chuyển về nước thì tôi cũng đã được học bồi dưỡng qua một lớp ngắn ngày về bay thử. Qua đợt học về bay thử ấy, tôi được thày dạy cho những thuật bay nắm hết tính năng của máy bay MiG-21 và thấy mình bay vững tay hơn rất nhiều. Chính vì vậy khi về Trung đoàn, tôi đặc biệt quan tâm đến những bài bay động tác phức tạp độ cao trung và nhất là ở độ cao thấp. Tôi bay kèm với nhiều phi công của Trung đoàn, truyền đạt lại cho họ những kinh nghiệm bay của bản thân mình và có những tôi mất điện phải đốt đuốc lên để giảng bình bay cho kịp thời. Tất cả các phi công của Trung đoàn đều ý thức được rằng mục tiêu của họ là những trận không chiến trên không, và những trận công kích mặt đất. Mục tiêu tác chiến của họ là ở trên trời và trên cạn. Họ đã hiểu chỉ có nắm vững được thuật bay cùng các động tác nhào lộn thật nhuần nhuyễn thì mới có thể gọi là tạm yên tâm khi vào không chiến. Kinh nghiệm của cuộc chiến tranh qua và những bài học đắt giá của những thế hệ phi công đi trước đã chỉ ra rằng: anh phải thực sự thuần phục được máy bay anh đang lái, anh phải thực sự gắn bó với nó, không phải là máy bay đang bay mà là chính bản thân anh đang bay, đang nhào lộn trong thinh không, anh làm bất kể những gì anh muốn và phải chuẩn mực đến tuyệt đối, phải “vẽ” được những vòng thật chính xác theo phương nằm ngang và theo các mặt phẳng đứng, mặt phẳng nghiêng. Càng nắm vững tính năng của máy bay chắc bao nhiêu, kỹ bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Nó sẽ giúp anh hoàn thành được nhiệm vụ dù là đánh mục tiêu trên không hay là ở dưới mặt đất. Nó sẽ giúp anh thoát hiểm trong rất nhiều trường hợp ở trên trời. Viết đến đây tôi lại nhớ đến phi công Mai Văn Minh của Trung đoàn - người từng bị ba lần mất nắp buồng lái trong khi bay, nhưng vẫn đưa máy bay về hạ cánh được mà không phải nhảy dù. Chuyện mất nắp buồng lái thì không phải chuyến bay nào cũng xảy ra, nhưng trong thời gian các đơn vị bay của Quân chủng tổ chức bay cũng có đến dăm lần mất nắp buồng lái. Có lẽ do hoàn cảnh khí hậu nước mình độ ẩm quá lớn rồi nắng nóng bất thường, hầm để máy bay thường xuyên lại không đủ đáp ứng nên keo dán nắp buồng lái nhanh bị lão hóa. Khi cất cánh lên trời, áp suất thay đổi thế là nắp buồng lái tự bung ra và... “không cánh mà bay” thôi. Trong trường hợp ấy, phi công phải thực sự bình tĩnh, xử lí tỉnh táo, đúng bài bản thì có thể còn cứu được máy bay, đưa máy bay về hạ cánh và cứu được cả bản thân mình nữa. Bằng không thì chỉ có cách là nhảy dù, vứt máy bay mà rồi ngay bản thân mình cũng không biết có được an toàn hay không nữa kia. Trong cuốn “Sổ tay người lái”, tức là cuốn hướng dẫn các phi công sử dụng máy bay MiG-21 đã có đến mấy chục trường hợp bất trắc có thể xảy ra trong khi bay. Từ đầu đến đuôi máy bay đều có thể xảy ra vấn đề gì đó bất thường hết. Tổng Công Trình Sư thiết kế máy bay đã tính đến các trường hợp ấy rồi. Chính vì vậy mà trong “Sổ tay ngưòi lái” có đưa ra hàng chục trường hợp xử lí bất trắc mà bất kỳ phi công nào cũng phải thuộc lòng. Này nhé, đầu máy bay là cái “chóp nón” có thể không “thò ra thụt vào” phù hợp với tốc độ bay, rồi thân máy bay là các hệ thống điện, hệ thống dầu thủy lực, động cơ..., có thể hoạt động không bình thường, rồi hệ thống càng của máy bay có thể thả không ra, hệ thống cánh tà cũng vậy... Phần đuôi máy bay thì miệng phun của máy bay có thể cứ há ra mà không khép vào được, rồi kể cả dù giảm tốc khi hạ cánh cũng có thể không mở, rồi phanh có thể không ăn... Nghĩa là nhiều, nhiều thứ có thể xảy ra trong chuyến bay lắm. Chỉ cần sa sẩy một chút thôi là hỏng bét hết. Mọi xử lí đòi hỏi phải thật chuẩn, không được sai một li, đúng như người xưa nói: “Sai một li, đi một dặm!” thật. Ví như còn có độ cao thì còn “đi một dặm” được, nếu dưới thấp, ở cái nơi “gần đất, xa trời” ấy thì đi đâu? Chắc chắn là xuống đất luôn, và “thịt với xương tim óc dính liền” là cái chắc!

Khi về nhà, anh Đoàn Văn Sàn sang phòng tôi.

- Cậu lại giở cái trò "lưu manh trên không" ra rồi! Nhỡ hôm nay mà xảy ra vấn đề gì thì làm thế nào?

- Để xảy ra thì tôi còn làm làm gì!

- Biết thế đếch nào được! Đời bay có thằng nào dám nói mạnh mồm đâu!

- Tôi không dám mạnh mồm, nhưng mà thôi, tôi đã tự phê bình trước khi giao nhiệm vụ bay rồi còn gì!

- Cũng được! Tớ chỉ mong sao đừng có thằng phi công nào học theo cái trò ấy thôi!

- Chắc không đâu! Anh yên tâm đi!

- Biết thế đếch nào được!

Anh Sàn lo là phải, nhưng mà tôi thì tôi tin ỏ các phi công của tôi. Và đúng là không ai học đòi theo cái kiểu "lưu manh trên không" kia thật!

Số lượng các chuyến bay tăng dần theo các ban bay huấn luyện. Các bài bay nhào lộn kỹ thuật phức tạp, các bài bay không chiến 1 chiếc rồi không chiến biên đội cũng lần lượt được thực hiện. Trình độ kỹ thuật bay cao lên bao nhiêu thì phi công tự tin bấy nhiêu. Qua các đợt diễn tập không thực binh và có thực binh, Trung đoàn đều hoàn thành vói chất lượng từ khá trở lên, đặc biệt sau những đợt di bắn đạn thật, ném bom thật về, các phi công hồ hởi lắm. Tất cả hân hoan ra mặt, phần vì thấy kết quả khả quan của mình, phần vì thấy trình độ của mình được nâng hẳn lên. Tôi vui theo anh em nhiều, nhưng không bộc lộ ra mặt, chỉ trao đổi với các anh chỉ huy trong Trung đoàn thôi.

Sau hai năm kể từ ngày thành lập Trung đoàn, vào năm 1981, Chủ tịch nước - Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã tặng Trung đoàn lẵng hoa trong dịp lễ mừng công của Quân chủng. Thật khó mà tả nổi nỗi mừng vui của Trung đoàn khi nhận được quà tặng của Chủ tịch nước. Tôi cho rằng, đấy là sự đánh giá rất đúng mức của các cấp lãnh đạo với một Trung đoàn ở xa xôi nhất, chịu nhiều thiệt thòi nhất, khó khăn nhất... nhưng đã biết khắc phục vươn lên, không ỷ lại, kêu ca. Đấy cũng là sự phấn đấu hết mình của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Trung đoàn qua các thế hệ. Chúng tôi biết ơn các cấp lãnh đạo trong Quân chủng và các cấp chính quyền địa phương đã thường xuyên quan tâm động viên chúng tôi để chúng tôi vượt khó.

Khi bước lên vị trí danh dự để nhận lẵng hoa, tôi xúc động vô cùng, tôi nghĩ rằng tôi phải chịu ơn sâu nặng đối với tất cả các cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Trung đoàn. Nhờ có sự cố gắng của họ, thành tích của họ mà hôm nay tôi đã được thay mặt tất cả lên nhận lẵng hoa vinh dự này. Tất cả họ đều phải được vinh danh. Họ đã từng chung lưng đấu cật với tôi cùng gánh vác bao nhiệm vụ nặng nề trong những tháng ngày cực kỳ gian nan, éo le. Chính họ đã động viên tôi, giúp sức cho tôi đứng vững trong những ngày gian khổ ấy. Tất cả đã cùng nhau sống gắn bó như trong một gia đình dù ở cảnh ngộ nào cũng vậy... Kể ra, nếu cấp trên tổ chức về tận Trung đoàn để trao tặng lẵng hoa trước toàn thể các cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Trung đoàn thì niềm vui của Trung đoàn còn tăng thêm gấp bội phần...

Các phi công trẻ lần lượt được bổ sung về trung đoàn. Sức mạnh chiến đấu ngày càng được tăng cường, lực lượng ngày càng hùng mạnh. Từ một phi đội khi Trung đoàn mới thành lập, đến năm 1983, Trung đoàn đã có hai phi đội.

Tuy Trung đoàn đã được bay chuyển loại sang loại máy bay MiG-21 bis nhưng rồi bay mãi nó cũng cũ đi, rồi các Trung đoàn khác bay chuyển loại sang các loại máy bay mới hơn thì lại dồn các máy bay đã sử dụng về cho Trung đoàn tôi. Số lượng đầu máy bay thì nhiều, nhưng số lượng máy bay hỏng hóc thì cũng kha khá, Vậy là đội ngũ thợ máy phải lao động cật lực để tăng số đầu máy bay tốt cho Trung đoàn. Các phi công phải thuần thục trong việc xử lí các hỏng hóc ở trên không trong khi bay, các thành phần khác khi điều hành bay không được phép lơ là, xao nhãng dù chỉ là trong giây lát.

Các đợt thi đua liên tục được phát động nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng, quân nhân chuyên nghiệp phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nỗ lực khắc phục khó khăn bảo đảm duy trì nghiêm trạng thái sẵn sàng chiến đấu, phát huy bản chất tốt đẹp của bộ đội cụ Hồ, đẩy mạnh huấn luyện đảm bảo an toàn bay, huấn luyện cán bộ, huấn luyện mặt đất, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đồng bộ các mặt kỹ thuật hàng không, kỹ thuật hậu cần cho mọi hoạt động của Trung đoàn. Rồi đẩy mạnh công tác rèn luyện Đảng viên, phát triển Đảng, tăng cường quản lí kỷ luật, chấp hành nghiêm mọi nền nếp, chế độ xây dựng chính quy, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cải thiện đời sông bộ đội, đẩy mạnh vai trò xung kích của tuổi trẻ...

Tất cả những đợt thi đua được phát động đều đạt kết quả tốt vì mọi người đều hăng hái tham gia, tham gia hết mình.

Càng về sau này thì càng có nhiều cuộc diễn tập hơn, quy mô ngày càng lớn hơn và Trung đoàn tham gia cũng với nhiều thành phần hơn, lực lượng tham gia ngày càng hùng hậu hơn. Những cuộc diễn tập có thực binh đều là những cuộc căng thẳng. Dù Trung đoàn nhận nhiệm vụ làm “quân xanh” hay “quân đỏ” cũng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bao giờ tôi cũng tin vào khả năng của các phi công của Trung đoàn và các thành phần đảm bảo của Trung đoàn. Tôi không hề chủ quan vì lòng tin của tôi đều có cơ sở.

Bốn tháng sau khi thành lập Trung đoàn (tức là 4 tháng cuối năm 1979) Trung đoàn đã tổ chức bay huấn luyện được 35 ban bay với 616 lần/chuyến, đạt gần 320 giờ bay. Đấy là cơ sở vững chắc cho những bước đi tiếp theo. Các năm sau đó, số lượng ban bay và chuyến bay tăng dần. Có lẽ năm 1986 là năm “(tình điểm” nhất vói 162 ban bay, tính ra là hơn 4000 lần/chuyến, đạt khoảng 2400 giò bay.

Rồi Trung đoàn không chỉ nhận nhiệm vụ đánh các mục tiêu trên không, trên mặt đất mà sau này còn cả trên biển. Một bộ phận đã cơ động xuống sân bay Kiến An để huấn luyện bay biển.

Tiếp đến là không chỉ có những ban bay ban ngày mà Trung đoàn đã có những ban bay ban đêm, huấn luyện cho lực lượng đánh đêm. Những bước tiến cứ vững chắc dần tạo đà tạo thế cho Trung đoàn bước tiếp trên chặng đường lịch sử của mình.

Sau 30 năm kể từ ngày thành lập, Trung đoàn đã đào tạo được 104 biên đội trưởng, 98 giáo viên các khoa mục và 46 chỉ huy bay các cấp.

Những con số nhỏ nhoi, khô khốc kia nghe chừng chẳng ấn tượng gì cả, nhưng nếu là người trong cuộc, nhất là lại ở Yên Bái nữa thì mới thấy hết cái sự “hoành tráng” của nó.

Một ban bay, cho dù là chỉ có một chuyến bay thôi thì cũng vẫn phải triển khai đủ các thành phần như với ban bay có nhiều chuyến: từ chỉ huy bay đến các thành phần bảo đảm như kỹ thuật, hậu cần, thông tin... Chỉ huy bay vẫn phải chuẩn bị phương án chỉ huy, giao nhiệm vụ cho thành phần bay cùng các thành phần khác, phải tổ chức kiểm tra. Thành phần tham gia bay phải chuẩn bị mặt đất, nhất là các phi công phải qua tập luyện, hiệp đồng rồi tổ chức kiểm tra (từ việc kiểm tra cách thức thực hiện các bài bay đến kiểm tra sức khỏe trước khi bay...).

Các thành phần: dẫn đường, tiêu đồ, thông tin, tác chiến, huấn luyện... từ vị trí trong sở chỉ huy đến các đài trạm đều phải triển khai. Thợ máy phải chuẩn bị máy bay, sửa chữa mọi hỏng hóc để không được đem hỏng hóc lên trời, kéo máy bay ra chuẩn bị trước khi bay rồi bay xong lại phải kéo máy bay về. Các thành phần kỹ thuật, bảo đảm cho bay là những người đầu tiên có mặt ngoài sân bay và cũng là những người sau cùng ròi khỏi sân bay. Rồi các thành phần bảo đảm hậu cần phải lo toan từ xe cộ đến việc ăn uống, canh gác ngoài sân bay... Rồi lực lượng thông tin. Với lực lượng này, tôi vẫn nói đấy là “cái tai, cái mồm của người chỉ huy”! khi không nghe được, không nói được thì còn chỉ huy cái nỗi gì, chỉ huy được ai nữa?

Rồi các Sở chỉ huy từ sở chỉ huy các sân bay dự bị đến Sở chỉ huy Sư đoàn đều phải trực sẵn sàng, đều phải theo dõi chặt chẽ từng chuyến bay một, có vấn đề gì bất bình thường là phải can thiệp ngay.

Tất cả các sân bay làm nhiệm vụ dự bị cũng đều phải mở các phương tiện, các đài trạm luôn sẵn sàng tiếp nhận, ứng cứu cho sân bay đang bay chính thức...

Nhiều! Rất nhiều các thành phần phải tham gia để đảm bảo cho một ban bay hoặc chỉ một chuyến bay...

Rồi thì, đâu cứ triển khai ra là bay ngay được. Ví dụ như thời tiết không đảm bảo, tất cả phải ngồi chờ đợi, đợi chán đợi chê mà khí tượng vẫn không tốt lên được, không phù hợp cho các chuyến bay của ban bay thì phải thủ tiêu bay. Các thành phần lại lục tục kéo về, lại phải chuẩn bị lại để hôm sau lại tiếp tục triển khai. Mà cái trò khí tượng thì chẳng biết thế nào, nhất là ở khu vực Yên Bái nữa: nó đỏng đảnh, khó tính đến kỳ lạ chẳng khác gì cô gái nhõng nhẽo, động tí là khóc, khóc sướt khóc mướt, làm mình làm mẩy... Các thành phần dự báo khí tượng thì “ăn cơm dưới đất, nói chuyện trên giời” có phải lúc nào cũng dự báo đúng đâu! Là dự báo mà! Ngay cả khi bay trinh sát khí tượng trực tiếp trước khi bay đấy mà rồi có khi khí tượng nó thay đổi đột ngột đến mức không thể ngờ được nữa là. Cũng đã từng có trường hợp cất cánh đi trinh sát thời tiết trước khi bay, lúc cất cánh lên thì trời tốt, lúc ở không vực về thì sân bay đã bị mây kéo đến che kín mít và thấp tịt, không thể hạ cánh được đành phải đi sân bay dự bị hạ cánh rồi đợi cho thời tiết ở sân mình đảm bảo đủ tiêu chuẩn mới lại “lò dò” về hạ cánh đấy thôi...

Kỹ sư khí tượng Trần Thông Thạo - người từng trải qua nhiều năm công tác trong ngành khí tượng, từng làm việc ở nhiều sân bay về lĩnh vực khí tượng đảm bảo bay, đã gắn bó với mảnh đất Yên Bái suốt từ năm 1976 khi ngồi với tôi nói đến chuyện khí tượng ở Yên Bái thì cứ chép miệng, lắc đầu:

- Tôi đã ỏ khá nhiều sân bay, nhưng khi về đây, “vấp” ngay phải cái sự đỏng đảnh, uốn éo của cái hệ khí tượng này, chán lắm! Chẳng thấy đâu mưa nhiều, mù nhiều, mây phủ gần như quanh năm như ở đây. Tôi đã phải viết trong nhật ký của tôi như thế này này:

“Trời như khép cửa sân bay
Thả mưa rơi xuống suốt ngày suôi đêm
Mưa rồi, mưa lại mưa thêm
Lòng thòng suốt tháng, suốt đêm, suốt ngày
Giơ tay cũng túm được mây
Đi trên đường nhựa cũng đầy bùn nhơ
Núi gần chỉ thấy lờ mờ
Núi xa chẳng biết bây giờ trốn đâu!”

Vậy nên, “kiếm” được 1 giờ bay đâu có phải là chuyện đơn giản. Đấy là chưa nói đến những chuyện bất trắc có thể xảy ra bất kể lúc nào trong khi bay. Chuyện bất trắc ấy không phải là không có nên việc phấn đấu đảm bảo an toàn cho một ban bay, suôn sẻ từ đầu đến cuối là việc phải làm của tất cả các thành phần, không trừ một ai.

Bắt đầu một ban bay bao giờ cũng có một phát pháo hiệu đỏ được bắn lên và khi kết thúc ban bay thì sẽ bắn một phát pháo hiệu xanh.

Màu sắc của pháo hiệu đỏ có lẽ cũng có ý báo hiệu ngầm rằng luôn phải cảnh giác, không được lơ là, sơ suất dù là việc nhỏ nhất trong khi bay, trong ban bay. Màu xanh là màu báo hiệu cho sự an toàn.

Trong Không quân, hình như với Không quân của nhiều nước mà tôi từng biết đều kiêng kị cái từ “cuối cùng” ví dụ như “chuyến bay cuôi cùng”, “ban bay cuối cùng”... chẳng hạn. Người ta thường dùng cụm từ “chuyến bay chót” hoặc “ban bay chót”... Và luôn luôn chúc cho “số" lần cất cánh và hạ cánh bằng nhau!” chính là để nói lên cái quan trọng của việc đảm bảo an toàn bay.

Tôi phân tích như thế cốt để bạn đọc hiểu thêm rằng những con số về chuyến bay, giờ bay... của một đơn vị nào đó nó không phải là những con số khô cứng, vô hồn... mà những con số ấy nói lên được rất nhiều điều và đằng sau những con số ấy là cả một cuộc sống đầy sôi động, náo nhiệt với đủ mọi loại cảm xúc “hỉ, nộ, ái, ố”... Những con số ấy ngồn ngộn những thăng trầm gắn với từng đơn vị và với số phận của từng con người trong những đơn vị ấy.

Những con số ấy chất nặng những mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu và tính mệnh của những thành phần trong một đơn vị bay. Với người khác thì tôi không biết thế nào, nhưng với cá nhân tôi, khi được nghe hoặc khi được đọc những con số ấy là tôi lại mường tượng được tất cả các công đoạn của các thành phần trong đơn vị với sự cố gắng hết mình của họ để giành giật lấy 1 chữ số hoặc 2 chữ số đó. Tôi thấy cảm phục họ, yêu quý họ và tự hào về họ.

Trực chiến, xuất kích, bay những khoa mục theo kế hoạch năm, tập mặt đất, học lí thuyết, học chính trị, sinh hoạt tư tưởng... Tất cả những việc đó cuốn theo vòng quay suốt tháng năm tưởng chừng như không còn thời gian rảnh rỗi, không còn thòi gian nghĩ đến chuyện riêng tư... Nhưng không, việc gì đến cứ đến, trong cái chung có cái riêng. Quy luật của cuộc sống là vậy, cứ sinh sôi, cứ phát triển... thậm chí đến hồn nhiên nữa là khác. Trong những ngày bận bay tíu tít ấy đã có mối tình rất đẹp nẩy nở giữa một chàng phi công và một nàng phóng viên, nhà báo ngay tại Trung đoàn tôi.

Vào một ngày, khi kết thúc ban bay, tôi về đến Trung đoàn thì Trực ban Trung đoàn báo cáo là có một nhà báo nữ đến gặp tôi liên hệ công tác. Tôi mời đến gặp. Đấy là một cô gái nhỏ nhắn, xinh xắn, trẻ trung với tính tình vui vẻ, xởi lởi - phóng viên, nhà báo Ngô Thị Thu Dung muốn tìm hiểu về hoạt động của Trung đoàn, đặc biệt là hoạt động bay và muốn được gặp, trao đổi trực tiếp với các phi công. Tôi giới thiệu nữ nhà báo đến gặp phi công Bùi Minh Tiến - một phi công trẻ, bay giỏi, đầy hứa hẹn.

Sau vài ngày ỏ Trung đoàn và sau một vài lần nữa đến Trung đoàn thì tôi không biết lửa đã bén rơm hay rơm đã bén lửa, nhưng đôi ấy “kết” nhau lắm. Đương nhiên là tất cả chúng tôi đều ủng hộ và “vun vào” vì thấy đấy là một đôi rất “đẹp đôi”. Một thời gian sau, họ đã quyết định đi đến hôn nhân và đã có một cuộc sống thật hạnh phúc.

Sau này, những lần tôi gặp lại Ngô Thị Thu Dung, tôi lại trêu cô với những kỷ niệm cũ khi ồ Trung đoàn, cô cười tít:

- Tại anh với các anh kể chuyện làm em cứ há hốc mồm ra mà nghe, chẳng biết đâu là thật, đâu là bịa nữa!

- Thế cái cậu Tiến - phi công nhà tôi thì là thật hay là bịa?

- Anh thì!...

Thế là tất cả lại cùng cười. Những kỷ niệm với Trưng đoàn đều là những kỷ niệm vui và trong sáng, đáng nhớ lắm, quên làm sao được!

Cũng như các đơn vị khác trong quân đội, Trung đoàn tôi cũng có “Chiêu đãi sở” để là nơi tiếp đón người nhà, người thân của quân nhân đến thăm. Tuy “Chiêu đãi sở” của Trung đoàn tôi chỉ nhà tranh vách nứa thôi nhưng cũng khá tấp nập, có thời gian còn không đủ phòng để tiếp đón nữa. Nơi ấy cũng là nơi có những chuyện tình viết thành “thiên tình sử” được và cũng đã có khá nhiều những “mầm sống" nhỏ nhoi ra đời - kết quả của những chuyện tình đằm thắm, ngọt ngào... đơm hoa kết trái! Những “mầm sống nhỏ nhoi” ấy bây giờ đã “sinh con đẻ cái”, đã trở thành những ông bố, bà mẹ cả rồi.

Ai có người thân đến là chúng tôi tổ chức tiếp đón niềm nở, chu đáo và rồi tổ chức ra thăm hỏi, động viên vì vào cái thời ấy, lên được đến Trung đoàn là gian nan lắm, đâu có tiện lợi như hiện nay. Tôi nhớ có lần, vợ một anh cán bộ Trung đoàn lên thăm, anh chị có mời chúng tôi ra chơi. Chúng tôi nhận lời và chiều hôm sau khi công việc đã được thu xếp hoàn tất thì tôi và mấy anh khác cùng ra thăm anh chị ấy. Gần đến Chiêu đãi sở, tôi đề nghị dừng lại hội ý và thống nhất: khi gần đến phòng của anh chị ấy là phải đồng thanh gọi thật to và tất cả phải quay lưng đi giật lùi vào nhà. Bọn tôi hành động đúng như kế hoạch. Anh thì hơi ngạc nhiên, còn chị thì bất ngờ và ngạc nhiên lắm, cứ gặng hỏi:

- Sao các anh lại đi giật lùi vào nhà thế?

- Chắc là khi thấy mình không tiếp đón tử tế thì các ông ấy về luôn đỡ phải làm cái động tác quay người lại đấy mà! - Anh giải thích với chị.

- Không phải thế đâu! - Tôi lên tiếng, - chẳng qua nhỡ anh chị đang... đang... mà không kịp thì còn có thời gian “chỉnh đốn trang phục”, để cho cả hai phía khách, lẫn chủ đều không bị ngượng thôi!

- Ôi giời ôi! Chết với mấy cái ông ma quái này thôi! - Chị hét lên và rồi rũ ra cười trước cái trò trêu nghịch của chúng tôi.

Anh chị cũng từng trải qua giai đoạn khó khán của sự hiếm muộn, thế nhưng sau này thì lại “sòn sòn” hai năm một. Phải nói, cái Trung đoàn ở Đồi Cọ này cũng “có duyên” lắm đấy chứ!

Vậy mà cũng đã ba mươi mấy năm trôi qua rồi, đã lên chức ông, chức bà cả rồi. Còn trẻ trung gì nữa đâu. Vậy nhưng tất cả những kỷ niệm ấy nghe chừng vẫn như vừa xảy ra hôm qua hôm kia mà thôi. Ký ức của con người cũng lạ!

Có thể, những đứa trẻ ngày xưa được hình thành và phát triển hình hài có xuất xứ ở cái khu “Chiêu đãi sở” của Trung đoàn kia nhưng chúng cũng không hề biết đến nguồn gốc nơi hình thành mình đâu. Đến lượt chúng, chúng cũng lại lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái theo đúng quy luật của muôn đời, của sự phát triển chung của tạo hóa, của sự phát triển không dừng... rồi con cái chúng cũng có thể cũng chẳng biết đến cái nguồn gốc nơi hình thành mình nữa. Rồi lại đến lượt... cứ thế, cứ thế!

Cũng mới đấy thôi mà lúc ngồi nhẩm tính lại thì cũng thấy giật mình: sau khi tôi rời khỏi Trung đoàn tới giờ đã có đến chục đời Trung đoàn trưởng nối tiếp sau tôi rồi. Này nhé, anh Trương Tôn, anh Trần Văn Thi, anh Tăng Nguyên Ân, anh Trần Văn Thanh, anh Phan Hồng Quân, anh Đỗ Đức Minh, anh Lê Đình Nhuệ, anh Nguyễn Ngọc Tú, anh Nguyễn Văn Vinh A, anh Tạ Quang Thảo rồi không biết còn những ai nối tiếp nữa... Sự trưởng thành cứ lặng lẽ diễn ra hàng ngày hầu như ít ai để ý, nó cũng tựa như cây lim, cây lát mọc ở sườn núi, khi còn nhỏ, nó chỉ như chiếc tăm rồi ngày qua ngày, nó cứ lớn dần lớn dần... rồi đến một ngày nào đó khi mọi người thấy nó sừng sững thì mới ngỡ ngàng. Đương nhiên Trưng đoàn ở Đồi Cọ thì không đến mức như thế, nó vẫn được chăm bẵm, được quan tâm về mọi mặt và vẫn được theo dõi hàng ngày, nhưng sự phương trưởng của nó thì cũng không phải là không ít người có những bất ngờ. Từ một phi đội, Trung đoàn đã phát triển có hai phi đội. Từ vài chục ban bay với vài trăm giờ bay đã tiến tới vài trăm ban bay với vài ngàn giờ bay trong năm. Từ việc chỉ hoàn thành được những nhiệm vụ trên đất liền tiến tới hoàn thành được cả nhiệm vụ trên biển, rồi từ việc chỉ bay ngày tiến tới bay được cả ban đêm... Ngoài phần thưởng cao quý là lẵng hoa của Chủ tịch nước trao tặng, trung đoàn còn đón nhận Huân chương chiến công hạng Nhì, được nhận danh hiệu “Đơn vị dẫn đầu cụm các Trung đoàn bay phản lực”...

Đấy là sự chuyển biến lớn lao nếu so sánh từ ngày đầu tiên, bước đi đầu tiên của Trung đoàn với những tháng năm sau này. vẫn biết: “Mọi sự so sánh đều khập khiễng!”, nhưng không thể không so sánh. Có sự so sánh ấy mới thấy hết được công lao, sức lực của mọi thành phần, mọi thế hệ của Trung đoàn đã bỏ ra. Có so sánh như vậy mới thấy được niềm tự hào về Trung đoàn của mình và niềm vui mới ngày càng được nhân lên. Có so sánh như vậy mói tin chắc được rằng dù gian nan, vất vả, dù gian khó đến đâu chăng nữa, Trung đoàn cũng sẽ đứng vững, sẽ vượt qua được và ngày càng trưởng thành trên chặng đường lịch sử của mình để rồi cùng với các Trung đoàn khác viết tiếp những trang sử vẻ vang của Quân chủng Phòng không - Không quân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn