Trương Văn Phu
Đồng chí Trương Văn Phu còn có tên gọi là Văn Việt. Quê quán thôn 5 xã Tiên Phong, huyện Tiên Phước (nay là xã Tiên Phước).
Lớn lên trên vùng quê giàu truyền thống cách mạng của huyện Tiên Phước, nơi có chi bộ Tài Đa – một trong những chi bộ tiền thân của Đảng bộ huyện Tiên Phước ngày nay. Do vậy ngay từ sớm, đồng chí đã tiếp xúc với các thế hệ đàn anh trong chi bộ Đảng Tài Đa (Tiên Phong) và bằng lòng yêu nước nhiệt thành cộng với sự giáo dục thường xuyên của người chị ruột Trương Thị Ngọc Lan, một hội viên phụ nữ cứu quốc bị mật, cảm tình Đảng của chi bộ Tài Đa truyền lại, đồng chí đã tham gia cách mạng từ tháng Tám năm 1945, với công tác thiếu nhi, phụ trách tuyên truyền Việt Minh tại quê nhà Tiên Phong. Đồng chí cũng đã trực tiếp nhìn thấy cảnh giặc Pháp bắt đồng chí Nguyễn Huyên là bí thư chi bộ Tài Đa đánh đập dã man, đồng chí Nguyễn Huyên không những không sờn lòng mà còn thét vào bọn chúng: “Cộng sản là tôi, cháu bà Hai Thìn chứ còn ai nữa. Hôm nay các người chỉ thấy mình tôi là cộng sản, nhưng 5- 10 năm nữa ra đường ở đâu cũng là cộng sản !”
Năm 1947, đồng chí đã giác ngộ và đứng vào hàng ngũ của Đảng, khi vừa tròn 18 tuổi. Kể từ đây, đồng chí gách vác nhiều nhiệm vụ của Đảng giao phó. Năm 1947, đồng chí làm Bí thư thanh niên cứu quốc. Năm 1948 được bầu vào Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, rồi Ủy viên Ban thường vụ Huyện ủy, Trưởng Ban Tuyên huấn Huyện uỷ Tiên Phước. Đại hội năm 1949, đồng chí được bầu làm Phó Bí thư Huyện uỷ Tiên Phước. Từ tháng 01 năm 1950 đến cuối năm 1950, đồng chí được bầu làm Bí thư Huyện uỷ Tiên Phước. Năm 1952, đồng chí làm Ủy viên Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, rồi Trưởng Ban Tuyên huấn tỉnh đội.
Sau đó được điều về công tác tại Tỉnh uỷ Quảng Nam, giữ chức vụ Trưởng Phòng nghiên cứu thuộc Văn phòng Tỉnh uỷ Quảng Nam. Năm 1955, tập kết ra Bắc, làm chủ nhiệm chính trị d15, cán bộ tuyên huấn e93. Năm 1963, trở lại miền Nam công tác ở Cục Chính Trị Quân Khu V, làm Trưởng Ban Tuyên huấn mặt trận A. Năm 1979, làm Chính ủy Tỉnh Đội Gia Lai - Kon Tum. Sau cùng là Chính ủy Trường Quân sự Quân khu 5. Tháng 10 năm 1990, đồng chí nghỉ hưu.
Trong giai đoạn (1947-1954) đồng chí đã cùng Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (lúc này có rất ít người) có nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng Tiên Phước thành hậu phương vững chắc, tổ chức tiếp cư đối với nhân dân các huyện đồng bằng như Duy Xuyên, Điện Bàn, Hòa Vang (Đà Nẵng),… chạy lên lánh giặc. Làm chỗ đứng chân vững chắc cho các cơ quan của Liên khu 5, của tỉnh để đối phó với thực dân dân Pháp trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Đồng chí đã cùng với Đảng bộ huyện đã tích cực vận động nhân dân đóng góp của cải vật chất phục vụ cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc theo chỉ đạo của cấp trên.
Đồng chí cũng đã đề xuất nhiều phương án xử lý từ việc nhỏ như phương án phòng chống nạn dịch trâu lây lan, đến việc tổ chức việc xây dựng nông đoàn hợp xã vững mạnh tại thôn 8 Tiên Lập, khi Huyện ủy Tiên Phước đứng chân ở đây,….
Trong những năm kháng chiến chống mỹ vô cùng ác liệt, bằng lạc quan và chí khí của người cộng sản, đồng chí tiếp tục nhiệm vụ tuyên truyền giữ vững lòng tin cho cán bộ, chiến sĩ. Năm 1963, quân địch kéo đến 16 tiểu đoàn cùng xe tăng, đại bác càn quét vào vùng đất Sơn – Cẩm – Hà, đồng chí sáng tác những vần thơ mỉa mai quân thù, như:
Bình Châu mười sáu tiểu đoàn
Xe tăng, đại bác ầm ầm khắp nơi
Tưởng đâu một tháng nuốt trôi Sơn – Cẩm
Mở đầu mùa lấn lại rừng Tiên
Nhưng rồi:
Tám ngàn giặc kéo đi còn bảy
Ấp lập thêm không cái nào còn
Đắng cay hơn ngậm bồ hòn
Cẩm – Sơn – Hà vẫn vững vàng trơ trơ.
Với những cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, đồng chí được Đảng và Nhà nước được tặng thưởng: Huy hiệu 40, 50, 60, 65 năm tuổi Đảng; Huân chương Độc Lập hạng Nhì; Huân chương chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Kháng chiến chống Pháp và nhiều phần thưởng khác.


