TỪ CÂU LẠC BỘ HÀNG KHÔNG ĐẾN BAN NGHIÊN CỨU KHÔNG QUÂN
Đoạn viết khái quát quá trình hình thành, hoạt động và vai trò lịch sử của Ban nghiên cứu Không quân trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Từ việc mở các lớp đào tạo lái máy bay, hoa tiêu, khí tượng, thợ máy; tổ chức nghiên cứu cách đánh máy bay địch bằng vũ khí bộ binh; đến việc cử cán bộ sang Trung Quốc học tập chuyên sâu, Ban đã đặt nền móng ban đầu cho lực lượng không quân và pháo cao xạ của ta. Dù chỉ tồn tại trong 3 năm với điều kiện vật chất hết sức thiếu thốn, Ban nghiên cứu Không
Cách đây năm mươi lăm, ngày 9-3-1949 Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân tự vệ Việt Nam thời bấy giờ ký quyết định thành lập Ban nghiên cứu Không quân Việt Nam trực thuộc Bộ Tổng tham mưu đánh dấu một bước phát triển mới về chiến cuộc chống thực dân xâm lược Pháp cũng như về xây dựng lực lượng vũ trang. Với tầm nhìn xa trông rộng, Hồ Chủ tịch và Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh đã có ý định xây dựng ngành Hàng không từ mùa thu năm 1945 khi chấp nhận đề nghị của Bảo Đại đưa 2 chiếc máy bay của ông và đội dịch vụ kỹ thuật ra Hà Nội. Sau khi kiểm tra thấy: Chiếc Tiger Moth, 2 tầng cánh, 2 chỗ ngồi, 1 động cơ, tốc độ chậm có thể hạ cánh trên sân bay ngắn, hẹp, trong chiến tranh thế giới thứ II không quân Anh quốc đã dùng để tập lái, quan sát, liên lạc và chiếc Morane do Pháp chế tạo, 1 tầng cánh, 1 động cơ, 2 chỗ ngồi là loại máy bay thể thao, có thể nhào lộn được, Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh giao cho Cục Quân huấn nhiệm vụ tổ chức một câu lạc bộ Hàng không vừa để thỏa mãn yêu cầu của Bảo Đại, vừa để thanh niên ta có phương tiện tập luyện làm quen dần với việc sử dụng máy bay và việc xây dựng ngành Hàngkhông sau này của nước ta như nhiều nước trên thế giới đã làm.
Bước sang năm 1946, trong lúc Cục Quân huấn chuẩn bị thành lập Câu lạc bộ Hàng không dầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì thực dân Pháp không những gây chiến ở Nam Bộ mà đã chạy chọt được Chính phủ Tưởng Giới Thạch cho quân đội Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam thay thế quân đội Trung Hoa tiếp tục giải giáp quân nhân. Thế là Cục Quân huấn nhận được chỉ thị đình chỉ việc thành lập Câu lạc bộ Hàng không, tổ chức bảo quản, bảo dưỡng toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật và đội dịch vụ. Thực dân Pháp lộ rõ âm mưu trở lại xâm lược nước ta. Từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1946, hơn 3.300 binh sĩ quân đội liên hiệp Pháp ở Đông Dương chạy sang Vân Nam (Trung Quốc) được tổ chức và trang bị thành một binh đoàn ùn ùn kéo về chiếm đóng Phong Thổ, Lai Châu, Sơn La và Thượng Lào. Tiếp đến sau Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946), 15.000 quân Pháp đổ bộ vào Hải Phòng chiếm đóng ở nhiều thành phố, thị xã quan trọng: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Bắc Giang, Lạng Sơn, Vinh, Huế, Đà Nẵng. Đất nước ta chuyển vào trạng thái chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, Cục Quân huấn chuyển toàn bộ đội dịch vụ và cơ sở vật chất kỹ thuật đã chuẩn bị để tổ chức Câu lạc bộ Hàng không, sang thành lập đội huấn luyện không quân. Trụ sở của đội đặt tận sân bay Kim Đái (Sơn Tây). Đội dịch vụ gồm có ông Nguyễn Văn Đống là thợ sửa chữa máy bay ở Pháp và là người chọn làm kỹ thuật viên bảo dưỡng máy bay, ông Trịnh Văn Chất, lái xe, ông Nguyễn Văn Mai và các ông Hội, Khánh, Nghệ. Cục Quân huấn cử đồng chí Lê Thạch Liên nguyên trạm trưởng trạm khí tượng thuỷ văn vừa là đội trưởng, vừa tổ chức theo dõi thời tiết vừa phục vụ các chuyến bay nếu có và 2 vệ binh đi bảo vệ đội và sân bay. Tuy đội ở xa Cục nhưng với tinh thần yêu nước, yêu nghề đội hoạt động rất tốt, thường xuyên giữ vững 2 máy bay và sân bay ở trạng thái sẵn sàng.
Tối 19/12/1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Sáng 20/12/1946 qua làn sóng Đài tiếng nói Việt Nam, Hồi Chủ tịch kêu gọi: “...Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhuợng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ: Hỡi đồng bào, chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái dân tộc, hễ là ngươời Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân, cứu nước”.
Một tuần lễ sau, được tin quân đội thực dân Pháp đang bị quân dân ta vây hãm ở thị xã Nam Định, chúng rất hoảng sợ nhưng quan ta chỉ có súng trường nên không làm sao bắn được vào trong doanh trại của chúng được do đó chúng không chịu đầu hàng. Cục Quân huấn sẵn có “đội huấn luyện không quân lại có người đã từng lái máy bay Potez 25 của Pháp, có ý kiến đề nghị sử dụng chiếc Morane bay ném đạn cối vào doanh trại quân đội Pháp ở Nam Định để buộc chúng phải đầu hàng quân tân ta. Với tầm nhìn xa trông rộng, Hồ Chủ tịch và cấp trên không chấp nhận, chỉ thị cho Cục phải bí mật chuyển 2 máy bay và đội dịch vụ Bảo Đại lên Tuyên Quang tìm nơi cất giấu bảo quản đợi khi nào có điều kiện tổ chức huấn luyện chuyên môn. Đội huấn luyện không quân phải tháo rời 2 máy bay ra nhiều bộ phận, chuyển xuống thuyền chở ngược dòng sông Hồng, sông Lô, sông Gâm lên Soi Trinh, tả ngạn sông Gâm, phía Nam huyện lỵ Chiêm Hóa (Tuyên Quang) 10 km. Công việc di chuyển này cực kỳ khó khăn vất vả. Đội huấn luyện đã phát huy sáng kiến nên bảo đảm được an toàn. Cuối cùng, máy bay được cất giấu trong lán, cạnh một bản nhỏ, dân tộc Mán. Trong năm 1947 đội huấn luyện không quân ngoài nhiệm vụ bảo quản, bảo dưỡng từng phần 2 chiếc máy bay, hòa nhập với bà con bản tổ chức phòng gian bảo mật, làm công tác dân vận, xóa nạn mù chứ, tăng gia sản xuất, ổn định sinh hoạt đời sống. Vì vậy, trong cuộc tiến công lên Việt Bắc thu đông năm 1947, tàu chiến chở đầy thủy quân lục chiến Pháp chạy dọc sông Gâm chỉ cách nơi cất giấu máy bay không đầy 100m vẫn không phát hiện được.
Bước sang năm 1948, sau chiến thắng Việt Bắc, hội nghị quân huấn toàn quốc lần thứ I nhận định quân đội thực dân Pháp ở Đông Dương chuyển hướng xâm lược của chúng về vùng đồng bằng sông đồng, ít có khả năng tiến công ồ ạt lên Việt Bắc như trong năm 1947. Cục Quân huấn chỉ thị cho đội huấn luyện không quân tiến hành sửa chữa lắp ráp lại thật hoàn chỉnh chiếc Tiger Moth, tổ chức theo dõi khí tượng thủy văn và làm một sân bay dã chiến kích thước 400m x 25m, bổ sung xăng dầu, mỡ chuyên dùng với ý định dùng làm máy bay liên lạc khi có điều kiện bảo đảm an toàn cần thiết.
Bước sang năm 1949 một cục diện mới đã mở ra. Quân giải phóng Trung Hoa đã giành được những thắng lợi lớn ở Trung Hoa đang tiến nhanh xuống Hoa Nam. Trong nước quân dân ta hưởng ứng phong trào "Thi đua yêu nước" do Hồ Chủ tịch phát động, phát huy cao độ tinh thần tự lực tự cường, phát triển chiến tranh du kích rộng khắp, mở một số chiến dịch trong vùng địch kiểm soát, biến hậu phương của địch thành hậu phương của ta. Căn cứ địa Việt Bắc được củng cố và mở rộng. Lực lượng vũ trang cũng được phát triển. Ngoài bộ binh ra đã xây dựng được một số đơn vị pháo binh, công binh và thông tin liên lạc . Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 họp từ 14 đến 18-1-1949 nhận định: Cuộc kháng chiến đã bước sang giai đoạn mới "tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công" nhằm mở rộng lực lượng chủ lực, Bộ Tổng tham mưu kiến nghị với Bộ tổng tư lệnh thành lập tổ chức ban đầu của không quân, hải quân và một số binh chủng khác để đào tạo cán bộ chuyên nghiệp và các binh chủng này. Đại tướng Tổng Tư lệnh cho ý kiến phải báo cáo và xin chỉ thị của Bác trước khi quyết định: Thế là đồng chí Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái cùng đồng chí Tổng tham mưu phó Phan Phác, nguyên Cục trưởng Cục Quân huấn đến báo cáo xin chỉ thị của Hồ Chủ tịch. Sau khi nghe báo cáo tình hình cụ thể của đội huấn luyện không quân ở Soi Trinh (Chiêm Hóa) Hồ Chủ tịch hỏi rất cặn kẽ về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của từng người trong đội huấn luyện, về hiện trạng của từng máy bay, từng loại nhiên liệu, phụ tùng dự trừ... rồi chỉ thị đại ý như sau: Lúc này tận dụng tất cả những cơ sở vật chất kỹ thuật ta có thể xây dựng tổ chức ban đầu cho không quân là phù hợp với cục diện cuộc kháng chiến của ta đang trên đà giành những thắng lợi để chuyển sang tổng phản công, cũng kịp thời đối với cách mạng Trung Quốc sắp thành công, nhưng phải theo khả năng thực tế và nhu cầu thiết yếu từng thời điểm. Do đó, bây giờ chỉ thành lập Ban nghiên cứu Không quân để tìm hiểu tổ chức và hoạt động của không quân Pháp, nghiên cứu cách phòng chống lại chúng, tìm kiếm cán bộ, giáo viên bổ sung trang thiết bị chuyên dùng, xây dựng cơ sở nghiên cứu ban đầu, khi nào có tương đối đủ cán bộ giáo viên mới được mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ kỹ thuật và nghiệp vụ về hàng không, phòng không, không quân để phối hợp tham gia nghiên cứu vừa học vừa làm.
Thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ tịch, ngày 9-3-1949, Đại tướng Tổng tư lệnh ký quyết định thành lập Ban nghiên cứu Không quân và bảo phải kiểm tra lại toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có trên cơ sở đó lập phương án xây dựng cơ sở nghiên cứu như Hồ Chủ tịch chỉ thị: Chú ý Bác chỉ cho phép thành lập Ban nghiên cứu và chỉ khi nào có tương đối đủ giáo viên và trang thiết bị tối cần thiết mới được mở lớp để phối hợp tham gia nghiên cứu, do đó về giáo viên cần chọn những người có trình độ chuyên môn đã tham gia cách mạng ít nhất từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa kể cả người nước ngoài, về học viên thì phải có trình độ văn hóa trung học và đã tham gia công tác hoặc chiến đấu từ ngày toàn quốc kháng chiến.
Thực hiện chỉ thị của Đại tướng Tổng tư lệnh, đồng chí Phó tổng tham mưu trưởng Phan Phác lên Soi Trinh kiểm tra toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật của đội huấnluyện không quân. Nhận thấy hai máy bay đã được lắp ráp lại hoàn chỉnh, được bảo dưỡng tốt, sân bay làm đúng quy cách, có đài khí tượng thủy văn, nhiên liệu, phụ tùng đầy đủ, một số cán bộ ở đội, ở Cục Quân huấn, ở Bộ tổng Tham mưu, ở Văn phòng Bộ Quốc phòng có thể đảm đương được nhiệm vụ phụ trách và huấn luyện chuyên môn, Bộ tổng Tham mưu thực thi quyết định của Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh. Đồng chí Hà Đổng tốt nghiệp khóa 1 Trường võ bị Trần Quốc Tuấn, đang là cán bộ cơ quan Bộ Quốc phòng, được bổ nhiệm làm Trưởng ban, đồng chí Đoàn Mạnh Nghi đang là cán bộ Bộ tổng Tham mưu, được giao phụ trách công tác đảng, công tác chính trị, đồng chí Lê Văn Nho cán bộ của Cục Quân huấn phụ trách tiểu ban nghiên cứu sân bay, đồng chí Lê Thạch Liên, đội trưởng đội huấn luyện không quân cũ phụ trách tiểu ban nghiên cứu khí tượng, đồng chí Nguyễn Văn Đống, đội trưởng đội dịch vụ cũ phụ trách tổ bảo dưỡng máy bay. . . Trong số người ban đầu có mặt đồng chí Nguyễn Đức Việt - hàng binh người Đức trong Quân đội Pháp cũ, đã theo ta từ đầu ngày kháng chiến ở Trung Bộ, vốn là phi công lái máy bay liên lạc và đã được kết nạp Đảng cộng sản Đông Dương.
Sau khi thành lập, mối quan tâm chung là kiểm tra xem xét lại thực trạng chất lượng của 2 chiếc máy bay. Tháng 8- 1949 đồng chí Hà Đổng dẫn đồng chí Việt đến Soi Trinh để cùng đồng chí Liên và tổ chức bảo dưỡng kiểm tra kỹ thuật và tổ chức bay thử chiếc Tiger moth. Đồng chí Việt lái, ông Đống ngồi ghế sau cùng bay. Máy bay cất cánh tốt lượn một vòng vẫn tốt, nhưng khi quay về chuẩn bị hạ cánh thì bộ phận điều khiển có sự cố máy bay tiếp đất lệch dốc theo bờ sông Gâm được an toàn. Đây là chiếc máy bay đầu tiên mang cờ đỏ sao vàng Việt Nam bay trên vùng trời căn cứ địa Việt Bắc trong cuộc chiến tranh chững thực dân Pháp xâm lược.
Thế là đồng chí Việt trở thành giáo viên lái máy bay. Sau khi tổ chức được xưởng cơ khí và thu nhận được các linh kiện từ các động cơ và xác máy bay cũ về làm học cụ, Ban nghiên cứu Không quân mở một lớp lái máy bay gồm 28 học viên học tập trong 4 tháng. Lớp này kết thúc vào đúng lúc Bộ tổng Tham mưu bắt đầu chuẩn bị chiến dịch biên giới. Để bảo vệ vùng trời Thủy Khẩu - cửa ngõ ra vào duy nhất thời bấy giờ giữa ta và nước CHND Trung Hoa, Bộ tổng Tham mưu điều số học viên vừa tốt nghiệp các lớp lái máy bay sang Thủy Khẩu (biên giới Quảng Tây - Cao Bằng) phiên hiệu C612. Được giải phóng quân Trung Quốc tận tình huấn luyện, chuyển sang pháo phòng không, sau 3 tháng học tập đại đội 612 lập được chiến công đầu tiên, bắn rơi chiếc máy bay phóng pháo Bearcát của Pháp xâm phạm vùng trời Thủy Khẩu.
Tiếp theo lớp hoa tiêu ấy, Ban nghiên cứu Không quân mở đồng thời 3 lớp chuyên ngành: Lớp hoa tiêu 2 gồm 28 học viên, lớp khí tượng 31 học viên, lớp thợ máy 28 học viên. Thời gian học tập 6 tháng.
Thực hiện vừa học vừa làm, vừa nghiên cứu, cán bộ, giáo viên, học viên Ban nghiên cứu Không quân đã tìm hiểu ngành Hàng không và lực lượng không quân Pháp hoạt động trên chiến trường Đông Dương đã nghiên cứu bắn máy bay địch bằng súng trường, súng máy, đã chế tạo ra các máy ngắm, bắn máy bay theo kiểu Stadia đã làm giá ghép 2 trung liên để bắn mục tiêu trên không, đã mở 2 lớp tập huấn dùng súng bộ binh các loại bắn máy bay.
Bước sang năm 1951, biên giới Việt Trung được hoàn toàn giải phóng, nước ta được nối liền với phe XHCN. Được Chính phủ CHND Trung Hoa viện trợ, Chính phủ ta chủ trương chuyển việc đào tạo cán bộ chuyên nghiệp về pháo cao xạ, về lái máy bay, về thủy quân sang Trung Quốc để học viên có đủ điều kiện để tập luyện tốt hơn và an toàn hơn. Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Bộ tổng Tham mưu và Tổng cục Chính trị tuyển chọn trong toàn quân được 33 đồng chí cán bộ đủ tiêu chuẩn đi học lái máy bay. Bộ Quốc phòng chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Tâm Trinh, nguyên là đội trưởng đội huấn luyện của Ban nghiên cứu Không quân dẫn sang Trung Quốc để học lái máy bay, nhưng khi đến Nam Ninh (Trung Quốc) thì đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm TCCT lúc bấy giờ giao nhiệm vụ sáp nhập vào đoàn cán bộ đi học pháo cao xạ 37mm ở Thẩm Dương. Cũng là lúc Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh tập trung lực lượng để xây dựng bộ đội chủ lực thành những đại đoàn mạnh, đặc biệt là thành lập đại đoàn công binh và pháo binh gọi tắt là Đại đoàn Công pháo 351. Cũng như đối với Ban nghiên cứu Thủy quân, Bộ quyết định giải thể Ban nghiên cứu Không quân, chuyển đại bộ phận cán bộ công nhân viên về sư đoàn 351 . Số còn lại thì biên chế vào các cơ quan cũ, Bộ tổng Tham mưu, Tổng cục cung cấp. Những giáo viên và học viên đã tham gia nghiên cứu về phòng chống máy bay thì chuyển về đơn vị bộ binh để đẩy mạnh phong trào bắn máy bay bằng súng trường và súng máy.
Ban nghiên cứu Không quân chỉ tồn tại và hoạt động trong 3 năm. Mặc dù cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, lại ở xa cơ quan chủ quản, Ban nghiên cứu Không quân đã và phát huy tinh thần đoàn kết, thực tiễn, dũng cảm, sáng tạo, vừa làm, vừa học, vừa nghiên cứu nên bước đầu trở thành một đội ngũ cán bộ có kiến thức, văn hóa khoa học, được trang bị bước đầu về kỹ thuật và nghiệp vụ chuyên môn về hàng không, về phòng không và không quân. Chính đội ngũ cán bộ này, sau khi được tiếp cận với những trang thiết bị hiện đại và học tập ở những trường chính quy ở Trung Quốc và Liên Xô tiếp thu và trưởng thành rất nhanh về mọi mặt, do đó đến chiến dịch Điện Biên Phủ, một số đã trở thành lực lượng nòng cốt về không quân nhất là về cao xạ pháo 37mm, góp phần xứng đáng của mình vào chiến thắng lịch sử này. Đến năm 1955, quân đội ta tiếp quản các sân bay, thu được một số máy bay và cơ sở hạ tầng của lực lượng không quân Pháp. Để quản lý điều hành các cơ sở này, ngày 3-3-1955 Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Ban nghiên cứu Sân bay - tiền thân của Tổng cục Hàng không dân dụng và Quân chủng Không quân. Phần đông cán bộ cũ Ban nghiên cứu Không quân cũ được điều động về tham gia xây dựng các ngành và các binh chủng hiện đại này. Có thể nói được rằng Ban nghiên cứu Không quân là một vườn ươm đã tạo ra được những cây giống tốt trồng vào đất nào cũng phát triển nhanh mạnh, dù gặp phải sỏi đá, hạn hán, bão lũ và bão táp.


