Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Từ cây giáo đến khẩu súng

"Đúng hẹn lại lên", Từ cây giáo đến khẩu súng - tập IV lại vinh dự được ra mắt bạn đọc. Suốt trong ba tập trước và ngay đến tập này, nội dung các bài viết thường bao gồm những hiện tượng, những hành động cụ thể trong đấu tranh vũ trang và cả trong đấu tranh phi vũ trang. Bên cạnh đó, nội dung các bài viết còn gồm những thành ngữ, những thuật ngữ quân sự. Về thực chất, đấy là những biểu tượng văn hóa quân sự, hoặc là những hiện tượng, những thành ngữ đang trong quá trình văn hóa hóa, biểu tượng

Lai Châu24/03/2026Dương Xuân Đống (Sìn Hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
SỨC MẠNH VĂN HOÁ LÀNG VÀ TÀI TRÍ KHÚC HẠO

Giành được quyền tự chủ cho đất nước sau hai năm (905 - 907) thì ngày 23 tháng 7 năm 907. Khúc Thừa Dụ qua đời, con trai là Khúc Hạo lên thay, tiếp tục giữ chức Tiết độ sứ. Nối nghiệp và nối chí cha, Khúc Hạo đã sáng suốt đề ra nhiều cải cách quan trọng trên các mặt: đối ngoại và đặc biệt là đối nội. Chính vì thế mà sau này, các nhà khoa học đã đánh giá ông là Nhà cải cách nền hành chính quốc gia đầu tiên ở Việt Nam. Lại cũng có ý kiến mệnh danh ông là Nhà lãnh đạo khoan, giản, an, lạc.


Về đối ngoại, ông vẫn duy trì một chính sách mềm dẻo của người tiền nhiệm nên sau đó, khi lên thay thế nhà Đường, nhà Lương cũng buộc phải tiếp tục công nhận ông làm An Nam đô hộ sung tiết độ sứ.

Về đối nội, ông tập trung cải cách và tăng cường những công tác nóng bỏng, cấp thiết để đáp ứng kịp thời những yêu cầu về quốc kế, dân sinh.

Thứ nhất, ông thực hiện cải cách hành chính quốc gia, ra sức chăm lo xây dựng một chính quyền thống nhất theo quy mô một nhà nước độc lập, tự chủ, từ cấp trung ương xuống tận cấp cơ sở là xã, trong đó, xã là nền tảng cơ bản nhất. Khúc Hạo chia hệ thống hành chính cả nước thành năm cấp: lộ, phủ, châu, giáp, xã. Mỗi xã có một chánh, nhân dân thường gọi là ông cai giáp và một tá lệnh trưởng cùng một số người giúp việc là các ông lềnh (từ chữ lệnh mà ra) bao gồm lềnh nhất, lềnh nhì, lềnh ba. Một số xã gần nhau, trước là hương, nay đổi thành giáp, có một quản giáp và một phó tri giáp trông nom việc quản lý hộ khẩu và thu thuế. Có thể xem đây là lần đầu tiên các làng xã chấp nhận sự quản lý của những xã quan do chính quyền trung ương cắt cử, điều mà suốt cả một ngàn năm Bắc thuộc, chính quyền đô hộ không bao giờ làm được.


Theo Cao Hùng Trưng, tác giả An Nam chí nguyên, Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp, cộng với những giáp có trước thành cả thảy là 314 giáp. Ngay từ khi mới thành lập, chính quyền dân tộc tự chủ đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến việc tổ chức bộ máy cơ sở giáp và xã. Đó là những đơn vị hành chính xây dựng trên nền tảng kinh tế - xã hội vốn có của công xã nông thôn và nhằm quản lý công xã đó. Nếu đối chiếu với 159 hương thời Đường thì con số 314 giáp của chính quyền tự chủ mới giành được của họ Khúc đã có một bước phát triển mới.


Xét về mặt lý luận, tổ chức đời sống cộng đồng của một đất nước quan trọng nhất là trên ba lĩnh vực: tổ chức quốc gia, tổ chức nông thôn và tổ chức đô thị. Trong một quốc gia có cả nông thôn và đô thị, nhưng với một nền văn hoá nông nghiệp trồng lúa nước điển hình như Việt Nam thì tổ chức nông thôn lại là lĩnh vực quan trọng nhất. Điều đó chi phối cả truyền thống quốc gia lẫn tổ chức đô thị, cả diện mạo xã hội lẫn tính cách con người. Nắm vững những đặc thù của tổ chức nông thôn tức là nắm được chìa khoá trong việc tổ chức đời sống cộng đồng của người Việt Nam. Khi giải quyết công việc này. Khúc Hạo đã tỏ rõ là người có bản lĩnh.


Đánh giá về cải cách hành chính của ông. Phan Huy Chú, tác giả Lịch triều hiến chương loại chí đã viết: “Tổ chức hành chính của họ Khúc một phần nào sẽ là cơ sở cho tổ chức hành chính của các triều đại tự chủ sau này”.


Thứ hai là cải cách kinh tế - xã hội. Phần cải cách này bao gồm: việc xoá bỏ lực dịch, tức xoá bỏ chế độ bóc lột nặng nề của chính quyền đô hộ và việc đánh đồng thuế ruộng theo hộ khẩu mà không theo diện tích ruộng đất và xem đây là nguồn thu nhập chủ yếu của nhà nước.


Lực dịch là chế độ bóc lột dưới thời thuộc Đường, suốt ba trăm năm, tính từ đầu thế kỷ VII đến đầu thế kỷ X. Chế độ này gồm hai phần: phần cống nạp và phần thuế. Hằng năm, các châu, huyện thuộc An Nam phải cống nạp cho triểu đình Trường An nhiều lâm, thổ sản quý, nhiều sản phẩm thủ công... Bên cạnh đó, dân bản xứ còn phải nộp cho bọn quan lại đô hộ rất nhiều loại thuế như thuế nông sản, thuế hải sản...


Bước vào thời tự chủ, thể theo nguyện vọng nhân dân, Khúc Hạo xoá bỏ hoàn toàn lực dịch và chủ trương “bình quân thuế ruộng... lập sổ hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán, giao cho Giáp trưởng trông coi”. Việc làm này vừa có ý nghĩa xác lập quyền sở hữu tối cao của chính quyền đối với đất đai cả nước, vừa có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy sản xuất và đề cao tính ưu việt của nhà nước tự chủ. Bởi vì lúc bấy giờ, toàn bộ ruộng đất đều thuộc sở hữu chung của công xã, chưa có sở hữu tư nhân. Cùng với việc xoá bỏ lực dịch, chính sách bình quân thuế ruộng của Khúc Hạo đã làm giảm nhẹ mức độ bóc lột đối với nhân dân đồng thời xoá bỏ được mâu thuẫn phi lý do chính quyền đô hộ gây ra trước đó. Bằng cách này, chính quyền tự chủ đã khôi phục lại được vai trò và truyền thống công xã, thực hiện một phương thức đóng góp thích hợp và hiệu quả từ phía nhân dân đối với kết cấu kinh tế - xã hội của nhà nước dân tộc lúc bấy giờ, tạo nên sự hòa hợp thoả đáng trong một thể thống nhất giữa nhà nước với công xã, tức giữa - nước với làng, giữa làng với nước.


Chính sách tô thuê của Khúc Hạo lúc đương thời sở dĩ trở thành một chính sách nổi tiếng về mặt đối nội vì đã thu phục được lòng người. Chỉ có thể nhận thức và giải thích được điều ấy nếu hiểu rõ tổ chức giáp - xã được xây dựng trên nền tảng công xã nông thôn, một hình thức tổ chức xã hội và kinh tế cuối cùng của thời cổ đại. Tuy ra đời từ trong quá trình tan rã của chế độ công xã thị tộc nhưng cho đến thế kỷ X, công xã nông thôn vẫn còn chiếm ưu thế, còn ở giai đoạn thịnh trị và giữ vai trò hạ tầng cơ sở bền vững của xã hội Việt Nam mà đặc điểm quan trọng nhất là toàn bộ ruộng đất đều thuộc sở hữu công cộng. Chính vì vậy mà công xã nông thôn lúc ấy còn có một tên gọi khác là công xã ruộng đất.


Kế thừa từ người cha, đường lối chính trị của Khúc Hạo có thể tóm gọn trong một câu như Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã viết: “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Từ nhận định đó, có thể nói rằng khoan, giản, an, lạc là nội dung chủ yếu của chiến lược chính trị ở buổi đầu thời tự chủ.


Khoan dung là không thắt buộc, khắt khe quá quắt đối với nhân dân như bọn tham quan ô lại đã từng gây thành một tệ nạn lớn dưới thời Bắc thuộc.

Giản dị là không phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân bởi quá nhiều thủ tục hành chính quan liêu.

An, lạc (yên vui) “an cư, lạc nghiệp”, là lý tưởng của nếp sống nông dân nơi xóm làng.

Logged

ktqsvn

Thành viên
*
Bài viết: 561


Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4« Trả lời #2 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:11:00 am »
Có thể nói rằng, đường lối chính trị của Khúc Hạo đã phản ánh mối quan hệ bình đẳng bên trong công xã và còn mang ít nhiều tính chất dân chủ giữa Nhà nước với công xã. Đó là một đường lối chính trị thân dân và nó đã làm rõ một điều là bất cứ ở một phong trào dân tộc chân chính nào cũng đều mang theo một nội dung dân chủ nhất định, đúng như một trong hai quy luật phổ biến của lịch sử Việt Nam “độc lập dân tộc phải đi đôi với dân chủ cho nhân dân". Chính vì có một đường lối đúng đắn như vậy, Khúc Hạo đã tập hợp được mọi lực lượng yêu nước để hoàn thành nhiệm vụ chống ngoại xâm, giành lại quyền tự chủ lâu dài. Vì nhu cầu cấp thiết đó, tuy trong nước lúc ấy vẫn còn những xu hướng cát cứ nhưng các hào trưởng địa phương cũng đã phải chịu phục tùng chính quyền trung ương. Ngược lại, triều đại họ Khúc cũng như các triều đại tự chủ tiếp theo, vẫn phải dựa vào họ để củng cố chính quyền ở cấp cơ sở. Xu hướng chủ yếu của lịch sử Việt Nam luôn luôn là gắn liền độc lập dân tộc với thống nhất đất nước mà công cụộc cải cách của Khúc Hạo được xem là bước mở đầu.


Thế nhưng để thấy được trọn vẹn giá trị của công cụộc cải cách đó, phải đặt nó vào trong tình hình đất nước ta cùng với những biến động của Nhà nước Nam Hán ở sát biên giới phía bắc vào ba mươi năm đầu thế kỷ X. Trong ba thập kỷ đó, mặc dù triều đình Nam Hán có sự thay đổi, kế tiếp nhau, kể từ Lưu Ấn, Lưu An, đến Lưu Cung, nhưng ý đồ đen tối của họ vẫn cứ nhất quán cả trong tư tưởng lẫn trong hành động là muốn bành trướng, xâm lược xuống phía nam mà mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất là miền đất Giao Châu. Là người lãnh đạo tài năng, Khúc Hạo hiểu rất rõ điều đó. Chính thế mà ngay khi còn sống, ông đã cho Khúc Thừa Mỹ - con trai và là người kế nghiệp - sang Nam Hán “kết mối hoà hảo” nhưng thực chất là để “dò xét tình hình”.


Khi Khúc Hạo qua đời, Khúc Thừa Mỹ lên thay nhưng vì phạm sai lầm lớn trong đối sách với triều đình Nam Hán nên cuối cùng đã đưa đất nước đi tới một thất bại lớn vào năm 930. Điều may mắn cho dân tộc ta lúc bấy giờ là sức mạnh từ những cải cách tiến bộ của Khúc Hạo, về chiều sâu của cấu trúc xã hội đã đi xuống tận xóm làng, về chiều rộng đã đi vào tận những vùng căn cứ xa xôi ở châu Hoan, châu Ái, cho nên Khúc Thừa Mỹ tuy có bị bắt về nước, nhưng quân xâm lược vẫn không đè bẹp được ý chí đấu tranh của nhân dân ta.


Trên đây là những tư liệu quý, giúp cho việc nghiên cứu về sự nghiệp cải cách của Khúc Hạo, mặc dù không được nhiều nhưng những phần có được cũng đã nổi lên một điều rất đáng chú ý là mục tiêu nỗ lực cải cách của ông luôn hướng về cấp cơ sở, lấy cơ sở làm đối tượng hành động. Việc cải cách đơn vị hành chính là nhằm tập trung vào giáp và xã. Còn việc cải cách kinh tế như bỏ lực dịch, sửa lại chế độ điền tô, thuế má... cũng nhằm khôi phục lại vai trò và truyền thống công xã nông thôn - một kiểu tổ hợp dân cư giữa liên minh huyết thống với liên minh láng giềng - mà người Việt vẫn gọi nôm na, thân thuộc là xóm làng.


Mặc dù trải qua hơn mười thế kỷ, dưới chế độ thống trị hà khắc và chính sách “đồng hoá” cực kỳ thâm độc - của các đế chế Hán, Đường, tuy nền văn hoá Việt Nam có bị phá huỷ, bị loại trừ những nội dung nhất định, nhưng bè lũ xâm lược phải chịu bó tay, không sao tiêu diệt được nền văn hoá đó vì trên thực tế, các "mảnh vụn" của nó đã tìm về khu trú tại các xóm làng để trở thành văn hoá truyền miệng, văn hoá dân gian với cái tên gọi là "văn hoá xóm làng". Quân thù có thể chiếm được nước nhưng chưa bao giờ chiếm được làng. Chính vì thế mà văn hoá xóm làng vẫn tồn tại mặc dù văn hoá dân tộc đã bị giải thể về cấu trúc.


Một dân tộc bị tiêu vong trước hết là sự tiêu vong từ nền văn hóa. Lịch sử đã chứng minh nền văn hóa Việt Nam không những không bị tiêu vong mà từ xóm làng, văn hóa Việt Nam còn thể hiện rõ tính kiên cường, mãnh liệt trong đấu tranh để bảo tồn và phát triển.


Sau khi xâm chiếm nước ta, bè lũ thống trị ngoại bang đã thủ tiêu và xoá bỏ thể chế Nhà nước của các vua Hùng, vua Thục nhưng suốt thời Bắc thuộc, chúng không thể nào với tay can thiệp và làm biến đổi được cơ cấu xóm làng cổ truyền, tức là làm thay đổi nếp sống được hình thành từ rất lâu đời của người Việt.


Từ Hán đến Đường, chính quyền đô hộ có được củng cố, tăng cường thêm, nhưng trước sau, không một triều đại phong kiến Trung Quốc nào nắm được xóm làng và đặt nổi hệ thống xã quan trên đất nước ta mà chính những đơn vị quần cư mang đặc trưng của loại hình công xã nông thôn kiểu châu Á lại là nền tảng xã hội, là cơ sở của nền văn hoá Việt Nam, là nơi nuôi dưỡng, vun trồng những tinh hoa của văn hoá cổ truyền. Trong cuộc đấu tranh trường kỳ chống Bắc thuộc, những xóm làng yên lành, kín đáo sau lũy tre xanh của tuyệt đại đa số nhân dân ta đã giữ vai trò như những pháo đài xanh chống lại một cách có hiệu quả âm mưu “đồng hoá” của kẻ thù.


Đứng trên phương diện thể chế chính trị và cơ cấu xã hội hạ tầng, có thể nói, trong thời Bắc thuộc, người Việt mất nước chứ không mất làng. Bởi vậy, mà một tác giả người Pháp đã nhận xét: qua Bắc thuộc, nước Việt như một toà nhà, chỉ bị thay đổi “mặt tiền” mà không bị thay đổi cấu trúc bên trong.


Khi bắt tay vào sự nghiệp cải cách độc đáo của mình, Khúc Hạo đã nhận thức đầy đủ vai trò to lớn của văn hoá dân tộc mà đặc biệt là văn hóa xóm làng. Trong quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, mặc dù bị đàn áp bị huỷ hoại nhưng văn hóa xóm làng vẫn giữ vững được cấu trúc xã hội, giữ vững được nếp sống tự ngàn xưa của người Việt. Như vậy, dưới thời Bắc thuộc, văn hoá xóm làng đã làm cơ sở cho nền văn hoá dân tộc tồn tại và phát triển thành một dòng chảy liên tục, nối dài từ thời Hùng Vương cho đến tận thời tự chủ.


Trước những thử thách lớn lao của lịch sử, nhờ xóm làng giữ vững được nền văn hoá mà dân tộc Việt Nam đã tồn tại và phát triển. Những cuộc nổi dậy của nhân dân ta đứng lên đấu tranh bảo vệ xóm làng là những minh chứng hùng hồn.

Logged

ktqsvn

Thành viên
*
Bài viết: 561


Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4« Trả lời #3 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:11:46 am »
Trên cơ sở của một quá khứ đáng trân trọng và đầy tự hào của văn hóa xóm làng đồng thời nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển của dân tộc lên một bước mới khi tình hình đất nước còn đầy chông gai, Khúc Hạo lấy xóm làng làm điểm tựa, dùng nó làm hạt nhân cho động lực phát triển của đất nước. Nhìn từ góc độ văn hoá đây là một hành động rất thức thời và vô cùng chính xác. Thế nhưng, nhìn từ góc độ chính trị - xã hội khi Nhà nước muốn làm tròn trách nhiệm chung thì phải luôn luôn được củng cố vững chắc bằng việc đặt tất cả các công xã trở thành đơn vị hành chính cơ sở của mình. Nói một cách khác, Nhà nước cần phải can thiệp sâu và kiểm soát mọi mặt các công xã. Đây là một việc làm hết sức khó khăn. Chẳng hạn như thuỷ lợi và chống ngoại xâm, tuy là những nhiệm vụ thường xuyên song không phải lúc nào cũng diễn ra, cho nên các công xã vẫn có điều kiện và khuynh hướng bảo thủ, cứ giữ lấy quyền tự trị của mình. Nhà nước muốn xoá bỏ sự cách biệt, trái lại, công xã muốn duy trì sự đối lập, nhất là khi Nhà nước đó lại là chính quyền đô hộ ngoại bang, cần phải lật đổ. Thế nhưng cho đến đầu thế kỷ X, khi Việt Nam giành được độc lập, bắt đầu đi vào thời tự chủ, ý thức dân tộc của mọi người được nâng cao, nhất là trong hoàn cảnh đất nước bị nguy cơ ngoại xâm đe doạ. Mâu thuẫn giữa Nhà nước với công xã mới giảm đi để hoà chung vào một mối. Khúc Hạo được xem là người đi tiên phong trong quá trình này, quá trình xây dựng một chính quyền thống nhất, tập trung quân chủ để Nhà nước độc lập, tự chủ của dân tộc ta đủ khả năng chống lại những cuộc chiến tranh xâm lược của các tập đoàn phong kiến phương Bắc được mở ra từ thời Tần, tức là sau khi quốc gia Trung Hoa đã trỏ thành một nhà nước phong kiến tập quyền.


Nội dung công việc của Khúc Hạo chúng ta đã rõ. Ở đây chỉ biết rằng kết quả to lớn của ông là đã đem lại cho dân tộc một sức mạnh hùng hậu để trong vòng hơn ba mươi năm (907 - 938), tập trung vào bảy năm cuối (931 - 938), chúng ta đủ sức mạnh đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của quân Nam Hán. Để đạt được mục đích cao cả trên, Khúc Hạo đã thực hiện những biện pháp thích hợp và hiệu quả như sau:


Thứ nhất là đổi hương dưới thời Đường thành giáp. Đây là một loại đơn vị hành chính xuất hiện muộn nhưng lại xây dựng trên nguyên tắc trong tuổi già, một truyền thống rất lâu đời của người Việt, nghĩa là quyền quản lý xóm làng nằm trong tay các bô lão. Người già nhất là người đứng đầu trong làng, có quyển quyết định mọi việc lớn nhỏ. Sở dĩ như vậy là vì, khác với người phương Bắc - gốc du mục vốn trọng sức mạnh - còn cư dân nông nghiệp phương Nam, cùng với truyền thống trọng phụ nữ (do nếp sống thiên về tình cảm) là truyền thống trọng tuổi tác, bởi lẽ nghề nông thường phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, vào kinh nghiệm của những người sống lâu.


Giáp mang theo hai đặc điểm: một là chỉ riêng nam giới tham gia và hai là mang tính chất “cha truyền con nối".

Đặc điểm thứ nhất giải thích sự ra đời muộn của tổ chức này là vì ở thời điểm đó, vai trò người đàn ông đã lấn át vai trò truyền thống của người đàn bà trong xã hội.

Đặc điểm thứ hai chỉ rõ, cha ở giáp nào thì con tiếp tục ở giáp ấy. Trong nội bộ giáp, hình thành ba lớp tuổi chủ yếu: vi thành niên: từ 17 tuổi trở xuống, bô lão: từ 56 tuổi trở lên và đinh tráng (đinh là đứa, tráng là khỏe mạnh): từ 18 đến 55 tuổi. Lớp tuổi này giữ vị trí then chốt. Nó vừa có nghĩa vụ với làng, với nước, lại vừa có quyền lợi về tinh thần và vật chất. Với làng là phục vụ trong các dịp lễ lạt, đình đám, còn với nước là đóng sưu thuế và đi phu, đi lính, về tinh thần là có chỗ ngồi trên một chiếu nhất định khi ăn uống, họp hành, về vật chất là được nhận một phần ruộng công đế cấy cày, sinh sống. Loại ruộng này, khi thu hoạch sản phẩm, ngoài phần hoa màu phải nộp cho giáp, phần được giữ lại là một nguồn lợi rất lớn đối với người canh tác.


Do đặc điểm từ tính chất “cha truyền con nối” của giáp - một thể chế tổ chức truyền thống hoàn toàn tự nguyện và rất ổn định nên bộ máy hành chính của làng xã Việt Nam đầu thời tự chủ rất gọn nhẹ.

Từ hai đặc điểm trên, khái quát lại ta thấy chúng đều nhằm vào một mục đích là phục vụ cho giáp cung cấp sức người đối với đất nước trên hai mặt sản xuất và chiến đấu.

Thật vậy, đặc điểm thứ nhất nêu rõ giáp chỉ nhận nam giới làm thành viên mà không nhận nữ giới, đặc điểm thứ hai lại nêu rõ trong ba loại thành viên của giáp thì đinh tráng giữ vị trí then chốt. Rõ ràng, về mặt quân sự; đây là một lực lượng hùng hậu, một sức mạnh to lớn, sẵn sàng lên đường phục vụ cho sự nghiệp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Bình luận về thời điểm lịch sử này, trong cuốn Văn hoá chính trị Việt Nam, truyền thống và hiện đại, tác giả Nguyễn Hồng Phong viết: “Từ Khúc Thừa Dụ đến Ngô Quyền, nhà nước về cơ bản dựa vào bộ máy quân sự.”


Thứ hai là, xây dựng được một vùng căn cứ địa.

Kế thừa một cách sáng tạo về nội dung xây dựng căn cứ địa của Triệu Quang Phục hình thành từ giữa thế kỷ VI, Khúc Hạo đã lấy xóm làng làm cơ sở để phát triển từ căn cứ địa ở một điểm nhỏ bé (Màn Trù, Khoái Châu, Hưng Yên) lên thành căn cứ địa trên một vùng rộng lớn, từ dãy núi Tam Điệp (thị xã Tam Điệp, Ninh Bình) đến Đèo Ngang (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), bao gồm châu Hoan, châu Ái lúc bấy giờ.


Thành tựu này mang một ý nghĩa rất lớn, bởi vì vùng đất được ông phát hiện và sử dụng làm căn cứ địa đầu tiên trong lịch sử không chỉ có tác dụng cho những cuộc chiến tranh yêu nước ở thế kỷ X mà còn trở thành vùng căn cứ địa (với dãy núi Tam Điệp làm “tấm lả chắn thiên nhiên”) cho nhiều cuộc chiến tranh yêu nước của mười thế kỷ tiếp sau.


Đó là vị trí tập kết của quân triều đình nhà Trần tại Vĩnh Lộc, Thanh Hoá trong cuộc chiến tranh chống Mông - Nguyên năm 1285. Đó là “đất đứng chân” tại Nghệ An, trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XV, để nghĩa quân Lam Sơn đưa sự nghiệp đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm lên quy mô cả nước. Đó còn là nơi tuyển quân (Nghệ An), nơi “thệ sư” (Thanh Hoá) và là tuyến xuất phát tiến công chiến lược (Tam Điệp) của quân Tây Sơn trong cuộc chiến tranh chống quân Mãn Thanh năm 1789. Đó cũng là vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh của chín năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954).


Đi ngược thời gian về thế kỷ X, giá trị của vùng căn cứ địa này lại càng nổi rõ. Nhờ có nó, Dương Đình Nghệ - một bộ tướng của họ Khúc đã từ châu Ái kéo quân ra, đánh tan cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất của quân Nam Hán năm 931, giành quyền tự chủ trong vòng bảy năm (931 - 938). Sau khi Dương Đình Nghệ bị sát hại, Ngô Quyền lại từ châu Ái kéo quân ra, đánh tan cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của quân Nam Hán vào năm 938, chấm dứt “đêm trường Bắc thuộc”, chính thức đưa dân tộc ta đi vào thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn