Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Từ chiến khu xuống đồng bằng – Mở rộng lực lượng, đẩy mạnh phong trào

Sau Hội nghị Tỉnh ủy lâm thời lần thứ nhất ở trung châu, phong trào cứu quốc lan rộng khắp tỉnh nhờ ảnh hưởng của khởi nghĩa Ba Tơ. Lực lượng vũ trang được tổ chức lại, chuyển dần về đồng bằng để xây dựng tự vệ, du kích dự bị, mở rộng căn cứ và bảo đảm tiếp tế. Song song với huấn luyện quân sự, công tác tuyên truyền được đẩy mạnh qua báo Chơn Độc Lập và Tạp chí Xung Phong, góp phần củng cố niềm tin quần chúng, chuẩn bị lực lượng cho cao trào cách mạng sắp tới.

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuộc khởi nghĩa nông thôn ở trung châu để chi viện cho Ba Tơ tuy không thực hiện được nhưng phong trào cứu quốc phía bắc cũng như phía nam nhờ phát huy ảnh hưởng cuộc khởi nghĩa Ba Tơ đã đánh thức mọi tầng lớp nhân dân, nhất là anh em cựu chính trị phạm, tuyệt đại bộ phận đều hăng hái đứng lên hoạt động. Chỉ sau hai tuần lễ, những vùng có cơ sở trong thời kỳ bí mật đã phát triển các hội Cứu quốc, gần như toàn thôn đều tham gia. Không khí cách mạng sục sôi khắp các phủ huyện, không đủ cán bộ để hướng dẫn xây dựng phong trào.


Tỉnh ủy lâm thời triệu tập cuộc họp đầu tiên (ở trung châu) để thống nhất nhận định tình hình sau khởi nghĩa Ba Tơ, đề ra chủ trương mới.

Chúng tôi phân công anh Kiệt ở lại chiến khu để cầm quân, tôi về dự hội nghị. Từ Nước Lá ra nhà anh Tiễu, tôi đợi thuyền liên lạc xuôi dòng sông Vệ. Phía đông đầu cầu, bên hữu ngạn, có ánh đèn pin chớp lóe mấy lần trong bãi dâu. Thuyền từ từ cập bãi. Một thanh niên rảo bước trong đêm mờ vừa đến. Tôi nhận biết ngay đó là đồng chí Hinh, người bạn tù ở Gi Lăng, xa nhau đã năm năm trời. Anh nói nhỏ: Anh Lương giao cho tôi đón đồng chí! Cái vui mừng trong hoàn cảnh bí mật không nói bằng lời mà chỉ qua bốn bàn tay siết chặt lấy nhau.


Tôi theo anh về nhà một cơ sở làng Năng An. Cơm nước đã sẵn sàng bên ngọn đền dầu, trong gia đình im phăng phắc. Anh nói nhỏ khi tôi đang ăn: "Ngày mai đồng chí dậy sớm, cơm nước xong, tôi đưa đồng chí lên đầu cầu sông Vệ, sẽ đi trên một chiếc xe kéo của ta, vào đến cổng lớn bắc Đồng Cát, thì xuống xe. Có người cột khăn ở cổ tay trái đi trước thì đồng chí đi theo, để đến nơi họp hội nghị".


Đúng mờ sáng, trời mưa nhẹ hạt. Tôi lên đầu cầu, anh vẫy chiếc xe kéo, đưa tôi lên xe phủ bạt kín người. Ngồi trên xe nghe nhịp bước đều đều được hơn một cây số, tôi quan sát bên phải vệ đường. Một người thấp bé nhỏ con, vác một đon gánh cong cong, quấn một cuộn dây dừa như người thợ đi bán guốc ở thị trấn trở về. Qua dáng đi trong bộ quần áo cháo lòng, tôi ngơ ngợ như một người đã quen. Xe lướt nhanh qua ngang tầm, tôi nhìn kỹ, cũng vừa lúc người ấy ngước nhìn tôi. Ôi, anh Trương Quang Giao! Tôi muốn gọi tên anh nhưng kìm lại được. Anh giơ tay nói nhỏ "đi đi", và tôi thấy anh long lanh đôi mắt. Tôi cũng nghẹn ngào gạt nước mắt trong khi xe chạy. Thật tình nếu tôi không trở thành một người chiến sĩ đang bị quân thù truy tìm tiêu diệt, và ở một cảnh ngộ khác, tôi đã nhảy xuống xe để ôm chầm nhau.


Xe vào đến gần thị trấn, tôi buộc xuống, thì một người đi bộ cùng chiều lướt qua, cổ tay có cột khăn đúng ám hiệu. Tôi đi theo từ xa nhìn tới cũng thấy bộ dáng quen quen, qua khỏi thị trấn, trên đường vắng, anh mới quay mặt hỏi nhỏ: "Anh có khỏe không?". Thì ra là anh Trần Huy, người bạn đã từng nằm úp thìa chống lạnh và mưu toan khởi nghĩa hưởng ứng Nam Kỳ khởi nghĩa năm xưa ở Gi Lăng.


Về đến nhà anh gọi thợ hót tóc cho tôi để cái đầu bớt bù xù nham nhở vì những cuộc cắt tóc ăn thề với đồng bào dân tộc trong mấy tuần qua, làm cho mất cái dáng sống ở núi rừng, để hòa nhập vào làng người đồng nội.


Chiều hôm ấy đến vị trí để ngày mai họp hội nghị, vừa bước vào nhà, anh Giao ôm chầm hôn tôi, nước mắt lại trào ra. Anh nghẹn ngào nói: "Tao thấy mày mặt mày gầy tóp, tóc tai phủ cổ, tao thương quá. Tao biết anh em đã phải đương đầu biết bao nhiêu gian khổ hy sinh, mà chúng tao chưa làm được gì nhiều để chia sẻ với anh em nên tao khóc đấy!". Ôi, tình đồng chí sao mà thiết tha sâu sắc đến thế! Sâu sắc hơn cả mọi thứ tình yêu trong con người chúng tôi lúc bấy giờ!


Sống với anh Giao trong một tổ chức cách mạng ở Ba Tơ hơn một năm trời, tôi cảm phục tinh thần cách mạng, ý chí xả thân vì sự nghiệp cách mạng của anh, đến mức mỗi khi đau ốm nguy kịch anh vẫn không quan tâm đến sinh mệnh của mình. Lối sống đạo đức gần như khổ hạnh của anh, tình cảm nồng cháy của anh đã hút anh em đồng chí thật mãnh liệt!


Khi họp ở Suối Loa, anh nằng nặc xin cho ở lại, nhưng tổ chức đã phân công cho anh đi tìm đường liên lạc với Trung ương, với Xứ ủy. Anh chia tay với chúng tôi nhưng ngay ngáy lo âu cho chúng tôi có hoàn thành nhiệm vụ được không, vì đây đâu phải việc đã từng làm mặc dù có anh Kiệt, một đồng chí đã được rèn luyện gần 15 năm trong lò đế quốc, và đã được đồng chí Hồ Tùng Mậu, Trương Văn Linh truyền thụ những bài học quân sự từ trong nhà lao Buôn Ma Thuột. Còn tôi, một đảng viên trẻ, chưa từng thử thách qua một nhiệm vụ quan trọng nặng nề quyết liệt liệu có hoàn thành được nhiệm vụ hệ trọng của người chính trị viên nắm vững đường lối chủ trương của Đảng trong những lúc cần độc lập, quyết đoán hay không? Vả lại sức khỏe tôi, như một thư sinh ấy, có chịu đựng nổi rau rừng củ chuối không? Anh đã lo quá đỗi. Bây giờ, khi mọi việc đã qua, anh vui mừng khôn xiết. Mừng cho sự thành công, mừng cho anh em đồng chí đều được vẹn toàn, mừng cho đội du kích cứu quốc đầu tiên đã trưởng thanh. Đấy là những tâm tư mà anh đã thổ lộ với tôi trong buổi đầu gặp lại.


Đến tối thì các anh Lương, anh Khế cùng đến. Qua những giây phút ôm chầm siết chặt tay nhau, bốn chúng tôi trao đổi ý kiến về việc bổ sung Tỉnh ủy lâm thời, để có thêm cán bộ lãnh đạo theo kịp phong trào đang bột phát trong toàn tỉnh.


Anh Khế, anh Giao giới thiệu anh Nguyễn Chánh mới từ căng an trí Ly Hy (Thừa Thiên) về đã tham gia hoạt động ở Sơn Tịnh và anh Nguyễn Khiển (sau lấy bí danh là Chót) người anh ruột của tôi, là cán bộ trung kiên bí mật ở miền tây Sơn Tịnh của Ủy ban vận động cách mạng Ba Tơ đã tham gia vận động mở rộng phong trào có hiệu quả.


Anh Lương phụ trách phía nam giới thiệu đồng chí Hồng Châu (ở Mộ Đức), anh Ruộng (ở Đức Phổ) đã tham gia đây mạnh phong trào trong huyện, có nhiều thành tích. Chúng tôi đều nhất trí bổ sung bốn đồng chí vào Tỉnh ủy lâm thời, đồng thời xác định mở rộng Ủy ban vận động cứu quốc Quảng Ngãi, có các đồng chí Hồ Thiết, Trần Huy, chị Trinh (vợ anh Chánh), cụ Nguyễn Công Phương, đồng chí Sa ở Bình Sơn, đồng chí Bùi Bình, Bùi Định.

Sáng hôm sau làm lễ chào cờ và khôi phục Đảng tịch cho các đồng chí được bổ sung vào Tỉnh ủy lâm thời xong, chúng tôi tiến hành hội nghị Tỉnh ủy lâm thời lần thứ nhất ở trung châu.


Tôi báo cáo toàn bộ công tác diễn biến từ sau hội nghị bất thường tại Suối Loa: Cuộc khởi nghĩa tuyên bố thành công lập chính quyền, thành lập đội du kích cứu quốc quân, cuộc chuyển quân ra xây dựng căn cứ Cơ Nhất, kết quả phát động xây dựng lực lượng quần chúng dân tộc trong căn cứ địa, tình hình nội bộ đội du kích cứu quốc quân, khả năng liên lạc tiếp tế.


Anh Lương báo cáo tình hình phong trào phát triển 6 phía nam từ sau ngày Ba Tơ khởi nghĩa, các tổ chức cứu quốc đang phát triển nhanh chóng ở các huyện. Thái độ anh em cựu chính trị phạm hăng hái hưởng ứng. Tình hình Nhật và ngụy quyền ở xã, thôn và bọn tay sai đang tích cực giành quần chúng với ta, nhưng triển vọng ta sẽ tập họp lực lượng đông đảo và từng bước làm tê liệt chính quyền địch ở nông thôn...


Anh Khế báo cáo tình hình phong trào phía bắc, các huyện Sơn Tịnh, Bình Sơn và bắc Tư Nghĩa đang phát triển mạnh, anh em cựu chính trị phạm đều nhận nhiệm vụ hoạt động. Còn vài đồng chí có tư tưởng cơ hội cho rằng dựa vào Nhật để nó trao quyền độc lập là lợi hơn. Manh động như Ba Tơ là tự thiêu thân, nếu không giải tán sẽ bị Nhật mổ bụng moi gan... Tuy vậy triển vọng đấu tranh chống độc lập giả hiệu để giành giật quần chúng là nhất định được, vấn đề phải phát huy ảnh hưởng Ba Tơ thật sâu rộng trong quần chúng...


Tỉnh ủy đánh giá cao tác động của cuộc khởi nghĩa và đội du kích cứu quốc quân ra đời. Bài học kinh nghiệm về phát động quần chúng chuấn bị vũ trang bạo động. Việc tranh thủ thời cơ, đánh giá tinh thần địch, và chọn yếu điểm để đập tan chính quyền ngay từ đầu. Việc kết hợp uy lực quần chúng với đội xung kích kiên cường và công tác binh vận đều là những bài học kinh nghiệm quý báu cần tổng kết.


Tỉnh ủy cũng xác định chuyển chính quyền bí mật nửa công khai, và chuyển quân ra xây dựng căn cứ địa là đúng thời điểm cần thiết, sớm hơn không tốt, mà chậm nữa không lợi, dễ mất quyền chủ động. Việc tiến hành công tác dân vận xây dựng cơ sở chính trị trong vùng căn cứ cần phải làm sâu rộng vững chắc hơn nữa. Việc lãnh đạo tư tưởng xây dựng kỷ luật và tích cực huấn luyện học tập kỹ chiến thuật rèn luyện tinh thần chiến đấu cần làm thường xuyên liên tục. Vấn đề tồn tại quan trọng nhất là tiếp tế vật chất và bổ sung thanh niên, tạo thêm vũ khí là những vấn đề lớn phải tập trung giải quyết mới nhanh chóng phát triển được lực lượng. Cuối cùng Tỉnh ủy lâm thời quyết nghị biểu dương lực lượng tham gia khởi nghĩa và đội du kích cứu quốc quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Hội nghị cũng quyết nghị chương trình hành động cấp bách, phát huy mạnh mẽ ảnh hưởng khởi nghĩa Ba Tơ để đẩy mạnh phong trào rộng khắp ở nông thôn và thành thị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đảm bảo tiếp tế cho lực lượng vũ trang và mở rộng xây dựng căn cứ địa miền núi. Phải gấp rút tổ chức cơ quan thường trực của Đảng và Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh, lập cơ quan biên soạn, in ấn tài liệu Việt Minh và các hội quần chúng. Chuẩn bị điều kiện ra tờ báo để tuyên truyền đập tan luận điệu độc lập giả hiệu của bọn Trần Trọng Kim. Ra sức thuyết phục, lôi kéo cán bộ đảng viên cũ ra hoạt động.


Hội nghị giao cho tôi ghi lại lời tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng Ba Tơ để thường vụ duyệt và cho phát hành.

Hội nghị cử đồng chí Nguyễn Chánh tăng cường vào ban lãnh đạo lực lượng vũ trang, trực tiếp phụ trách chính trị ủy viên, tôi làm phó. Ngày hôm sau họp Ủy ban vận động cứu quốc Quảng Ngãi gồm các đồng chí trong Tỉnh, ủy lâm thời và các đồng chí trong danh sách bổ sung để triển khai thực hiện chương trình hành động do Tỉnh ủy thông qua.


Anh Chánh lúc này người còn gầy yếu vì chế độ khắc nghiệt của căng Ly Hy và phải thu xếp việc nhà với chị Trinh, nên hẹn với tôi sau một tuần nữa sẽ bố trí đón anh lên chiến khu.

Các ngả đường vào Cơ Nhất đều cắm lá, cấm nội bất xuất ngoại bất nhập vẫn giữ nghiêm. Lúa chín vàng trên cánh đồng đang được cắt đạp, không khí náo nhiệt trong các nhà lúa giữa đồng. Việc mua đổi lương thực các già làng đang thu dọn cất giấu trong các nhà kho ở mé rừng. Tình hình trong căn cứ hoàn toàn bình yên, ổn định. Lực lượng ở Nước Lá vẫn thường xuyên làm công tác dân vận, vẫn có mặt đó đây trong nhân dân.


Người liên lạc đón anh Chánh lên chiến khu lúc trời gần trưa. Anh Chánh bước đi chậm chạp, vì hai chân anh còn sưng tấy ghẻ lở từ Ly Hy mang về chưa lành hẳn. Toàn đội du kích cứu quốc quân đang tập họp quây quần chờ đón anh trên những thảm đá được nước lũ bào mòn trong dòng suối. Cuộc trò chuyện vui cười sôi động. Anh Chánh kể lại từ ngày chia tay ở nhà lao Quảng Ngãi, anh bị đày lên Buôn Ma Thuột, mãn năm năm tù địch đưa anh an trí ở Ly Hy rồi về nhà lao Huế. Cho đến ngày Nhật lật Pháp, anh tự giải phóng về nhà. Rồi vừa ăn cơm vừa nói chuyên. Anh thì nhạo báng việc thực dân Pháp chuẩn bị đánh Nhật nhưng khi một tiểu đội Nhật chạy bắn lung tung bên ngoài trại lính khố đỏ thì chỉ huy Pháp và mấy trăm quân hoảng hốt vọt tường mà chạy. Anh thì chửi đổng thằng giám binh thực là "Cà cuống chết đến đít còn cay". Không chịu giao vũ khí cho ta đánh Nhật, còn bảo đi lên Kông Lông làm tay sai cho nó... Một bầu không khí vui vẻ hả hê như một bầy trẻ đang cắm trại trong rừng, hòa lẫn tiếng âm vang của thác nước tuôn trào qua khe đá.


Cuộc hàn huyên kết thúc, toàn đội hội nghị báo cáo tình hình để anh Chánh nắm rõ mọi mặt. Tiếp đến cuộc hội nghị chi bộ giữa ba chúng tôi và anh Chánh. Sau khi đánh giá sự lãnh đạo của chi bộ trong thời gian qua, đề ra việc phát triển đảng viên, kiện toàn chi bộ để tăng cường sức mạnh lãnh đạo chiến đấu của Đảng. Nhìn chung qua thử thách trong nhiệm vụ, đối với số đảng viên cũ đều có thể xét khôi phục Đảng, nhưng trước mắt quyết định khôi phục hai đồng chí Phan Hùng (tức Phong) và Nguyễn Niên (túc Hường) trước. Số còn lại tăng cường bồi dưỡng lý tưởng sẽ khôi phục sau.


Cuộc họp ban chỉ huy cũng bàn phương hướng mở rộng căn cứ địa ra các vùng Minh Long, Sơn Hà và phía nam Ba Tơ tạo điều kiện phát triển sang An Lão... đảm bảo cho lực lượng cơ động rộng rãi ra ngoài khu vục Cơ Nhất. Mặt khác đề nghị Tỉnh ủy chuẩn bị cơ sở để chuyển dần lực lượng vũ trang về đồng bằng, nhằm phát triển tự vệ và du kích dự bị để mở rộng lực lượng được nhanh chóng hơn.
Lúc này bọn Nhật đã bố trí một toán quân chiếm giữ đồn Ba Tơ và một đội bảo an binh do đội Bá đóng ở Trường An. Bọn chúng bắt đầu săn lùng tin tức của đội quân an trí. Chúng thường kiểm soát ghe thuyền trên dòng sông và bắt bớ tra hỏi những người chúng nghi có liên lạc tiếp tế cho lực lượng du kích. Vì vậy chúng tôi chuẩn bị chuyển quân thay đổi địa điểm. Tiếp đến, được tin từ cơ sở ở Ba Tơ và Trường An đều báo bọn quân Nhật và lính bảo an của quản Trân chuẩn bị hành quân lùng quét vùng Cơ Nhất. Lập tức lệnh báo động toàn đội sẵn sàng chiến đấu theo kế hoạch đã chuẩn bị. Mãi đến chiều các tổ cảnh giới từ xa đều báo tin chưa thấy bóng địch xuất hiện.


Ban chỉ huy hội ý thống nhất quyết định chủ động chuyển quân về phía đông dãy núi Tai Meo, cử anh Chánh về báo cáo Tỉnh ủy chủ trương cho chuyển quân về đồng bằng, vừa tránh địch truy lùng vừa phát triển lực lượng được thuận lợi hơn.

Cuộc hành quân bắt đầu, sau khi bố trí lương thực vũ khí cho một đồng chí đang ốm phải ở lại và giao cho đồng chí Niên chăm sóc, chuyển về cơ sở Trường An nuôi dưỡng.

Từ Nước Lá ngược triền núi qua các đồi tranh xen lẫn những cánh rừng non đầy gai góc, không có đường mòn, đoàn quân cứ nhắm hướng đông mà leo lên cao dần. Trong đêm tối, cứ hai người đi trước lây báng súng chận rạp lau lách cỏ gai mở đường cho đồng đội tiến theo, gặp những vùng sình lầy thì nắm tay nhau vượt qua cho khỏi lún chìm. Khát nước thì lấy nước mạch nhĩ mà uống. Càng về khuỵa càng thấm mệt, vẫn leo lên, leo mãi cho đến đỉnh bằng mới dừng chân. Xuyên mắt qua sương mù dưới bầu trời đầy mây, đã thấy cánh rừng triền núi phía đông không xa. Đoàn quân được dừng lại nằm trên bãi cỏ tranh, vẫn ngủ ngon lành trong gió lạnh. Đến khi đồng chí gác báo thức khi trời bừng sáng, mọi người thức dậy mới thây quanh mình đầy vắt, hút máu no tròn như trái sim chín mọng. Đoàn quân lại lên đường trượt dần xuống núi tiến vào rừng sâu, tìm khe nước để tạm trú quân.


Qua mấy ngày địch hoành hành ở Trường An, ngăn cản tiếp tế, lúa ở Cơ Nhất chưa làm ra gạo, nên hành quân đến đây mỗi người trong ruột nghé chỉ còn vài lon gạo, phải độn củ rừng và hoa chuối. Tôi và anh Phan Phong phải cấp tốc đi tìm cơ sở để tổ chức tiếp tế và đưa anh Chánh về Tỉnh ủy.


Đứng trên cửa rừng nhìn xuống Suối Bùn, tôi tưởng đi đến chiều là đến nơi, nhưng đi mãi, ruột đói cồn cào, mặt trời đã lặn mà còn ở trên triền núi cao. Tôi và anh Phong quyết định phải dừng lại sáng mai sẽ đi tiếp. Tìm khe nước uống và hái rau rừng nấu ăn trừ bữa tối nhưng đánh diêm xòe lửa mà không cháy, que diêm cuối cùng anh Phong đánh cũng không thành công. Chúng tôi cươi xoa - trời hại ta, trời hại ta - nhưng hại sao được, không ăn rau chín thì ta ăn rau sống vậy. Nhờ những đọt rau sủng vừa chua lại vừa cay the thé nên cũng đẩy được các thứ "đặc sản" khác vào bụng ngon lành.


Ăn xong chúng tôi tìm được ngôi nhà trời cho, một bên vách đá tấn phía bắc, một bên chùm chà là đầy gai tỏa kín phía nam, cọp hùm cũng vất vả mới vào được. Thế là chúng tôi chui vào chia nhau mỗi người cầm súng gác nửa đêm, vừa làm lò sưởi cho bạn nằm co ôm lưng người ngồi mà ngủ.


Trời vừa sáng thì chúng tôi lại tiếp tục nhằm hướng đông đi xuống vượt qua sông, tìm nhà người bạn tù năm xưa mà đến. Anh Tứ thấy chúng tôi vừa lạ lại vừa quen quen, anh ngạc nhiên mời vào nhà, một chốc anh mới nhớ ra: Anh Khâm phải không?

- Đúng đây - Tôi trả lời.

Lúc này anh đã ở trong hội nông dân Cứu quốc, tôi nói mọi yêu cầu cần thiết để anh đi báo cáo cho anh Hiếu là bí thứ Cứu quốc ở vùng này, đã tham gia cách mạng phong trào 1930,- 1931 và phong trào dân chủ 1937. Từ năm 1943, Ủy ban vận động cứu quốc Ba Tơ đã tổ chức anh vào hội nông dân Cứu quốc. Vì vậy được tin tôi báo tình hình đội du kích cứu quốc đã chuyển quân tạm trú ở núi Tai Mèo, anh Hiếu lập tức chặt muỗng đường cát nấu một nồi khoai lang, mang lên địa điểm tôi chỉ để tiếp tế, ở nhà chị và mấy hội viên phụ nữ Cứu quốc cấy lúa làm gạo nấu cơm, vắt cho toàn đội mỗi người hai vắt, ăn tối và ngày mai. Anh Tứ bố trí người dẫn đường để vượt sông Vệ sang suối Chí, địa điểm trú quân tạm thời ở phía bắc núi lớn.

Đầu hôm, trời tối đoàn quân xuống khỏi núi, chị Hiếu đón đường đưa cơm, rồi vượt sông Vệ, dò dẫm đi vào rừng ngược dòng suối Chí.

Anh Chánh dặn dò rồi chia tay, theo anh Hiếu xuống ghe xuôi về Đức Tân để báo cáo với Tỉnh ủy.

Đồng chí Niêm sau khi đưa người ốm giao cho cơ sở, cùng tìm về gặp nhau ở suối Chí, đồng chí báo cáo: Bọn Nhật khá đông cùng với bảo an binh của quản Trần và quân lu loa của tên tổng Nguối (dân tộc) ngày hôm sau mới dò dẫm vượt bến Buông tiến vào Cơ Nhất, bắt đồng, bào tra hỏi đội quân an trí, đồng bào trả lời không biết.


Chúng bắt chánh Run tra hỏi, ông bình tĩnh trả lời: Từ ngày chiếm đồn Ba Tơ, an trí kéo lên núi Cao Muôn, họ có xuống làng một bữa, họ đến rồi đi như ma ai mà biết được. Chúng uy hiếp tinh thần, lấy gươm cứa cổ chảy máu, ông thét vào mặt chúng: "Tao già rồi có chết cũng được, nhưng tao chết thì con cháu tao nổi lên thì các ông chịu lấy". Không tìm được manh mối gì, chúng lẩn quẩn hù dọa nhân dân, nhưng sợ bị đánh úp, nên đến xế chiều chúng rút quân.


Qua hai ngày chờ đợi, anh Chánh trở về, truyền đạt chủ trương của Tỉnh ủy đồng ý chuyển quân về các huyện đồng bằng.

Ban chỉ huy quyết định chia làm hai bộ phận. Bộ phận về phía bắc gồm các đồng chí: Khoách, Phong, Lựu, Đồng, Thứ, Điệt, Súy, Mộc, Cả, Nhíp (Ngót).

Bộ phận về phía nam gồm các đồng chí: Đức (Lạc), Hoa (Niên), Phước, Trinh Anh, Dũ (Lầu), Nhạn (Cừ), Xuân, Hoa.

Anh Chánh, Kiệt và tôi chịu trách nhiệm yểm hộ đưa toàn bộ vũ khí xuống ghe chuyển về cơ sở, theo đường sông, còn anh em cải trang chia từng tổ đi bộ ban ngày theo ám hiệu tiếp đón ở địa điểm định trước.


Trời chiều, toàn đội chuyển ra cửa rừng, chờ cho tới bắt đầu ra sông. Theo ám hiệu, chiếc ghe chở vũ khí ghé vào bờ, những bó xác mía được bốc lên, cho súng vào giữa rồi bó kỹ phủ kín cả hai đầu. Chỉ để vài khẩu súng trường và tiểu liên trên sạp thuyền, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, còn bao nhiêu cho xuống khoang thuyền giấu kín.


Trăng vừa lóe ánh hồng phía đông núi Lớn. Ba chúng tôi xuôi dòng vượt qua thị trấn Suối Bùn đến quận lỵ Nghĩa Hành, nơi có bót gác kiểm soát ghe thuyền. Đồng chí lái thuyền nhẹ đưa mái chèo êm ru lướt qua cửa ải. Ba chúng tôi thở phào như trút gánh nặng trên vai. Cái gánh nặng vô giá mà chúng tôi đã lớp lớp hy sinh mới giành được, vì vậy mà chúng tôi quyết tâm sống chết cùng nó, khi vượt qua cửa ải của quân thù, nếu phải nổ súng.

Cắm thuyền giữa sông gần đập Bến Thóc, chờ cho trời tối, mới nhích thuyền vào bờ gần trại tằm, anh Hồ Thiết vác những bó xác mía phần của đơn vị phía nam, còn một nửa tiếp tục đưa ra phía bắc. Sáng hôm sau tôi theo đường xe lửa vào ga Hòa Vinh Tây thì gặp anh Huy đón đưa về Thiết Trường. Từ đó vùng Thiết Trường trở thành vùng chủ huy sở của đội Hoàng Hoa Thám.


Việc trước tiên là bố trí phân tán anh em về cơ sở an toàn bí mật, và nêu cao tinh thần kỷ luật quân nhân, tuyệt đối không ra khỏi nhà, chờ nhiệm vụ truyền đạt sau.

Cuộc họp Tỉnh ủy lâm thời lần thứ hai tại thôn Thiết Trường ngoài phần kiểm điểm tình hình để đẩy mạnh phong trào, đặc biệt giải quyết vấn đề phát triển lực lượng vũ trang.

Tỉnh ủy quyết định tổ chức ban vận động tài chính và ban quân nhu tiếp tế cho lực lượng vũ trang.

Tổ chức ban chỉ huy quân sự toàn tỉnh gồm anh Chánh trưởng ban, anh Kiệt và tôi làm phó ban.

Lập ban biên tập báo chí, xuất bản tờ Chơn độc lập để đập tan luận điệu độc lập giả hiệu của bọn thân Nhật.

Ban quân sự chúng tôi họp, quyết định phương thức phát triển lực lượng ở đồng bằng. Xây dựng lực lượng tự vệ trên cơ sở hội nông dân và thanh niên Cứu quốc, chọn những phần tử hăng hái nhất, khỏe mạnh nhất kết nạp vào đội tự vệ.


Giao nhiệm vụ cho các đồng chí đội viên du kích Cứu quốc Ba Tơ đã phân tán trong cơ sở, giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự cho tự vệ.

Trên cơ sở lực lượng tự vệ phát triển và kinh qua giáo dục huấn luyện, thử thách trong công tác, mà chọn lọc tổ chức thành từng tổ du kích dự bị để chuyển lên bổ sung cho lực lượng du kích Cứu quốc quân tập trung.


Ban quân sự cũng quyết định xây dựng căn cứ du kích phía bắc ở vùng ven núi thuộc Vĩnh Sơn... và căn cứ du kích Núi Lớn ở phía nam để làm hậu phương trực tiếp cho hai đội du kích Cứu quốc tập trung. Đồng thời tổ chức các ban quân nhu tiếp tế ở các huyện do đoàn thể cứu quốc cử cán bộ phụ trách, phối hợp với cán bộ của đội du kích, chuyên lo huy động và tiếp nhận chu cấp cho lực lượng tập trung.

Những ngày cuối tháng 5 năm 1945 phong trào quần chúng lên đều khắp nông thôn, thì lực lượng tự vệ xã thôn cũng lớn mạnh theo, và các tổ du kích dự bị cũng phát triển ngày càng nhiều.

Sau khi Tỉnh ủy phát hành tờ báo Chơn độc lập phổ biến trong các hội cứu quốc, thấy phong trào vũ trang đang lên mạnh, thường vụ và ban quân sự quyết định tổ chức xuất bản một tơ báo bỏ túi cho lực lượng vũ trang, lấy tên là Tạp chí xung phong. Anh Chánh, anh Kiệt và một số đồng chí viết bài. Tôi phụ trách biên soạn và in ấn phát hành.


Công việc thường xuyên của đồng chí trong ban quân sự tỉnh là kiểm tra động viên giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự của các đồng chí du kích Ba Tơ bố trí ở từng vùng, để phát triển tự vệ và du kích dự bị có chất lượng tốt.


Để hợp pháp hóa, tôi thường đóng vai thanh niên đi làm rể. Với chiếc áo dài đen, mũ cối trắng, tay cầm dù (trang phục thanh niên bấy giờ), cùng chú bé Chơn hơn mười tuổi, xách quà bánh đi trước dò đường. Không biết bao nhiêu lần qua tại Thi Phổ, Minh Tân, Đạm Thủỵ, Văn Trường, Hùng Nghĩa, Tân Lâm, Mỹ Trang, Mỹ Á để động viên thanh niên Cứu quốc hiểu rõ nhiệm vụ, tình nguyện tham gia tự vệ, du kích sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc...


Những đêm thanh vắng, sóng bể dạt dào và hàng phi lao vi vút, những bàn chân rập bước một - hai trên đồi Văn Bâng hay trên bãi cát Đạm Thủy của đội tự vệ nông thôn, lòng tôi tràn đầy phấn khởi. Liên tưởng đến 15 năm trước, tôi đã được xem như thế, mà giờ đây tôi lại đóng vai người lãnh đạo phong trào, nên niềm tin ý thức trách nhiệm càng thúc giục phải trăm phần chu đáo hơn trên bãi tập, để ngày mai đỡ đổ xương máu trên chiến trường... Những mái nhà tranh của anh Bình, anh Ruộng, anh Trắc... là chỗ trú đêm khuya với những bữa ăn bồi dưỡng vài bát cơm độn với khoai, một đĩa cá tép là những bữa ăn mặn nồng tình đồng chí, đến nay tôi vẫn nhớ như in.


Trở về Thiết Tường lại viết, lại in, cố gắng cho tờ Tạp chí xung phong sớm chào bạn đọc. Cái khó là làm sao có vài hình vẽ ký họa cho tăng thêm gợi cảm với bạn đọc. Tôi hý hoáy vẽ hình ảnh một nhóm du kích đang tập trong rừng thưa, và đề câu thơ chiến đấu: "Còi xung phong mỗi khi thúc giục. Dù chông gai bom đạn cũng không sờn" thay cho lời phi lộ.


Tờ báo số một được phát hành, đề rõ in tại nhà in Cao Muôn, được toàn thể độc giả trong lực lượng vũ trang và các cấp Việt Minh hoan nghênh nhiệt liệt. Để mở rộng khuôn khổ bài vở và có người chuyên trách, anh Chánh quyết định điều động đồng chí Phan Tâm về phụ trách tờ báo. Từ đó được ra đều kỳ (anh Tâm tức Chất bị tù từ Buôn Ma Thuột về tham gia đội du kích cứu quốc quân Ba Tơ khi xuống núi). Các em Nai, Dũng, Hoạt... đều là thư ký biên soạn in ấn phát hành (giờ đây Dũng, Hoạt đều là cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam). Nai đã hy sinh trong trận Sông Vệ ngày tổng khởi nghĩa.


Tôi lại đi kiểm tra phía bắc, từ Năng An, Long Phụng, Vạn Mỹ, Hoa Vinh lên núi Đình Cường... ở đây tôi gặp lại anh Nguyễn Duân, anh Nguyễn Thượng Tứ đang ngày đêm lo đẩy mạnh phong trào. Đến bãi tập ở đâu tôi lại nói bài rèn luyện ý chí chiến đấu trên thao trường, để ngày mai chiến thắng quân thù, đem lại độc lập cho Tổ quốc. Và mỗi người du kích dự bị phải hiểu rõ nhiệm vụ của mình, sẵn sàng thoát ly gia đình để gia nhập lực lượng du kích tập trung khi có lệnh, phải nâng cao tinh thần kỷ luật tự giác của lực lượng vũ trang cách mạng...


Sự phát triển tập luyện đã đến lúc phải tập luyện với khẩu súng thật, chứ không thể tập mãi với cây gậy tre và đâm chém với lưỡi dao phay được. Có hôm tôi hỏi kiểm tra một du kích dự bị đang tập ném lựu đạn, rút chốt vung tay ném, rồi nằm xuống. Anh trả lời: tôi tưởng tượng như rút ống bơm xe đạp, cho lựu đạn dài ra rồi ném tới phía trước. Không có vũ khí thật, không hình dung được thực tế.


Từ đấy tôi quyết định phải đưa du kích dự bị lên chiến khu tập với vũ khí thật. Nhưng vũ khí đâu có nhiều. Phía bắc cũng như phía nam mỗi bên chỉ hơn vài chục khẩu súng, cho nên phải tổ chức tập luân phiên từng đợt. Mặt khác phải tổ chức lò rèn và tìm kỹ thuật viên cơ khí để sửa chữa súng đạn hư hỏng và rên dao bảy để trang bị thêm (dao dài 7 tấc vừa chém vừa đâm, được phong trào Duy Tân bạo động gọi là dao TU).


Thế là chúng tôi phải rút một số đồng chí về Núi Lớn chuẩn bị vị trí ăn ở, thao trường và vũ khí để sẵn. Đồng thời quy định cho du kích dự bị phải mang lương thực 10 ngày ăn và nồi niêu mắm muối.

Được tập luyện với khẩu súng thật, cây gươm, con dao thật anh em rất phấn khởi, tin tưởng và trưởng thành. Khi tổ chức thành từng tiểu đội, trung đội, sức mạnh lòng tin càng cao.

Hết phiên tập, phân tán trở về, tôi dặn dò kỷ luật, bí mật, nhưng du kích dự bị phải báo cáo cho cán bộ đoàn thể nghe. Thế là "tai vách mạch rừng", chẳng bao lâu tai rỉ tai, miệng truyền miệng, đồng bào người người đều hớn hở tin tưởng lộ ra mặt "phen này nhất định thắng, không như tự vệ đỏ năm ba mươi". Phong trào nông thôn càng sôi động.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn