Từ chiến trường đến bàn đàm phán: Đòn tiến công ngoại giao mở ra thế trận “vừa đánh, vừa đàm” năm 1967
Từ chiến trường đến bàn đàm phán: Đòn tiến công ngoại giao mở ra thế trận “vừa đánh, vừa đàm” năm 1967
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bên cạnh những thắng lợi trên chiến trường, đấu tranh ngoại giao giữ vai trò quan trọng trong việc tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, làm thất bại các âm mưu ngoại giao của đối phương và tạo thế thuận lợi cho cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Năm 1967 đánh dấu một bước phát triển quan trọng khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ động mở đòn tiến công ngoại giao, đặt nền móng cho phương châm kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao – tiền đề dẫn tới thắng lợi của Hiệp định Paris năm 1973.
Sau hơn một thập kỷ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ ngày càng mở rộng quy mô chiến tranh, đưa quân viễn chinh trực tiếp tham chiến ở miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân đối với miền Bắc. Trước tình hình đó, Đảng ta xác định đấu tranh ngoại giao là một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược nhằm vạch trần bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, tranh thủ sự đồng tình của dư luận quốc tế và phối hợp chặt chẽ với các mặt trận quân sự, chính trị.
Ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam đã chủ động thể hiện lập trường hòa bình, độc lập và chính nghĩa. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhiều lần công bố quan điểm rõ ràng: Mỹ phải chấm dứt hành động xâm lược, ngừng ném bom miền Bắc, rút quân khỏi Việt Nam và tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam. Những tuyên bố này đã góp phần làm sáng tỏ trước dư luận quốc tế đâu là chính nghĩa, đâu là lực lượng xâm lược trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam.
Trong khi đó, chính quyền Mỹ đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về cái gọi là “thiện chí hòa bình”, tìm cách che giấu trách nhiệm của mình trong việc mở rộng chiến tranh. Trước âm mưu đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên trì đấu tranh ngoại giao, kết hợp giữa việc tố cáo hành động chiến tranh của Mỹ với việc nêu cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dân tộc và quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam.
Bước ngoặt quan trọng diễn ra đầu năm 1967. Trên cơ sở đánh giá tình hình quốc tế và tương quan lực lượng, Trung ương Đảng chủ trương đẩy mạnh tiến công ngoại giao, chủ động đưa ra những thông điệp rõ ràng nhằm buộc Mỹ phải đối diện với yêu cầu chấm dứt chiến tranh. Ngày 28/1/1967, trong cuộc trả lời phỏng vấn nhà báo Australia Wilfred Burchett, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì hai bên mới có thể tiến hành nói chuyện với nhau.
Tuyên bố ngày 28/1/1967 trở thành một đòn tiến công ngoại giao quan trọng của Việt Nam trên trường quốc tế. Lập trường chính nghĩa, minh bạch của Việt Nam nhanh chóng nhận được sự quan tâm của dư luận thế giới. Nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và các lực lượng tiến bộ đã lên tiếng kêu gọi Mỹ chấm dứt chiến tranh, ngừng các hoạt động quân sự chống Việt Nam.
Sự kiện này cũng tạo ra những chuyển biến quan trọng trong phong trào phản đối chiến tranh tại Mỹ và nhiều nước trên thế giới. Các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam ngày càng lan rộng, tạo sức ép lớn đối với chính quyền Mỹ. Nhiều nhà lãnh đạo quốc tế cũng lên tiếng kêu gọi tìm kiếm giải pháp hòa bình, thúc đẩy việc chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.
Đòn tiến công ngoại giao năm 1967 cho thấy sự kết hợp linh hoạt giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, giữa đấu tranh trên chiến trường và đấu tranh trên bàn đàm phán. Việt Nam không chỉ kiên quyết bảo vệ mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước mà còn chủ động tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho cuộc kháng chiến.
Từ bước mở đầu quan trọng này, mặt trận ngoại giao Việt Nam từng bước phát triển, góp phần hình thành quá trình đàm phán kéo dài tại Hội nghị Paris, để đi đến việc ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, buộc Mỹ phải rút quân, tạo điều kiện quan trọng cho sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.
Đòn tiến công ngoại giao đầu năm 1967 vì thế không chỉ là một sự kiện ngoại giao đơn thuần mà còn là dấu mốc thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nghệ thuật lãnh đạo cách mạng của Đảng ta trong việc kết hợp các mặt trận đấu tranh, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từng bước tiến tới thắng lợi cuối cùng.


