Tự hào chiến sĩ Điện Biên
Tôi có ý định viết về những người dân công hỏa tuyến, những thanh niên xung phong và các chiến sĩ tham gia Chiến dịch ĐIện Biên Phủ sớm hơn nhưng đến nay mới thực hiện được. 70 năm sau chiến thắng lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, hầu hết những người trực tiếp tham gia Chiến dịch ĐIện Biên Phủ đã già yếu, có những người đã đi xa nhưng những câu chuyện về một thời khói lửa hào hùng vẫn được tái hiện qua lời kể lại của những người thân trong gia đình như là một nhân chứng của lịch sử.
I
Gác lại mọi công việc, từ rất sớm tôi tìm đến gia đình ông Ba Phong – người chiến sĩ Điện Biên Phủ năm xưa, tại ngôi nhà số 175, khóm Tân Quới Đông, phường Trường An, thành phố Vĩnh Long. Anh Nguyễn Hữu Tuấn, 61 tuổi, là con thứ tư và cũng là con út của người chiến sĩ Điện Biên, cho biết: ông Ba Phong đã từ trần ngày 19/7/2022 khi mang quân hàm Đại tá, hưởng thọ 92 tuổi. 70 năm trước, ba anh: ông Nguyễn Xuân Phong, tên khai sinh: Nguyễn Hữu Quy, tên thường gọi: Ba Phong, sinh năm 1931; nguyên quán xã Mỹ Hương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, rằng anh rất tự hào về cha của mình là một chiến sĩ Điện Biên Phủ (1954). Năm đó, khi thực dân Pháp đổ bộ lên Điện Biên Phủ, người thanh niên ấy bước vào tuổi 18 (1949), đã thi đậu vào cấp 3 rồi, nhưng vẫn xung phong vào bộ đội, sau đó được đơn vị cử đi học ở Trung Quốc hai năm về quân sự và trở về công tác tại Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312. Đại đoàn 312 (nay là Sư đoàn 312, Quân đoàn 12) là một trong những đại đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam, từng tham gia nhiều chiến dịch lớn trước Chiến dịch ĐIện Biên Phủ như: Chiến dịch Trần Hưng Đạo (tháng 12/1950); Chiến dịch Lý Thường Kiệt (tháng 9/1951), Chiến dịch Hòa Bình (1952), Chiến dịch Thượng Lào (1953)... Tháng 12/1953, Bộ Chính trị quyết định đánh trận quyết chiến cuối cùng với Pháp tại Điện Biên Phủ, Đại đoàn 312 cùng với những đơn vị khác hành quân lên Tây Bắc để chuẩn bị cho chiến dịch.
Ngày ấy quân đội Pháp có máy bay, xe tăng, pháo lớn đã từng chinh chiến trên các lục địa Á, Âu, Phi. Trong khi đó, Quân đội nhân dân Việt Nam phần lớn hành quân bộ với những khẩu súng trường, và cho đến trận Điện Biên Phủ ta mới có một số khẩu lực pháo và hai loại cao sạ 37 ly và 12 ly 7. Như vậy, Chiến dịch ĐIện Biên Phủ của Quân đội Nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp bắt đầu từ 13/3/1954, bằng cuộc tấn công cụm cứ điểm Him Lam – nằm ở Đông Bắc lòng chảo Mường Thanh, được phía Pháp cho là "cánh cửa thép" của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Khi đó, ông Nguyễn Xung Phong đã được đề bạt giữ chức vụ Đại đội trưởng, rồi làm Trưởng ban tác chiến Trung đoàn 141, Sư đoàn 312, với quân hàm Thượng úy.
Trong đoạn phim ghi lại cảnh Đoàn Cựu chiến binh Trung đoàn 141 về thăm lại chiến trường xưa: Him Lam, mà anh Nguyễn Hữu Tuấn mở cho tôi xem, anh giới thiệu trong đó có ba anh và đông đủ các đồng chí đại diện Tiểu đoàn 11, 16, 428 về thăm lại nơi mình đã chiến đấu và chiến thắng. Mỗi người một câu chuyện. Một Cựu chiến binh ở Tiểu đoàn 11 thì nói về cứ điểm số 1 của Him Lam là do Tiểu đoàn 3 tăng cường của Lữ đoàn 13 Lê Dương chiếm đóng mà địch cho rằng đây Lữ đoàn bách chiến bách thắng, một Lữ đoàn mạnh nhất ở Đông Dương. Còn người Cựu chiến binh khác, ở Tiểu đoàn 16 thì cho biết, ở cứ điểm số 2 chúng đóng khoảng 1 đại đội. Và ở cứ điểm thứ 3 cũng khoảng 1 đại đội. Rồi một Cựu chiến binh khác cũng chen vào: Còn công sự của chúng ở đây thuộc công sự vững chắc và dây thép gai trên dưới khoảng 10 lớp rào và tất cả các cứ điểm này đều được máy bay và khoảng hơn 40 súng pháo cỡ 105 ly đến 155 ly từ Mường Thanh chi viện. Vì vậy, chúng coi cứ điểm Điện Biên Phủ là cái cánh cửa thép bất khả xâm phạm nhằm ngăn chặn lực lượng chủ lực của chúng ta tiến vào Him Lam. Theo lời kể của các cựu chiến binh Trung đoàn 141 về thăm lại chiến trường xưa, đúng 18 giờ 15 phút ngày 13/3/1954 các đơn vị của Đại đoàn 312 bắt đầu xung phong tiến đánh cụm cứ điểm trên đồi Him Lam. Khi Đại đội chủ công của Tiểu đoàn 428 tiến đánh và vừa mở xong hàng rào cuối cùng thì vấp phải một luồng đạn từ lô cốt tiền duyên không ngừng tuôn ra cửa mở. Đại đội dùng hỏa lực bắn thẳng của đơn vị kiềm chế hỏa lực địch, tiếp tục xung kích. Nhưng mãi vẫn không dập tắt được hỏa điểm. Tiểu đội trưởng Phan Đình Giót mau lẹ trườn lên dưới làn đạn, dùng tiểu liên bắn và ném lựu đạn về phía lô cốt. Khi anh tới gần lô cốt thì đạn và lựu đạn đã hết. Anh lao mình vào lỗ châu mai làm ngừng tiếng súng trong giây lát, tạo thời cơ cho bộ đội ta xung phong và cổ vũ toàn thể đồng đội. Anh trở thành một tấm gương hy sinh tiêu biểu cho Quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến thắng lịch sử tại Điện Biên Phủ.
Đến ngày 7/5/1954, Chiến dịch ĐIện Biên Phủ kết thúc. Và, trong quá trình xuất kích, chiếm lĩnh trận địa Him Lam như thế, một hình ảnh rất đẹp đẽ đó là Đoàn ca nhạc của Tổng cục Chính trị do đồng chí Đỗ Nhuận chỉ huy đã đứng lên chiến hào và ca hát bài “Qua miền Tây Bắc” (của nhạc sĩ Nguyễn Thành) để thúc giục quân ta ra chiếm trận địa.
Qua Miền Tây Bắc núi vút ngàn trùng xa,
Suối sâu đèo cao bao khó khăn vượt qua.
Bộ đội ta vâng lệnh Cha già về đây giải phóng quê nhà…
Đất nước miền Tây Bắc đau thương từ bao lâu dưới ách loài giặc tàn ác.
Quân với dân một lòng không phân biệt ngược xuôi.
Cùng đồng tâm tiêu diệt hết quân thù.
Anh Nguyễn Hữu Tuấn, là con trai thứ tư và cũng là con út của người chiến sĩ Điện Biên, chia sẻ: “Từ nhỏ, chúng tôi luôn được ba tôi kể những câu chuyện tham gia kháng chiến, đi Chiến dịch ĐIện Biên. Bên cạnh niềm tự hào, chúng tôi luôn coi đó là động lực để tiếp tục phấn đấu vươn lên tiếp nối truyền thống của thế hệ cha ông mình”.
II
Ông Phạm Văn Thoại
Cũng trong dịp này, tôi tìm đến thăm gia đình dân công hỏa tuyến từng tham gia Chiến dịch ĐIện Biên, đang sinh sống tại ngôi nhà số 35/1B, đường Hoàng Hoa Thám, khóm 5, phường 2, thành phố Vĩnh Long. Đó là ông Phạm Văn Thoại. Năm nay ông 95 tuổi (sinh năm 1929). Do tuổi cao sức yếu, vóc dáng ông không còn rắn rỏi, nhanh nhẹn và trí nhớ cũng giảm dần, lúc nhớ lúc quên. Nên khi ngồi kể chuyện cho ai đó nghe thì phải nhờ đến cô con gái út (Phạm Thị Ngữ) ngồi kế bên nhắc nhở hay “kiểm chứng” lại. Nhưng với tính cởi mở, chân tình, ông trò chuyện với tôi mà như đang ôn lại quãng đời thanh xuân đẹp nhất. Cái tuổi được lên đường tham gia một chiến dịch lớn như Chiến dịch ĐIện Biên Phủ mà tôi sắp đề cập tới, sẽ là một bước ngoặt tự hào của người trai trẻ trong cuộc kháng chiến chống Pháp để mang lại hòa bình, độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam.
Tôi ngồi bên bàn trà, còn ông ngồi bên cạnh, trên một chiếc ghế dựa bằng gỗ. Rồi bất chợt, không ai bảo ai, mà tất cả những đôi mắt trong nhà đều nhìn về chiếc Tivi 42 Inch đang phát sóng “chạy thử” chương trình Nghệ thuật đặc biệt kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, trong đó có nhiều tiết mục đặc sắc, được dàn dựng công phu, tái hiện những đoàn xe đạp thồ vận chuyển lương thực, hàng hóa cung cấp cho chiến dịch; hình ảnh hàng trăm chiến sĩ kéo pháo vào mặt trận Điện Biên Phủ; tái hiện trận Him Lam mở màn Chiến dịch ĐIện Biên Phủ… Ông chia sẻ: “Tôi rất tự hào vì được tham gia Chiến dịch ĐIện Biên Phủ”. Chị Phạm Thị Ngữ nhắc: “Còn cái tự hào nữa mà ba quên rồi sao?”. Ông nhớ lại: “Ờ, tôi tự hào vì từ lâu tôi là công dân làng chiến sĩ Điện Biên, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa nữa chứ!”. Tôi hỏi ông xung phong đi chiến dịch khi nào? Ông nói: “Khi tôi 24 tuổi, tức vào năm 1953. Thời điểm ấy, trong thôn, xã ai ai cũng xung phong ra trận. Với khát khao được góp sức cho Chiến dịch ĐIện Biên, ông xung phong vào dân công hỏa tuyến. Sau đó, ông được Chi bộ xã Hoằng Lộc cử làm Đội trưởng đội xe đạp thồ phục vụ Chiến dịch ĐIện Biên...
- Còn một chuyện “hay” nữa mà ba em quên kể đó anh.
Tôi hỏi:
- Là chuyện gì?
Cô con gái út nhìn lên bàn thờ gia tiên, nhắc:
- Là chuyện ông nội em, cái ông ngồi trên bàn thờ đó, đã phải ba lần viết đơn thư xung phong đi bộ đội nhưng cả ba lần đều không đạt yêu cầu, do người ta chê… già, vì “huốt” tuổi quy định (45 tuổi), ông nội em khóc như mưa vậy!
Trở lại câu chuyện kỳ diệu của chiếc xe đạp thồ phục vụ Chiến dịch ĐIện Biên Phủ, ông Phạm Văn Thoại cho biết: ban đầu, đội xe đạp thồ do ông phụ trách, có 120 dân công hỏa tuyến, Hội đồng cung cấp xã Hoằng Lộc giao cho mỗi người một chiếc xe đạp, đa số hiệu Phơ-gớt (hãng Peugeot). Khi đó, ai cũng tự hỏi, tại sao tự nhiên lại được cấp trên giao cho mình chiếc xe đạp? Bởi những chiếc xe đạp giao cho dân công thời ấy, là cả một gia tài lớn của một gia đình ở miền Tây Bắc. Bởi ngày ấy ở tại những xóm làng có người tham gia dân công hỏa tuyến, còn nghèo khó lắm, ít khi nhìn thấy được chiếc xe đạp. Vả lại thời năm 1953 - 1954 đời sống dân ta chưa dư giả, tài sản phương tiện chả có gì, xe đạp dùng rất hạn chế. Được vậy là mừng lắm! Thôi thì quên cả ăn uống, anh nào, anh nấy miệt mài tập xe. Bước đầu làm quen với chiếc xe hai bánh, nó không theo ý mình, mỗi người mải mê lo đạp, lo lái thẳng, rồi lại quay vòng... Cái lưng uốn éo theo xe, khi xe cong cong lượn vòng, vành miệng chụm lại chữ O. Mắt nhìn chăm chăm vào đường chạy, lúc nhìn vào bánh xe lăn... cứ nhìn vào bánh xe lăn là loạng choạng ngay, tiếng cười, tiếng la rộ lên... Một hai buổi tập là ai cũng biết đi… xe.
Chị Ngữ nói chen vào: “Mình nghèo rớt mùng tơi, lấy đâu ra tiền mua xe đạp”. Lời này của cô gái út, con ông Thoại, đã làm tôi suy tư về cuộc chiến tranh khốc liệt ấy, khi mà xe đạp thời đó không phải là một phương tiện thông thường, mà thường chỉ thuộc về những gia đình khá giả. Đối với người nông dân, đặc biệt là bần cố nông, việc sở hữu một chiếc xe đạp thồ là điều không thể mơ ước được. Điều này làm cho chiếc xe đạp thồ trở nên đặc biệt quý báu trong tình hình chiến tranh, khi mọi nguồn tài nguyên đều khan hiếm.
Đến một ngày…các thành viên trong đội, được mấy anh chỉ huy “đầu đội mũ nan, bọc vải căng lưới ngụy trang, đính những mảnh vải bằng dù”, phổ biến nhiệm vụ: Đội xe thồ xã Hoằng Lộc các anh, có nhiệm vụ nhận hàng tại điểm tập kết, là ở sân đình của xã Hoằng Lộc, rồi đưa lên xe đạp thồ lên đầu mí rừng tỉnh Thanh Hóa giáp tỉnh Hòa Bình, rồi từ đó có bộ phận khác đưa lên Điện Biên. Về biên chế của đội, được chia thành 6 tiểu đội; mỗi tiểu đội lại chia thành tổ “Tam tam” (3 người một xe), hỗ trợ nhau khi lên, xuống dốc. Khi xuống dốc, phải có một đồng chí cầm lái, một người sau kéo xe lại và một người đằng trước ghì tay lái xuống, để xe không lao xuống vực. Lúc lên dốc thì người cầm lái, người đẩy xe, người đi trước, buộc dây kéo vào người, vừa ghì, vừa kéo xe lên, tránh tình trạng xe bị lật ngửa. Trong khi đi như vậy, nhiều đôi chân trần tứa máu; tay thì phồng vọp hết da và mọng nước; vai thì sần chai. Gian nan, vất vả là thế nhưng không ai muốn nghỉ, không ai muốn mình tụt lại phía sau. Nhờ vậy, từ cuối năm 1953 đến tháng 3/1954 dân công Làng chiến sĩ Điện Biên thuộc xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã kế tiếp nhau vận chuyển hai lần lên chiến dịch với khối lượng hơn 1.000 tấn lương thực.
Ưu điểm của loại xe đạp thồ này là nhỏ gọn, cơ động lại không cần nhiên liệu, dễ sửa chữa, dễ ngụy trang, có thể di chuyển trên địa hình đồi núi dù là khó khăn nhất. Sử dụng xe đạp thồ vận chuyển cũng năng suất hơn nhiều so với gánh bộ. Thông thường, mỗi chiếc xe thồ có sức chở trung bình từ 50kg đến 100kg tương đương với sức mang của 5 người. Khi được gia cố thêm, xe đạp thồ có thể mang từ 200kg đến 300kg gạo. Với năng suất vận chuyển cao như vậy, những chiếc xe đạp thồ tưởng chừng thô sơ, vô hại lại trở thành “vũ khí đặc biệt” góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch ĐIện Biên Phủ. Đến ngày 7/5/1954, sau 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Không phải người Pháp không phát hiện ra những chiếc xe đạp thồ là nguồn vận chuyển chính cho Điện Biên Phủ mà những nỗ lực để ngăn chặn nó chưa bao giờ thực hiện được. Ký giả Jules Joy trong cuốn Trận Điện Biên Phủ đã viết: “Đã có hàng trăm tấn bom được ném xuống các tuyến giao thông và những con đường tiếp vận của Quân đội nhân dân Việt Nam nhưng chẳng bao giờ cắt đứt nổi những con đường ấy… Điều khiến Tướng Nava bị thua chính là những chiếc xe đạp thồ với những kiện hàng từ 200 đến 320kg được điều khiển bởi những con người ăn không thật no và ngủ thì nằm ngay trên những mảnh nilong trải trên đất”.
Năm nay, Điện Biên diễn ra kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ nên ông thường xuyên theo dõi tin tức, sự kiện. “Tuổi đã cao, không biết nay mai thế nào. Năm nay kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, cả nước hướng về Điện Biên. Bản thân tôi vinh dự được các cấp, ngành quan tâm, thăm hỏi, động viên. Nhiều đoàn công tác ở huyện thị khác cũng đến động viên, tặng quà, tôi rất cảm động”. Ông Thoại chia sẻ.
Thế hệ ông Phạm Văn Thoại và các đồng đội đã trở thành gạch nối giữa quá khứ với hiện tại, là câu chuyện chưa bao giờ cũ để thế hệ hôm nay mãi tự hào về truyền thống yêu nước của dân tộc.



