Từ một câu nói trong ngục tù
Từ một câu nói trong ngục tù
Trong ngục tù của thực dân, đồng chí Trịnh Văn Yên đã gặp đồng chí Lê Duẩn (lúc bấy giờ là Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ, bị bắt giam năm 1931). Qua một vài lần gặp gỡ, đồng chí Lê Duẩn đã nói với đồng chí Yên: “Chú là một người có tài về khoa học, hóa chất. Sau này nếu được tự do, hãy đem tài năng đó cống hiến cho cách mạng”. Chính câu nói đó đã tạo động lực, niềm tin để đồng chí Trịnh Văn Yên đem hết tài năng cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vinh quang.Trịnh Văn Yên (tên thật là Trịnh Vân Yên) sinh năm 1912 tại làng Vô Ngại (nay thuộc xã Dũng Nghĩa), huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình. Anh trai của ông là Trịnh Tam Tỉnh, Đại biểu Quốc hội khóa I, Chủ tịch UBND đầu tiên của tỉnh Quảng Ninh. Ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, mới 14, 15 tuổi ông đã bắt đầu nghiên cứu về chất nổ. Tự mày mò qua các tài liệu tiếng Pháp ở Thư viện Quốc gia đến đầu năm 1930, việc chế tạo thuốc nổ của ông cơ bản hoàn thành. Cuộc thử nghiệm bom đầu tiên của ông đã làm 3 trong số 5 gian bếp ở quê nhà làng Vô Ngại, tỉnh Thái Bình bị thuốc nổ thổi bay. Số thuốc nổ đầu tiên do Trịnh Văn Yên chế tạo đã được các chiến sĩ yêu nước trong Việt Nam Quốc dân Đảng sử dụng trong khởi nghĩa Yên Bái. Sau khi Nguyễn Thái Học bị bắt, đồng chí Lê Hữu Cảnh đã cùng Trịnh Văn Yên, Nguyễn Ngọc Xuân và Nguyễn Văn Nghiêm chế tạo vũ khí để mưu sát Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier. Cuộc mưu sát bất thành, ngày 20/8/1930, Trịnh Văn Yên bị Sở Mật thám Bắc kỳ vây bắt và giải về xà lim Sở Mật thám Hà Nội. Ngày 14/10/1930, ông bị đưa ra xét xử tại Hội đồng đề hình Hải Dương. Với gương mặt điển trai, vóc dáng thư sinh, thái độ bình thản, ung dung và khả năng nói tiếng Pháp lưu loát, những lời phát biểu khảng khái của ông đã gây tiếng vang lớn trong dư luận lúc bấy giờ. Báo Đông Pháp số ra ngày 15/10/1930 đăng nguyên văn lời tuyên bố của ông: “Tôi nghiên cứu khoa học để giúp về việc cách mệnh, mưu giải thoát cho đồng bào Việt Nam”. Báo Tiếng dân của chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng sử dụng lời phát biểu của ông để tuyên truyền cho quốc dân tinh thần yêu nước. Trong số báo ra ngày 22/10/1930 có đoạn: “Trịnh Văn Yên, 16 tuổi, học sinh lớp đệ nhị niên sơ đẳng, là người chế ra thứ bom mới cho V.N.Q.D.Đ dùng, khai trước Hồi đồng rằng ý anh ta là đánh đổ đế - quốc - chủ - nghĩa -Pháp”. Mặc dù xác định Trịnh Văn Yên là “phần tử nguy hiểm” song theo hồ sơ bị cáo lúc đó mới 16 tuổi nên chính quyền thực dân Pháp đã tuyên án Trịnh Văn Yên 20 năm tù khổ sai tại nhà tủ Hỏa Lò. Trong thời gian bị giam cầm, tra tấn tại nhà tù Hỏa Lò, Trịnh Văn Yên vẫn giữ vững ý chí cách mạng, vẫn không ngừng tìm cách trau dồi kiến thức, truyền bá tinh thần yêu nước. Một cơ duyên đến với ông, năm 1931, ông gặp đồng chí Lê Duẩn, lúc bấy giờ là Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ cũng bị bắt giam tại nhà tù Hỏa Lò. Sau nhiều lần gặp gỡ, trò chuyện, đồng chí Lê Duẩn đã khen ngợi và nói với Trịnh Văn Yên rằng: “Chú là một người có tài về khoa học, hóa chất. Sau này nếu được tự do, hãy đem tài năng đó cống hiến cho cách mạng”. Chính lời động viên ấy đã tiếp thêm động lực để cách mạng Việt Nam có thêm một nhà chế tạo vũ khí kỳ tài sau này. 
Kỹ sư Trịnh Văn Yên. Ảnh Internet. Năm 1936, được trả tự do, ông quyết định lấy kinh doanh làm “vỏ bọc” cho hoạt động chế tạo bom, thuốc nổ. Nhờ kinh doanh Antimoine nguyên chất, Trịnh Văn Yên tạo dựng cho mình một nguồn tài chính to lớn. Ông trở thành gia đình tư sản có cơ ngơi khang trang. Sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, Trịnh Văn Yên bỏ tiền mua lại hàng trăm khẩu súng trường, 30 tấn thuốc nổ TNT của lính Nhật. Ông còn mua một mảnh đất ở xã Lĩnh Nam, Thanh Trì (bấy giờ thuộc Hà Đông) để làm kho tập kết vũ khí. Cách mạng tháng Tám thành công, Trịnh Văn Yên đã hiến toàn bộ kho vũ khí có mấy trăm khẩu súng trường và 30 tấn thuốc nổ TNT ông mua lại của lính Nhật cho Chính phủ. Đầu năm 1946, đồng chí Trịnh Văn Yên được đồng chí Lê Thanh Nghị, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Khu III tín nhiệm đề xuất làm Giám đốc Công binh xưởng XC, phụ trách sản xuất lựu đạn, mìn, địa lôi cung cấp cho bộ đội và dân quân địa phương. Đầu năm 1947, đồng chí Trịnh Văn Yên nhận được từ đồng chí Trần Đình Tùng một khẩu súng bazoka (do Mỹ sản xuất) thu được trong trận đụng độ với quân Pháp ở thành phố Nam Định. Không có tài liệu hướng dẫn, đồng chí quyết định cùng anh em trong xưởng khí giới tháo rời khẩu súng để nghiên cứu. Vì xưởng không có ống thép 60mm nên đồng chí đã quyết định nung đỏ ống nước 90mm bằng phương pháp thủ công rồi bóp cho nhỏ đến 75mm. Khi tiếp tục bóp nhỏ hơn tới 70mm thì ống nứt nên Trịnh Văn Yên thống nhất để nòng súng 75mm. Sau ba tháng, xưởng khí giới của đồng chí Trịnh Văn Yên đã sản xuất được 02 khẩu súng (là ống thép rỗng đường kính 75mm, có giá đỡ ba chân chắc chắn) và 10 viên đạn (cỡ 73mm, trông giống như quả tên lửa nhỏ). Tháng 3/1947, cuộc bắn thử nghiệm đầu tiên do đồng chí Hoàng Minh Thảo chỉ huy được thực hiện tại huyện Phụ Dực (Thái Bình) dưới sự chứng kiến của đồng chí Lê Thanh Nghị. Đồng chí Bùi Văn Thụy được cử trực tiếp bắn quả đạn đầu tiên vào mục tiêu đường kính 1m vẽ trên một bức tường kiên cố, cách xa 50m. Chỉ sau tích tắc, mảng tường dày 40cm đã bị phá thủng. 10 ngày sau, cuộc bắn thử nghiệm lần thứ hai được thực hiện bên bờ sông Luộc (huyện Quỳnh Côi, Thái Bình) do Giám đốc Xưởng XD Lê Quang Thiệu trực tiếp chỉ huy, mục tiêu là các thanh tà vẹt đường xe lửa ghép lại và được đặt cách xa khoảng 100m. Cũng như lần trước, quả đạn bắn thủng mục tiêu. Từ những kết quả khả quan ấy, lãnh đạo Ủy ban Kháng chiến Khu III đã quyết định gửi báo cáo (kèm 5 khẩu súng mới chế tạo) lên Chiến khu Việt Bắc xin ý kiến Trung ương Đảng, từ đó súng đạn bazoka loại 75mm được tổ chức sản xuất đại trà, phục vụ kháng chiến. Đầu năm 1949, đồng chí Trịnh Văn Yên được đồng chí Trịnh Tam Tỉnh, Đặc phái viên Cục Quân giới Việt Bắc tại khu IV giao cho làm chủ nhiệm đề tài xây dựng Công xưởng hóa chất miền Nam, với nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu, xây dựng lò cao luyện gang (haut fourneau) ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Đồng chí Trịnh Văn Yên đã phối hợp với các kỹ sư thuộc lớp kỹ sư đầu tiên như Đặng Trần Cảnh - kỹ sư ngành hóa chất; kỹ sư Tống Nguyên Lễ - chuyên gia về hóa học; Lương Ngọc Khuê, kỹ sư hóa để nghiên cứu phương án tối ưu trong xây dựng lò cao luyện gang. Trong quá trình xây dựng, số lượng 300 viên gạch Kama (gạch chịu nhiệt) được vận chuyển từ Việt Bắc bị thiếu, Trịnh Văn Yên đưa ra ý kiến dùng đá sa thạch ở huyện Tĩnh Gia (tỉnh Thanh Hóa) với hàm lượng silic 92% để sản xuất gạch chịu lửa xây lò. Tháng 9/1951, lò cao NX2 (dung tích 1m3) được hoàn thiện. Ngày 07/11/1951, lò cao NX1 (dung tích 6,7m3) đi vào hoạt động, Sau hai đêm hoạt động, lò tạm dừng vì phải làm đường dẫn khói mới để che mắt máy bay địch. Đồng chí Trịnh Văn Yên đã đưa sáng kiến đào đường dẫn khói dài 500m, nằm sâu dưới đất khoảng 50cm, có lỗ thông từng điểm để khói tỏa ra như làn sương. Tháng 7/1953, Công xưởng hóa chất miền Nam xây dựng lò NX3 trong hang Đồng Mười. Đồng chí Trịnh Văn Yên đã có sáng kiến sử dụng chiếc quạt pi-xéc-ông để kiểm soát được áp lực và lưu lượng gió, tiết kiệm hơi nóng thất thoát, chế độ chạy lò cải thiện đáng kể. Từ cuối năm 1951 đến tháng 7/1954, hai lò cao NX1 và NX3 đã sản xuất được 400 tấn gang phục vụ sản xuất thuốc nổ, đạn, bom, mìn… góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ. Trong hồi ký, đồng chí Lê Thanh Nghị, Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng đã nhận xét: “Anh Trịnh Văn Yên thông minh, hiểu rộng và sâu về hóa học, thuốc nổ, đã có kinh nghiệm thực tế trong việc chế tạo, sản xuất lựu đạn, mìn và một số loại thuốc nổ, có quan hệ công tác rộng rãi, đoàn kết với các nhà chuyên môn và công nhân. Anh hăng say nghiên cứu thí nghiệm, có nhiều sáng kiến”. Với những đóng góp trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Trịnh Văn Yên đã được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng Huân chương Chiến thắng hạng Hai, ngày 03/3/1958. Năm 2018, khối óc sáng tạo và trái tim bừng nhiệt huyết của kỹ sư Trịnh Văn Yên đã không còn đập nữa. Nhưng những cống hiến của ông sẽ mãi xứng đáng được xếp ngang hàng với những chuyên gia chế tạo vũ khí hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Tháng 3/2019, bà Trịnh Thị Hương, con gái đồng chí Trịnh Văn Yên đã tặng Bằng Huân chương Chiến thắng hạng Hai cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam làm hiện vật./.Thanh Tâm

Kỹ sư Trịnh Văn Yên. Ảnh Internet. Năm 1936, được trả tự do, ông quyết định lấy kinh doanh làm “vỏ bọc” cho hoạt động chế tạo bom, thuốc nổ. Nhờ kinh doanh Antimoine nguyên chất, Trịnh Văn Yên tạo dựng cho mình một nguồn tài chính to lớn. Ông trở thành gia đình tư sản có cơ ngơi khang trang. Sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, Trịnh Văn Yên bỏ tiền mua lại hàng trăm khẩu súng trường, 30 tấn thuốc nổ TNT của lính Nhật. Ông còn mua một mảnh đất ở xã Lĩnh Nam, Thanh Trì (bấy giờ thuộc Hà Đông) để làm kho tập kết vũ khí. Cách mạng tháng Tám thành công, Trịnh Văn Yên đã hiến toàn bộ kho vũ khí có mấy trăm khẩu súng trường và 30 tấn thuốc nổ TNT ông mua lại của lính Nhật cho Chính phủ. Đầu năm 1946, đồng chí Trịnh Văn Yên được đồng chí Lê Thanh Nghị, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Khu III tín nhiệm đề xuất làm Giám đốc Công binh xưởng XC, phụ trách sản xuất lựu đạn, mìn, địa lôi cung cấp cho bộ đội và dân quân địa phương. Đầu năm 1947, đồng chí Trịnh Văn Yên nhận được từ đồng chí Trần Đình Tùng một khẩu súng bazoka (do Mỹ sản xuất) thu được trong trận đụng độ với quân Pháp ở thành phố Nam Định. Không có tài liệu hướng dẫn, đồng chí quyết định cùng anh em trong xưởng khí giới tháo rời khẩu súng để nghiên cứu. Vì xưởng không có ống thép 60mm nên đồng chí đã quyết định nung đỏ ống nước 90mm bằng phương pháp thủ công rồi bóp cho nhỏ đến 75mm. Khi tiếp tục bóp nhỏ hơn tới 70mm thì ống nứt nên Trịnh Văn Yên thống nhất để nòng súng 75mm. Sau ba tháng, xưởng khí giới của đồng chí Trịnh Văn Yên đã sản xuất được 02 khẩu súng (là ống thép rỗng đường kính 75mm, có giá đỡ ba chân chắc chắn) và 10 viên đạn (cỡ 73mm, trông giống như quả tên lửa nhỏ). Tháng 3/1947, cuộc bắn thử nghiệm đầu tiên do đồng chí Hoàng Minh Thảo chỉ huy được thực hiện tại huyện Phụ Dực (Thái Bình) dưới sự chứng kiến của đồng chí Lê Thanh Nghị. Đồng chí Bùi Văn Thụy được cử trực tiếp bắn quả đạn đầu tiên vào mục tiêu đường kính 1m vẽ trên một bức tường kiên cố, cách xa 50m. Chỉ sau tích tắc, mảng tường dày 40cm đã bị phá thủng. 10 ngày sau, cuộc bắn thử nghiệm lần thứ hai được thực hiện bên bờ sông Luộc (huyện Quỳnh Côi, Thái Bình) do Giám đốc Xưởng XD Lê Quang Thiệu trực tiếp chỉ huy, mục tiêu là các thanh tà vẹt đường xe lửa ghép lại và được đặt cách xa khoảng 100m. Cũng như lần trước, quả đạn bắn thủng mục tiêu. Từ những kết quả khả quan ấy, lãnh đạo Ủy ban Kháng chiến Khu III đã quyết định gửi báo cáo (kèm 5 khẩu súng mới chế tạo) lên Chiến khu Việt Bắc xin ý kiến Trung ương Đảng, từ đó súng đạn bazoka loại 75mm được tổ chức sản xuất đại trà, phục vụ kháng chiến. Đầu năm 1949, đồng chí Trịnh Văn Yên được đồng chí Trịnh Tam Tỉnh, Đặc phái viên Cục Quân giới Việt Bắc tại khu IV giao cho làm chủ nhiệm đề tài xây dựng Công xưởng hóa chất miền Nam, với nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu, xây dựng lò cao luyện gang (haut fourneau) ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Đồng chí Trịnh Văn Yên đã phối hợp với các kỹ sư thuộc lớp kỹ sư đầu tiên như Đặng Trần Cảnh - kỹ sư ngành hóa chất; kỹ sư Tống Nguyên Lễ - chuyên gia về hóa học; Lương Ngọc Khuê, kỹ sư hóa để nghiên cứu phương án tối ưu trong xây dựng lò cao luyện gang. Trong quá trình xây dựng, số lượng 300 viên gạch Kama (gạch chịu nhiệt) được vận chuyển từ Việt Bắc bị thiếu, Trịnh Văn Yên đưa ra ý kiến dùng đá sa thạch ở huyện Tĩnh Gia (tỉnh Thanh Hóa) với hàm lượng silic 92% để sản xuất gạch chịu lửa xây lò. Tháng 9/1951, lò cao NX2 (dung tích 1m3) được hoàn thiện. Ngày 07/11/1951, lò cao NX1 (dung tích 6,7m3) đi vào hoạt động, Sau hai đêm hoạt động, lò tạm dừng vì phải làm đường dẫn khói mới để che mắt máy bay địch. Đồng chí Trịnh Văn Yên đã đưa sáng kiến đào đường dẫn khói dài 500m, nằm sâu dưới đất khoảng 50cm, có lỗ thông từng điểm để khói tỏa ra như làn sương. Tháng 7/1953, Công xưởng hóa chất miền Nam xây dựng lò NX3 trong hang Đồng Mười. Đồng chí Trịnh Văn Yên đã có sáng kiến sử dụng chiếc quạt pi-xéc-ông để kiểm soát được áp lực và lưu lượng gió, tiết kiệm hơi nóng thất thoát, chế độ chạy lò cải thiện đáng kể. Từ cuối năm 1951 đến tháng 7/1954, hai lò cao NX1 và NX3 đã sản xuất được 400 tấn gang phục vụ sản xuất thuốc nổ, đạn, bom, mìn… góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ. Trong hồi ký, đồng chí Lê Thanh Nghị, Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng đã nhận xét: “Anh Trịnh Văn Yên thông minh, hiểu rộng và sâu về hóa học, thuốc nổ, đã có kinh nghiệm thực tế trong việc chế tạo, sản xuất lựu đạn, mìn và một số loại thuốc nổ, có quan hệ công tác rộng rãi, đoàn kết với các nhà chuyên môn và công nhân. Anh hăng say nghiên cứu thí nghiệm, có nhiều sáng kiến”. Với những đóng góp trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Trịnh Văn Yên đã được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng Huân chương Chiến thắng hạng Hai, ngày 03/3/1958. Năm 2018, khối óc sáng tạo và trái tim bừng nhiệt huyết của kỹ sư Trịnh Văn Yên đã không còn đập nữa. Nhưng những cống hiến của ông sẽ mãi xứng đáng được xếp ngang hàng với những chuyên gia chế tạo vũ khí hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Tháng 3/2019, bà Trịnh Thị Hương, con gái đồng chí Trịnh Văn Yên đã tặng Bằng Huân chương Chiến thắng hạng Hai cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam làm hiện vật./.Thanh Tâm


