TỪ NÚI RỪNG BA TƠ ĐẾN NHỮNG BƯỚC NGOẶT CỦA LỊCH SỬ-TRUNG TƯỚNG PHẠM KIỆT –
Phạm Kiệt, tên thật là Phạm Quang Khanh, sinh năm 1910 tại xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước. Từ rất sớm, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án tù chung thân và đày lên Buôn Ma Thuột. Những năm tháng tù đày không khuất phục được người thanh niên Quảng Ngãi, mà càng tôi luyện ý chí và bản lĩnh của ông.
Năm 1943, sau khi được trả tự do, Phạm Kiệt bị đưa về Căng an trí Ba Tơ. Tại vùng núi rừng hiểm trở này, ông cùng các đồng chí bí mật xây dựng cơ sở cách mạng, vận động đồng bào và chuẩn bị lực lượng. Đến tháng 3 năm 1945, ông trở thành Đội trưởng đầu tiên của Đội du kích Ba Tơ, trực tiếp tham gia lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ ngày 11 tháng 3 năm 1945. Từ một đội du kích ban đầu chỉ có vài chục tay súng, lực lượng nhanh chóng phát triển, trở thành một trong những tiền thân quan trọng của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Trung.
Nhưng dấu ấn của Phạm Kiệt không chỉ nằm ở Ba Tơ. Trong kháng chiến chống Pháp, ông đảm nhiệm nhiều trọng trách, trong đó có chức vụ Cục phó Cục Bảo vệ Quân đội. Tại Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ông được giao kiểm tra công tác chuẩn bị chiến trường ở phía Đông Bắc. Khi trực tiếp quan sát trận địa pháo, Phạm Kiệt nhận thấy nhiều khẩu pháo đang được bố trí trên địa hình trống trải, trận địa dã chiến có nguy cơ chịu tổn thất lớn nếu bị pháo binh hoặc máy bay đối phương đánh phá.
Đó là khoảnh khắc quyết định.
Từ thực địa, Phạm Kiệt đề nghị được báo cáo trực tiếp với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông nêu rõ những nguy cơ của phương án đang chuẩn bị và đề nghị Tổng Tư lệnh xem xét lại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”. Ý kiến ấy đến đúng vào thời điểm Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang trăn trở về cách đánh tại Điện Biên Phủ. Sau quá trình cân nhắc, phương châm tác chiến được chuyển sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định lịch sử ấy góp phần quan trọng đưa Chiến dịch Điện Biên Phủ đến thắng lợi.
Sau năm 1954, Phạm Kiệt tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách. Từ năm 1961, ông giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Công an, Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an nhân dân vũ trang, nay là Bộ đội Biên phòng. Trong những năm chống Mỹ, ông còn có đóng góp quan trọng đối với việc xây dựng hệ thống phòng thủ và địa đạo tại Vĩnh Linh.
Chùm ảnh tư liệu

1 / 2


Ảnh tư liệu của bài viết.
Năm 1975, Trung tướng Phạm Kiệt qua đời. Với những đóng góp đặc biệt cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang, ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2012, cùng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh. Tên tuổi ông ngày nay được ghi nhớ tại quê hương Quảng Ngãi; Nhà lưu niệm Phạm Kiệt tại xã Tịnh Minh là một địa chỉ lưu giữ những tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Từ núi rừng Ba Tơ đến Điện Biên Phủ, cuộc đời Phạm Kiệt là hành trình của một người chiến sĩ luôn biết nhìn thẳng vào thực tế, dám chịu trách nhiệm và dám nói điều cần nói vào những thời khắc quyết định. Ông không chỉ là người cầm quân, mà còn là một nhà chỉ huy có bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết.
Phạm Kiệt đã đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của lịch sử dân tộc bằng một ý chí không khuất phục. Từ lời thề giữa núi rừng Ba Tơ đến quyết định góp phần làm nên bước ngoặt ở Điện Biên Phủ, tên tuổi ông trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, bản lĩnh người chiến sĩ và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước vận mệnh của Tổ quốc.



