Từ tà áo dài trắng dưới cột cờ Ba Đình đến giảng đường triết học
Được bất ngờ chọn kéo Quốc kỳ trong Lễ Độc lập ngày 2/9/1945, cô nữ sinh Dương Thị Thoa sau này trở thành Giáo sư Lê Thi, dành trọn cuộc đời nghiên cứu về phụ nữ, gia đình và bình đẳng giới.
Sáng ngày 2 tháng 9 năm 1945, cô gái 19 tuổi Dương Thị Thoa mặc áo dài trắng, đi giày ba-ta, tay cầm một cây gậy gỗ, dẫn đầu gần một trăm phụ nữ khu phố Hàng Bông tiến về Quảng trường Ba Đình.
Cô đến để dự Lễ Độc lập.
Cô không biết rằng chỉ vài giờ sau, mình sẽ được lịch sử chọn trao một nhiệm vụ đặc biệt: kéo lá cờ đỏ sao vàng trong thời khắc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
Dương Thị Thoa sinh ngày 3 tháng 6 năm 1926, quê ở xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Bà là con gái thứ tư trong gia đình tám người con của nhà giáo Dương Quảng Hàm, một học giả và Hiệu trưởng Trường Bưởi nổi tiếng.
Lớn lên trong một gia đình hiếu học, Dương Thị Thoa được học tại Trường nữ sinh Đồng Khánh ở Hà Nội. Tuy nhiên, tuổi trẻ của bà không chỉ có sách vở và những giờ học trên lớp.
Cuối năm 1944, khi phong trào Việt Minh phát triển mạnh, bà cùng một số nữ sinh bí mật rải truyền đơn, phổ biến tài liệu yêu nước, quyên góp tiền, gạo và thuốc men gửi lên chiến khu. Sau khi tốt nghiệp, bà tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc và lấy bí danh Lê Thi.
Trong những ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Lê Thi tham gia vận động quần chúng tại Hà Nội. Bà có mặt trong không khí sục sôi của những cuộc mít tinh, những đoàn người xuống đường và thời khắc chính quyền về tay nhân dân.
Khoảng một tuần trước ngày 2 tháng 9, Lê Thi cùng các chị em Hội Phụ nữ Cứu quốc đến từng nhà trên phố Hàng Bông, vận động các gia đình đóng cửa hàng để tham dự Lễ Độc lập.
Những người phụ nữ còn cùng nhau tập đi đều, học hát Tiến quân ca, Diệt phát xít và chuẩn bị trang phục thật chỉnh tề. Ai cũng hiểu đây sẽ là một ngày đặc biệt, nhưng không ai biết buổi lễ sẽ diễn ra như thế nào.
Đầu giờ chiều ngày 2 tháng 9, đoàn phụ nữ Hàng Bông tiến vào Quảng trường Ba Đình. Nhờ đến sớm và giữ đội hình ngay ngắn, đoàn được đứng ở vị trí đầu của khối phụ nữ Thủ đô.
Lê Thi đứng đầu hàng trong tà áo dài trắng.
Khi buổi lễ sắp bắt đầu, một cán bộ Ban tổ chức bước xuống và yêu cầu đoàn cử một người lên kéo cờ. Mọi người thoáng ngỡ ngàng rồi cùng gọi:
“Thi lên đi!”
Lê Thi vô cùng hồi hộp. Bà chưa từng được tập trước, trong khi kéo Quốc kỳ tại một buổi lễ trọng đại là nhiệm vụ không được phép xảy ra sai sót.
Nhưng trước sự động viên của đồng đội, bà bước ra khỏi hàng.
Đến gần lễ đài, Lê Thi gặp một nữ chiến sĩ mặc trang phục dân tộc Tày. Đó là Đàm Thị Loan, người từ chiến khu về Hà Nội và đại diện cho phụ nữ các dân tộc thiểu số.
Hai người chưa từng gặp nhau. Họ cũng không có thời gian hỏi tên.
Lê Thi cao hơn nên hai người nhanh chóng phân công: bà phụ trách dây kéo, còn Đàm Thị Loan nâng và giữ lá cờ không chạm đất. Khi những giai điệu đầu tiên của Tiến quân ca vang lên, hai người cùng đưa Quốc kỳ lên cao.
Lá cờ phải lên vừa đủ chậm để không tới đỉnh quá sớm, nhưng cũng không được chậm hơn nhịp Quốc ca.
Hai cô gái chăm chú phối hợp.
Khi âm thanh cuối cùng của bài Quốc ca vừa dứt, lá cờ đỏ sao vàng cũng lên tới đỉnh cột, tung bay trong gió giữa tiếng vỗ tay vang dội của hàng vạn người dân.
Lúc ấy, hai người mới thở phào nhẹ nhõm.
Lùi về phía sau lễ đài, Lê Thi nhìn thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bộ quần áo kaki giản dị. Hình ảnh ấy khác hẳn những vị lãnh tụ trong sách mà bà từng đọc. Rồi giọng Người vang lên, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam mới.
Đối với Lê Thi, đó không chỉ là khoảnh khắc được chứng kiến lịch sử.
Bà đã tự tay kéo lên lá cờ đánh dấu sự chuyển mình của cả dân tộc từ thân phận mất nước thành người dân của một quốc gia độc lập.
Điều đặc biệt là Lê Thi và Đàm Thị Loan rời lễ đài mà vẫn chưa biết tên nhau. Phải 44 năm sau, trong cuộc gặp mặt truyền thống tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ngày 22 tháng 12 năm 1989, hai người mới được giới thiệu chính thức.
Hai mái đầu khi ấy đã bạc.
Họ ôm lấy nhau, nhận ra người từng đứng bên mình dưới cột cờ Ba Đình trong buổi chiều mùa thu năm 1945.
Sau Ngày Độc lập, Lê Thi tiếp tục hoạt động trong Hội Phụ nữ Cứu quốc tại quận Hoàn Kiếm và tỉnh Vĩnh Phúc. Cuộc đời bà không dừng lại ở vinh dự của một nhân chứng lịch sử.
Năm 1956, bà được cử theo học lớp lý luận chính trị cao cấp đầu tiên của Trường Nguyễn Ái Quốc. Tốt nghiệp loại ưu, Lê Thi được giữ lại làm giảng viên.
Từ năm 1962 đến năm 1987, bà nghiên cứu và giảng dạy triết học. Bà từng giữ cương vị Quyền Viện trưởng rồi Viện trưởng Viện Triết học, đồng thời là Tổng Biên tập Tạp chí Triết học.
Sau nhiều năm nghiên cứu triết học, Lê Thi dành sự quan tâm ngày càng lớn cho cuộc sống của phụ nữ. Bà cùng đồng nghiệp xây dựng Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ và Gia đình, tiền thân của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, rồi giữ cương vị giám đốc từ năm 1987 đến năm 1999.
Năm 1992, bà được phong học hàm Giáo sư ngành Triết học.
Các công trình của Lê Thi tập trung vào những vấn đề thiết thực như vai trò của gia đình trong việc hình thành nhân cách, đời sống và việc làm của phụ nữ, hoàn cảnh của phụ nữ đơn thân, sự thay đổi trong quan niệm hôn nhân và mối quan hệ giữa các thế hệ.
Từ người phụ nữ từng được chọn kéo cờ trong Ngày Độc lập, bà tiếp tục dành cuộc đời để tìm hiểu phụ nữ có thể thực sự làm chủ cuộc sống của mình như thế nào trong một đất nước độc lập.
Giáo sư Lê Thi qua đời ngày 28 tháng 8 năm 2020, chỉ ít ngày trước dịp kỷ niệm 75 năm Quốc khánh, hưởng thọ 95 tuổi.
Cuộc đời bà nối liền hai hình ảnh tưởng như rất khác nhau.
Một bên là cô gái áo dài trắng, đôi tay hồi hộp kéo Quốc kỳ giữa biển người tại Ba Đình. Một bên là nữ giáo sư lặng lẽ làm việc bên những trang sách, nghiên cứu về triết học, phụ nữ và gia đình.
Nhưng cả hai hình ảnh đều bắt nguồn từ cùng một lý tưởng: con người chỉ có thể phát triển trọn vẹn khi đất nước được độc lập và mỗi người được tôn trọng, học tập, lao động, cống hiến bình đẳng.
Lá cờ Lê Thi kéo lên chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã đánh dấu sự ra đời của một quốc gia. Còn những công trình bà để lại sau này góp phần vun đắp cho một xã hội tiến bộ hơn trong chính quốc gia ấy.



