quansuvn | 
| Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 1« Trả lời #42 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2020, 09:53:18 pm » | Lên ngôi tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), tháng 7 năm Canh Tuất (1010), Lý Thái Tổ tiến hành dời đô về Đại La. Trước khi dời đô, ông đã hạ chiếu, có đoạn nhận định về Đại La như sau: "Thành Đại La... ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam - Bắc - Đông - Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bôn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.241). Ông nói: "Mưu chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.241) như việc dời đô của nhà Thương, nhà Chu của Trung Hoa xưa. Dời đô về Đại La, ông đổi tên là Thăng Long. Tên gọi Thăng Long gắn với huyền thoại rồng hiện ra khi thuyền của nhà vua đến bên thành. Tên gọi Thăng Long (rồng bay lên) thể hiện ý chí vươn lên mạnh mẽ của kinh đô, của đất nước sau khi dời đô; cũng là ý chí, mục đích vươn tới của người quyết định dời đô.
Với con mắt của nhà quân sự, Lý Thái Tổ hẳn biết rõ điểm yếu của Thăng Long là trống trải, khó phòng giữ, nhưng tiện lợi lớn cho việc mở mang, phát triển mọi mặt. Là người có tầm nhìn xa trông rộng, ông nắm được thời thế đã thay đổi. Sau đại bại trong lần xâm lược 30 năm trước, nhà Tống không dám hoặc chưa dám lại sang xâm lược. Có chăng là chuyện về sau. Giờ đây là thời bình, thời của kiến thiết đất nước hùng mạnh, đem lại cuộc sống yên vui, no ấm cho mọi nhà và cũng là thời của xây dựng cơ sở giàu mạnh, tạo điều kiện cần và đủ để đánh thắng giặc một khi chúng xâm lược.
Đó là tư tưởng lớn của nhà quân sự Lý Thái Tổ. Xuất phát từ tư tưởng đó, sau khi dời đô, cùng với việc xây dựng cung điện làm nơi ở, nơi làm việc của vua quan, xây dựng chùa chiền thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh của xã hội, Lý Công Uẩn và các vua kế tiếp đã xây dựng thành lũy bảo vệ. Việc làm này được tiến hành mở đầu vào năm Giáp Dần (1014): "Tháng 10 mùa đông. Đắp thành đất ở Thăng Long, bốn bề xung quanh ngoài kinh thành đều sai đắp thành đất cả"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tr.292). Thành đất ở đây dựa trên cơ sở tận dụng thành Đại La cũ, gọi là thành Đại La hay La Thành; bao bọc ở ngoài cùng. Bên trong có Long thành (Cấm thành) được bảo vệ nghiêm ngặt, là khu cung điện, nơi ở của nhà vua và làm việc của triều đình. Phía ngoài Long thành đắp vòng thành thứ hai gọi là Hoàng thành hay thành Thăng Long, có hào và 4 cửa: cửa Tường Phù (Cửa Đông), cửa Quảng Phúc (Cửa Tây), cửa Đại Hưng (Cửa Nam) và cửa Diệu Đức (Cửa Bắc). Để canh phòng bảo vệ thường xuyên Hoàng thành, đặc biệt là Long thành có điện tiền cấm quân gồm 10 quân, mỗi quân 200 người, gồm 2.000 người đều thích trên trán 3 chữ "Thiên tử quân". Đến thời Lý Thánh Tông (1054-1072), số cấm quân có tới 3.200 người2 (Xem: - Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, t.III, tr.7. - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, Sđd, t.3, tr.90).
Thành Đại La ở ngoài cũng mở nhiều cửa, có quân lính tuần tra canh gác. Sử cũ còn ghi lại các cửa Triều Đông (dốc Hòe Nhai), cửa Tây Dương (Cầu Giấy), cửa Trường Quảng (Ô Chợ Dừa), cửa Nam (Ô cầu Dền), cửa Vạn Xuân (ô Đông Mác).
Như vậy Kinh đô Thăng Long, với vương triều Lý không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa mà với sự gia công xây dựng của con người còn là một thành kiên cố mở đầu thời kỳ thịnh vượng, hùng mạnh của đất nước.
Nếu như vào thế kỷ X, các nhà quân sự - vua còn dè dặt, né tránh Đại La thì bước sang thế kỷ XI, tình thế đã đổi khác. Sau hơn ba phần tư thế kỷ phục hưng xây dựng, đất nước đã phát triển; chính trị đi vào nền nếp, quân sự, quốc phòng qua thử thách, chứng tỏ sức mạnh trong chống giặc. Lúc này nhà quân sự - vua Lý Thái Tổ có đủ cơ sở đặt niềm tin vào sức mạnh của quân dân Đại Cồ Việt, quyết định dời đô, đặt bệ phóng cho đất nước vươn về phía trước. Tiếp theo Lý Thái Tổ, các vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông nối nhau cầm quyền đã xây dựng đất nước Đại Việt hùng cường, đủ sức đánh tan giặc Tống xâm lược lần thứ hai vào năm 1077, bảo vệ thành công độc lập, chủ quyền của dân tộc. Ý thức độc lập, chủ quyền từng được nung nấu, ấp ủ, tôi luyện hàng nghìn năm, bùng lên biến thành hành động quyết liệt trong giữ nước và dựng nước hồi thế kỷ X. Từ việc dời đô, kinh dinh kiến thiết đến đánh thắng giặc Tống xâm lược lần thứ hai với vương triều Lý, ý thức độc lập, chủ quyền của nhân dân Đại Việt được phát triển, nâng lên một tầm cao mới. Không chỉ bằng hành động mà còn được tuyên bố qua bài thơ thần Nam quốc sơn hà vang lên từ đền Thánh Tam Giang trên bờ sông Như Nguyệt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư! (Sông núi nước Nam, vua Nam ở, Rành rành định phận ở sách trời. Cố sao giặc dữ đến xâm phạm? Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời).
Bài thơ được quan niệm như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta xuất hiện vào thời Lý trong kháng chiến chống Tống. Nó hàm chứa một nội dung tư tưởng lớn lao. Một tuyên bố dứt khoát: Đất nước Nam vua nước Nam ở, cũng có nghĩa nước Đại Việt của dân Đại Việt, người Đại Việt làm chủ và người Việt sẽ quyết tâm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của đất nước mình. Đó là ý trời, là lòng dân, bất cứ kẻ xâm lược nào cũng sẽ bị đánh bại. |