Tư tưởng kết hợp đòn tiến công quân sự với biện pháp ngoại giao, chủ động giảng hòa để kết thúc chiến tranh
Sau cuộc phản công chiến lược ở phòng tuyến Như Nguyệt, lợi thế ở chiến trường nghiêng hẳn về phía quân Đại Việt. Mặc dù có bị hao tổn lực lượng, nhưng với khí thế của đoàn quân đang trên đà thắng lợi, Lý Thường Kiệt có thể mở một cuộc tiến công tiếp theo giáng vào doanh trại Quách Quỳ, dồn quân Tống vào thế cùng bị tiêu diệt hay chịu đầu hàng. Nhưng Lý Thường Kiệt không chọn phương án đó. Ông nắm vững tình hình giặc đang lâm vào thế nguy khốn: lương cạn, quân số hao mòn quá một nửa lại thêm thờ
| Con đường đến thắng lợi hoàn toàn đã mở rộng trước mắt của quân Đại Việt với hai phương án: đánh hoặc đàm. Đánh sẽ thắng nhưng không tránh khỏi hy sinh thêm xương máu, hao binh tổn tướng. Bị dồn đến đường cùng, trước khi chịu chết, giặc sẽ chống cự quyết liệt. Đã vậy họa binh đao giữa hai nước chưa hẳn đã dứt. Vì Tống là một nước lớn, có thể họ lại đem quân sang phục thù, chiến tranh tiếp diễn, quân dân Đại Việt lại buộc phải lao vào cuộc kháng chiến. Đó là điều không mong đợi của vương triều Lý. Để phù hợp với nguyện vọng được sống yên vui của nhân dân, Lý Thường Kiệt không chọn phương án "đánh" để tiêu diệt sạch đối phương, ông đã chủ trương "đàm", tức là chủ động "giảng hòa", để mở lối thoát cho quân Tống rút quân "trong danh dự". Văn bia chùa Linh Xứng ghi: "Dùng biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng tá, khỏi tổn xương máu mà bảo toàn được tông miếu"1 (Văn bia chùa Linh Xứng (Thanh Hóa). Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd). Như vậy, "bàn hòa" là thượng sách không chỉ có lợi kết thúc chiến tranh trong thế mạnh của Đại Việt mà còn mở lối thoát cho Quách Quỳ. Quách Quỳ, Triệu Tiết thế cùng tất phải nghe, nhưng còn nhà Tống làm thế nào để thuyết phục được họ chịu cái nhục phải rút quân? Lý Thường Kiệt chủ động đưa điều kiện nếu nhà Tống rút quân thì Đại Việt sẽ triều cống và nhượng một phần đất mà Quách Quỳ đã chiếm được. Đó là đất Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn, Tư Lang thuộc vùng biên Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh ngày nay. Rõ ràng vấn đề đặt ra lúc này không phải chỉ giải quyết giữa Lý Thường Kiệt và tướng giặc Quách Quỳ, Triệu Tiết mà là giữa vương triều Lý với nhà Tống. Quách Quỳ, như chết đuối vớ được cọc, nhanh chóng chấp nhận điều kiện của Lý Thường Kiệt đưa ra và tâu về triều đình. Trước tình thế lúc đó, vua Tống đã chấp thuận, ra lệnh rút quân về nước. Bằng biện pháp "bàn hòa", mục tiêu của cuộc kháng chiến đã đạt: quét sạch giặc ra khỏi bờ cõi. Phần đất đai tạm nhượng cho giặc thì liền sau khi Quách Quỳ rút lui, Lý Thường Kiệt đã cho quân chiếm lại các đất Quang Lang, Môn, Tô Mậu. Còn Quảng Nguyên cho đến năm 1079, sau nhiều lần cử sứ giả đưa cống phẩm sang thương thảo, Đại Việt trao trả 221 người bị bắt làm tù binh, đổi lại nhà Tống trả lại đất Quảng Nguyên mà họ đã đổi làm Thuận Châu. Tư tưởng kết thúc chiến tranh bằng kết hợp đòn quân sự với ngoại giao, chủ động "bàn hòa" với quân Tống, thực chất là sự tiếp nối của hoạt động quân sự dưới một hình thức khác có lợi cho sự phát triển của đất nước. Tư tưởng này lần đầu tiên xuất hiện ở thời Lý và đã giành được thắng lợi: Đất nước sạch bóng thù. Tư tưởng quân sự được hình thành và xuất hiện cùng với quá trình tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang và những hoạt động của nó trong xây dựng và chiến đấu bảo vệ độc lập của đất nước thông qua các nhà quân sự tiêu biểu của thời đại. Xuất hiện trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nhưng một khi đã hình thành, những tư tưởng đó còn được bảo lưu, kế thừa, nâng cao để trở thành tài sản chung của nền quân sự quốc phòng, có nhiệm vụ, chức năng không thay đổi qua các thời đại: giữ nước và dựng nước. Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý, từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIII, ghi nhận sự ra đời và trưởng thành của tổ chức quân đội quốc gia từ Đại Cồ Việt đến Đại Việt. Từ đoàn "quân mới họp" thời Ngô Quyền, những trai tráng ở các sách, động, vùng, miền tập hợp thành đoàn quân dẹp loạn tiến lên thành tổ chức quân 10 đạo, Thiên tử quân thời Đinh, Tiền Lê, cấm binh, sương quân, quân các châu, lộ, phủ và dân binh thời Lý là bước phát triển vượt bậc của tổ chức lực lượng vũ trang quốc phòng thời này. Vừa mới ra đời, tổ chức quân 10 đạo của quốc gia Đại Cồ Việt đã đánh thắng giặc Tống lần thứ nhất vào cuối năm 980, đầu năm 981. Chưa đầy một thế kỷ sau, vào năm 1075-1077, lực lượng vũ trang quốc phòng của nhà Lý lại đánh bại cuộc xâm lược lần thứ hai của giặc Tống, lập nên kỳ tích trong lịch sử chống xâm lăng của dân tộc. Những thành tựu trong giữ nước và dựng nước của lực lượng vũ trang quốc phòng thời Ngô, Đinh, Tiền Lê gắn với các nhà quân sự tiêu biểu: Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, thời Lý gắn với: Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt là những đại biểu xuất sắc cho lực lượng vũ trang một thời. Hiển nhiên trong lịch sử chiến đấu giữ nước thời Văn Lang, Âu Lạc, đấu tranh lật đổ ách đô hộ thời Bắc thuộc, cùng với tổ chức vũ trang quốc phòng đã hình thành những tư tưởng quân sự, dù còn sơ khai, nhưng là cội nguồn để đến các thế kỷ mở đầu thời độc lập, tự chủ kế thừa và phát triển. Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý bao gồm hai thời kỳ: thế kỷ X khôi phục, phục hưng nền độc lập, tự chủ và thế kỷ XI - đầu thế kỷ XIII phát triển đất nước phồn thịnh, hùng cường. Sự khác biệt trong nội dung lịch sử này được phản ánh trong tư tưởng quân sự của mỗi thời kỳ. Ở thời kỳ Ngô, Đinh, Tiền Lê, độc lập, tự chủ, xây dựng tổ chức lực lượng quân sự thống nhất gắn với đơn vị hành chính, phòng vệ, phòng ngự kết hợp với phản công, tiến công là những tư tưởng quân sự hình thành trong quá trình khôi phục và bước đầu xây dựng độc lập, tự chủ của đất nước. Đồng thời những tư tưởng này đã hướng dẫn, tác động đến mọi hoạt động của lực lượng vũ trang quốc phòng, lập nên những thành tựu bước đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự tồn vong của dân tộc. Bước sang thời Lý, kế thừa và phát triển thành tựu của quá khứ, bên cạnh những tư tưởng đã có được nâng cao, phát huy tác dụng vào thời kỳ mới, ta thấy xuất hiện những tư tưởng mới. Khẳng định sức mạnh của đất nước, phát triển ý thức độc lập, chủ quyền quốc gia, phòng ngự chiến lược, phản công chiến lược là những tư tưởng được kế thừa và mở rộng của tư tưởng độc lập, tự chủ, phòng ngự tích cực của thế kỷ X. Trong khi đó, xảy dựng lực lượng vũ trang "ngụ binh ư nông", chủ động chiến lược ''tiên phát chế nhân", kết thúc chiến tranh bằng ngoại giao chủ động bàn hòa là những tư tưởng mới xuất hiện trong bối cảnh lịch sử cụ thể của thời Lý. Đó là điểm mới, là đặc trưng của tổ chức lực lượng quốc phòng trong quá trình phát triển từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIII. Các tư tưởng trên đã phản ánh tính liên tục và phát triển sáng tạo trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang quốc phòng, trong quá trình vận động phát triển của đất nước thời Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý. Với sức mạnh của một thứ vũ khí tinh thần sắc bén, các tư tưởng quân sự trên, dưới sự chỉ đạo của các nhà quân sự tiêu biểu, thông qua hoạt động của lực lượng vũ trang quốc phòng đã biến thành sức mạnh vật chất. Với sức mạnh đó, quân dân Đại Cồ Việt - Đại Việt đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành thắng lợi trong xây dựng nhà nước quân chủ, gìn giữ biên cương; mở rộng bờ cõi, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước. Là sản phẩm của thời Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý, tư tưởng quân sự trên đã trở thành tài sản quý giá, làm phong phú cho gia tài quân sự quốc phòng nói chung, tư tưởng quân sự Việt Nam nói riêng trong lịch sử. |



