Tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang theo chính sách "ngụ binh ư nông"
Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê đặc biệt coi trọng lực lượng vũ trang, tuy nhiên chính sách "ngụ binh ư nông" (gửi binh ở nông) chưa thấy được nêu lên như là một tư tưởng lớn trong xây dựng quân đội. Sử gia Ngô Thì Sĩ nói: "Có lẽ bấy giờ binh và nông chưa chia, khi có việc thì gọi ra, xong việc lại giải tán về đồng ruộng"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.III, tr.7). Thiết tưởng chưa hẳn đã hoàn toàn như vậy. Thời Đinh, Tiền Lê đã có sự xuất hiện của quân hường trực, ít nhất là ở t
| Sử gia Ngô Thì Sĩ cho biết: "Binh chế buổi đầu nhà Lý... lấy thân quân làm trọng, cũng gọi là cấm quân. Cấm vệ có 10 quân, mỗi quân có 200 người, đều có tả hữu, phải túc trực thường xuyên. Lại có 9 quân như sương quân để sai khiến làm mọi việc, mỗi tháng đến phiên một lần, gọi là đến canh, hết canh cho về nhà cày cấy hoặc làm công nghệ tự cấp lấy chứ không được cấp lương. Khi có chiến tranh thì gọi ra cho lệ thuộc vào các tướng. Nếu số quân này không đủ thì chiếu sổ gọi dân ra tòng ngũ. Xong việc lại cho về làm ruộng. Đó là đúng với ý nghĩa ngụ binh ư nông"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.III, tr.7-8). Để thực hiện được việc này, điều kiện tiên quyết là nhà nước quân chủ phải nắm được con số quân dân. Thời Lý như đã biết, nhà nước đã thực hiện việc quản lý đến tận cơ sở hương, giáp, xã ở khu vực đồng bằng và một phần trung du. Miền rừng núi, biên cương xa xôi, nhà nước chỉ quản lý bằng chính sách "Ki mi" (ràng buộc lỏng lẻo) thông qua các thổ tù, châu mục. Tình trạng cát cứ của các thổ hào chiếm giữ mỗi người một vùng tự quản đã hoàn toàn chấm dứt. Nói một cách khác, các hương, giáp, xã đã trở thành một đơn vị hành chính cấp cơ sở của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền. Nhà nước thời Lý đã có đủ điều kiện để nắm con số quân dân. Sử không chép rõ việc làm này của vương triều Lý. Nhưng gián tiếp qua việc ghi chép ở buổi đầu thời Trần, ta biết được cụ thể. Đại Việt sử ký toàn thư chép vào năm 1228 thời Trần: "Lệ cũ, hằng năm vào đầu mùa xuân, xã quan (nay là xã trưởng) khai báo nhân khẩu gọi là đơn sổ, rồi căn cứ vào sổ, kê rõ các loại tôn thất, văn quan văn giai, võ quan võ giai, quan theo hầu, quân nhân, tạp lưu, hoàng nam, già yếu, tàn tật, phụ tịch, xiêu tán, v.v.."1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.11). "Lệ cũ" ở đây là lệ thời nhà Lý. Sách Cương mục ghi rõ thêm: "Việc làm này nhà Trần cũng thi hành theo như phép triều Lý trước"2 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tr.449). Như vậy, qua việc lập đơn sổ (tức sổ hộ tịch), nhà nước thời Lý đã nắm được số lượng trai tráng đến tuổi trưởng thành phải có nghĩa vụ binh dịch. Hằng năm, nhà nước chọn tráng đinh sung vào quân ngũ ở trung ương và các lộ, phủ, châu. Số còn lại tham gia sản xuất, là dân binh bảo vệ quê hương, sẵn sàng nhập ngũ khi cần thiết. Quân thường trực, trừ cấm quân, còn lại đều áp dụng việc chia phiên. Với việc làm này, Nhà nước Lý đã xử lý mối quan hệ giữa binh và nông: chia tách và hoán vị. Như vậy vừa đảm bảo số quân thường trực, vừa đảm bảo sản xuất nông nghiệp. Điều quan trọng hơn nữa là mọi trai tráng đều được luyện tập việc binh. Khi cần thiết Nhà nước huy động, mọi tráng đinh đều có khả năng sẵn sàng chiến đấu, được "giao cho các tướng" phiên chế vào quân ngủ. Tư tưởng gắn "việc binh" với "việc nông" bằng quốc sách "ngụ binh ư nông" trong xây dựng lực lượng vũ trang quốc phòng không chỉ giới hạn ở việc tuyển quân từ nông dân và thay phiên nhau về làm ruộng. "Binh" ở đây được mở rộng đến nhiều lĩnh vực liên quan đến việc binh, quân sự, chiến tranh và quốc phòng. "Nông" ở đây bao gồm nông dân, nông thôn, nông nghiệp1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, Sđd, t.3, tr.290). Dựa vào làng xã để chiến đấu, biến làng xã thành pháo đài chống giặc, phát triển sản xuất nông nghiệp để đảm bảo "thực túc binh cường" đều là những việc làm xuất phát từ tư tưởng "ngụ binh ư nông". Bằng biện pháp gửi binh ở nông, Nhà nước vương triều Lý có thể huy động trong một thời gian ngắn đủ số quân để tổ chức chống giặc. Trong cuộc kháng chiến chống Tống, thực hiện chiến lược "tiên phát chế nhân", vây hãm và triệt phá căn cứ hậu cần của giặc ở thành Ung Châu từ 18-1 đến 1-3-1076, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản có được hơn 10 vạn quân gồm chính binh của triều đình và quân của địa phương do các thủ lĩnh châu mục huy động từ động bản. Sau khi san phẳng căn cứ hậu cần của giặc, Lý Thường Kiệt đã rút về xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt từ cửa sông Cà Lồ đến Vạn Xuân (Phả Lại). Để lập nên phòng tuyến có chiến lũy bằng đất, hàng rào tre dày đặc, hố chông ngầm dài hơn 30 km, ngoài công sức của quân lính còn có sự đóng góp sức người sức của của nhân dân các hương, giáp, xã; phía hữu ngạn từ bờ nam sông cầu đến Thăng Long. Trong công cuộc chặn giặc ở sông Như Nguyệt và tấn công tiêu diệt doanh trại của Quách Quỳ và Triệu Tiết cũng vậy. Sự kết hợp giữa nông và binh trong chiến đấu và hậu cần phục vụ chiến đấu đã tạo nên sức mạnh không cho giặc tiến gần Thăng Long, bị giam chân bên tả ngạn để bị đánh phá, buộc phải chịu rút quân về nước. Ngay từ khi rút quân về xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã bố trí chặn giặc từ xa. Các đội dân binh huy động từ trong hương, giáp giao cho các tướng địa phương trấn giữ các mặt Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Đặc biệt ở các điểm trọng yếu trên tuyến đường Lạng Sơn về Thăng Long như đèo Quyết Lý (Nhân Lý), Giáp Khẩu (Chi Lăng) đều bố trí lực lượng quân mai phục. Chính lực lượng quân sự địa phương (dân binh) này đã phối hợp với quân chính quy đuổi giặc, giành lại vùng đất chúng đã chiếm. Như vậy, đến thời Lý, tư tưởng gắn việc binh với việc nông, gắn kinh tế với quân sự - quốc phòng xuất hiện. "Ngụ binh ư nông" đã trở thành một quốc sách quan trọng của Nhà nước Đại Việt. Cho quân lính thay phiên nhau về làng xã tham gia sản xuất, kết hợp giữa quân và dân trong mọi hoạt động chống giặc là những biểu hiện phong phú của tư tưởng "ngụ binh ư nông" ở nước ta được hình thành từ thời Lý. Đó là điểm mới, điểm mở đầu, trở thành tài sản quý trong tư tưởng quân sự quổc gia Đại Việt nói riêng, của nước ta nói chung. | |
|
Logged


