Khác

Tư tưởng xây dựng tổ chức lực lượng quân sự thống nhất, gắn liền với đơn vị hành chính

Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê hồi thế kỷ X, thống nhất và phân tán là hai xu hướng nổi bật, đốỉ lập nhau trở thành vấn đề lớn và là đặc điểm của thời đại. Tình trạng này không chỉ diễn ra trong lĩnh vực xã hội, chính trị, lãnh thổ mà cả trong quân sự. Điều này phản ánh trung thành một xã hội nông nghiệp chìm trong xóm làng, liên làng được nhìn nhận như những công xã nông thôn, thiếu vắng hoặc chưa có một sự liên kết của thị trường với vai trò của kinh tế công thương nghiệp. Xu hướng phân tán mà đại bi

29/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Một khi vượt ra khỏi phạm vi thế lực nhỏ hẹp của mình, huy động được toàn dân tập hợp dưới cờ để giành lại và quản lý giang sơn, cơ nghiệp chung thì lập tức ở họ, tư tưởng thống nhất tập quyền trở thành tư tưởng chủ đạo vì sự tồn tại của quyền lực bản thân cũng như của sự nghiệp mà họ theo đuổi được toàn dân ủng hộ. Chính vì thiếu một sự kết dính của kinh tế công thương gắn liền mọi mặt của xã hội nên nền thống nhất tập quyền được xây dựng ở thế kỷ X mới mong manh, thiếu bền vững. Tư tưởng, hiện tượng phân tán lại trỗi dậy khi có thời cơ thuận lợi. Vương triều Ngô sụp đổ, loạn mười hai sứ quân xuất hiện là một trường hợp điển hình.


Với tổ chức lực lượng quân sự cũng vậy. Tổ chức quân sự và hoạt động quân sự xuất hiện cùng với xã hội loài người. Lịch sử phát triển cùng với sự phân công của xã hội, tổ chức và hoạt động quân sự được phân tách hoạt động chuyên biệt liên kết với các mặt hoạt động khác thành một thể thống nhất trong tổ chức quản lý xã hội của nhà nước trong quá trình phát triển. Từ những lực lượng quân sự rời rạc, phân tán thành tổ chức quân đội thống nhất trong cả nước là một quá trình lâu dài rèn luyện và thử thách, gắn liền với tổ chức bộ máy nhà nước thống nhất tập quyền. Khúc Thừa Dụ tập hợp dân chúng, được hiểu là quân bản bộ ở Hồng Châu về chiếm giữ Đại La, xưng Tiết độ sứ truyền được vài đời, nhưng cũng không giữ nổi được Đại La, trước sự xâm lược của chính quyền Nam Hán. Họ Dương đem quân bản bộ từ ấp Ràng ở châu Ái ra đánh chiếm lại Đại La từ tay bọn quan cai trị Nam Hán trả thù cho chủ, giành lại độc lập cho dân tộc vào năm 930-931. Nhưng họ Dương không quản giữ được lực lượng võ trang, để cho Kiều Công Tiễn thao túng, bị đoạt quyền đến không giữ được bản thân mình. Ngô Quyền đem quân bản bộ ở châu Ái tập hợp thêm lực lượng ở nhiều vùng khác hợp thành đoàn "quân mới họp" đủ sức đánh tan giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng và diệt kẻ phản bội Kiều Công Tiễn, chiếm lại Đại La. Cũng phải mất hơn 30 năm, từ 905 đến 938, tổ chức vũ trang của đất nước trong chặng cuối của công cuộc đấu tranh lật đổ ách đô hộ mới vượt khỏi giới hạn của một vùng (Hồng Châu của họ Khúc) vươn đến một tập hợp lực lượng của nhiều vùng thành đoàn "quân mới họp" của nước Việt để hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc.


Từ chính quyền Tiết độ sứ đến vương quyền, từ lỵ sở Đại La đến Kinh đô Cổ Loa, từ quân bản bộ đến đoàn "quân mới họp" của nhà nước quân chủ vương triều Ngô đóng ở Cổ Loa là một bước phát triển dài trên con đường xây dựng tổ chức lực lượng vũ trang kết hợp với xây dựng nhà nước độc lập, tự chủ. Quá trình phát triển đó cũng chính là quá trình hình thành và chín muồi của tư tưởng thống nhất tự chủ trong tổ chức quân sự thông qua đại biểu của nó - các thủ lĩnh họ Khúc, họ Dương đến Ngô vương Quyền.


Với nhà nước quân chủ tập quyền vương triều Ngô, tổ chức lực lượng vũ trang thống nhất của đất nước hồi thế kỷ X mới thực sự xuất hiện mặc dù còn non trẻ, đơn sơ. Hẳn rằng hơn ai hết, Ngô Quyền, người đã chỉ huy đánh thắng giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng và giành lại Đại La từ tay Kiều Công Tiễn ý thức được rõ ràng về yêu cầu bức thiết phải thành lập một lực lượng quân đội mạnh để gìn giữ độc lập, tự chủ, sẵn sàng chống trả mọi hành động xâm lược của kẻ thù, bảo vệ nhà nước quân chủ đóng ở Cổ Loa.


Hoàn toàn không có tài liệu về tổ chức quân đội của Ngô Quyền ở Cổ Loa, ngoại trừ một số tướng lĩnh dưới trướng của Ngô Quyền chia nhau cầm quân như đã kể ở trên. Bằng suy luận có thể nghĩ rằng tổ chức vũ trang của nhà nước vương triều Ngô mới chỉ tập trung ở Cổ Loa, chưa thành lập được một hệ thống trong cả nước. Ở địa phương, lực lượng võ trang vẫn nằm trong tay các thổ hào, thủ lĩnh được nhìn nhận như quân bản bộ của họ ở các công xã, liên công xã đang hướng về quy tụ xung quanh nhà nước quân chủ ở Cổ Loa. Đây là một hạn chế lớn trong tư tưởng và tổ chức vũ trang của Ngô Quyền, đồng thời cũng là hạn chế của thời đại - thời đại mà xu hướng phân tán trên cơ sở công xã nông thôn đang tồn tại phổ biến. Để khắc phục tình trạng này phải đợi đến Đinh Bộ Lĩnh.


Xét cho cùng Đinh Bộ Lĩnh cũng như Ngô Quyền, cũng mang trong mình dòng dõi châu mục, thứ sử từng tham gia quá trình giải phóng đất nước. Đinh Bộ Lĩnh bước vào chiến trường cũng xuất thân từ thủ lĩnh vùng Hoa Lư, mở rộng dần địa bàn, đi đến thâu tóm toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Điểm khác nhau là Ngô Quyền và nhà nước vương triều Ngô ra đời từ đánh thắng giặc, trong khi đó Đinh Bộ Lĩnh và vương triều Đinh ra đời từ dẹp loạn. Hai con đường khác nhau tuy cũng dẫn đến đích giống nhau - độc lập, tự chủ và thống nhất tập quyền đã để lại nếp suy nghĩ khác nhau trong tư tưởng và hành động của hai nhà quân sự lớn này.


Quá trình tan rã dẫn đến phân tán của lực lượng vũ trang vương triều Ngô, tiếp đến sự chia xé đất nước thành từng vùng, hành động nổi loạn của các sứ quân với đội quân bản bộ của họ là một thực tiễn đau lòng, tai hại cho đất nước. Chẳng những vương triều bị sụp đổ mà nhân dân lâm vào vòng loạn lạc, đất nước bị suy yếu, sẵn sàng làm mồi cho ngoại bang. Từ phân tán đến sụp đổ của vương triều Ngô đã khiến nhà quân sự Đinh Bộ Lĩnh phải nghĩ đến một tổ chức vũ trang lớn mạnh, tập trung quyền lực mới có thể hành động dẹp loạn thắng lợi. Liên kết với Trần Lãm, vươn tay vào châu Ái, Đinh Bộ Lĩnh đã từng bước tập hợp được dưới cờ một đội quân hùng hậu, vượt khỏi giới hạn Hoa Lư - Trường Yên, làm chủ một vùng rộng lớn ven biển châu thổ sông Hồng, sông Đáy và châu thổ sông Mã. Trên cơ sở đó, lần lượt trong vòng 27 năm, trong đó có 2 năm dẹp loạn, Đinh Bộ Lĩnh đã thâu tóm được toàn bộ đồng bằng châu thổ và trung du Bắc Bộ ngày nay nằm trong tình trạng chia cắt. Ông đã dẹp yên được các sứ quân bằng các biện pháp đánh dẹp kết hợp với thuyết phục mềm dẻo. Lực lượng vũ trang phân tán do các tướng lĩnh ở Cổ Loa cầm đầu hoặc do các thổ hào nắm giữ bị đánh tan, một bộ phận đầu hàng, tự tan, tập hợp vào đoàn quân dẹp loạn của Đinh Bộ Lĩnh.


Từ bài học kinh nghiệm của vương triều Ngô và từ thực tiễn hoạt động, Đinh Bộ Lĩnh đã vươn lên một mức cao hơn trong tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang nói riêng, trong xây dựng bộ máy nhà nước quân chủ nói chung. Cùng với việc xưng hoàng đế, định đô mới, đặt quốc hiệu, lập niên hiệu Thái Bình, ông xây dựng một đội quân chính quy của đất nước Đại Cồ Việt. Để tránh vết xe đổ của vương triều Ngô, Đinh Tiên Hoàng đã nghĩ đến thâu tóm toàn bộ lực lượng vũ trang, nói rõ hơn là khắc phục tình trạng lực lượng vũ trang nằm trong tay các thổ hào, thủ lĩnh địa phương. Để làm được điều này, Đinh Tiên Hoàng đã đồng thời kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ, thực hiện quyền phân chia các đơn vị hành chính. Điều đó có nghĩa là đưa các vùng từng phân tán trong lãnh thổ quốc gia vào một hệ thống, đơn vị hành chính, chia cả nước làm 10 đạo. Sử không chép rõ tên 10 đạo, nhưng sử sách cho biết 10 đạo là 10 đơn vị hành chính cấp thứ hai trực thuộc nhà nước quân chủ trung ương tập quyền. Tổ chức 10 đạo được Đinh Tiên Hoàng cắt đặt vào năm 971, đến đời Lê Đại Hành năm 1002, sử chép rõ "đổi mười đạo làm lộ, phủ, châu"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.230). Như vậy, 10 đạo xuất hiện từ đầu thời Đinh (971) nhưng sử còn ghi chép tiếp đơn vị châu như châu Hoan, châu Ái, châu Lạng, châu Đăng... Có lẽ việc chuyển đổi năm 1002 chưa thực hiện triệt để nên sau thời Lý, Lý Công Uẩn lên ngôi, sử lại chép: "Đổi 10 đạo làm 24 lộ, châu Hoan, châu Ái làm trại"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.242). Điều cần quan tâm là sau khi lên ngôi, đặt phẩm cấp cho các quan văn võ, Đinh Tiên Hoàng phong Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân. Và đến năm 974 thì tổ chức quân đội trong 10 đạo. Như vậy, chia đặt 10 đạo là một biện pháp hàng đầu thực hiện chủ quyền lãnh thổ của hoàng đế Đại Cồ Việt mà Đinh Tiên Hoàng đã đặt ra ngay từ khi lên ngôi: Đất nước Đại Cồ Việt do vua Đại Cồ Việt cắt đặt cai quản. Mặt khác, việc chia đất 10 đạo nhằm tập trung quyền lực vào tay nhà vua đứng đầu triều đình. Quản lý lãnh thổ thống nhất thực hiện đồng thời với tập trung quản lý tổ chức lực lượng vũ trang. Đinh Tiên Hoàng lập 10 đạo quân trong 10 đạo do nhà nước quân chủ quản lý. Như vậy, với vương triều Đinh, bên cạnh "quân 10 đạo" có đội quân tập trung ở kinh đô mà sử không chép rõ tên gọi như "thân quân" "thiên tử quân" sau này. Chỉ biết lực lượng quân đội này dưới quyền của Đại tướng Phạm Cự Lạng và các tướng khác đã tôn Lê Hoàn lên ngôi vua để tổ chức chống giặc Tống. Việc đặt quân trong 10 đạo, gắn liền tổ chức lực lượng vũ trang với tổ chức đơn vị hành chính là một bước tiến vượt bậc, ghi một cột mốc quan trọng trong tư tưởng quân sự và quá trình phát triển của tổ chức quân đội quốc gia. Mặt khác, việc làm này đã ghi nhận một chuyển biến lớn trong nhận thức của các nhà quân sự thế kỷ X. Từ những tổ chức vũ trang phân tán, tập trung thành một quân đội 10 đạo dưới quyền chỉ huy thống nhất của Thập đạo tướng quân ghi nhận một bước vươn lên mạnh mẽ của tư tương quân sự thời Ngô, Đinh, Tiền Lê. Đây là sản phẩm của thế kỷ X, được mở đầu từ thế kỷ X - thế kỷ của tình trạng đấu tranh giữa hai xu hướng: xu hướng phân tán bị đẩy lùi và xu hướng tập trung đang giành ưu thế, thế kỷ của giành và giữ nền độc lập, tự chủ còn non trẻ.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7340



WWW

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 1« Trả lời #36 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2020, 08:50:18 pm »
Theo ghi chép của sử, phiên chế 10 đạo quân như sau: "Mỗi đạo có 10 quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người, đầu đội mũ bình đính vuông bốn góc"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.212-213). Như vậy, quân số của 10 đạo là 1.000.000 người. Có lẽ đây là quân đội phiên chế theo quy định, trong thực tế không đạt được đến 1 triệu quân. Với dân số khoảng 3 triệu người, trong đó nam giới chiếm 50%, có 1.500.000 nam giới cả trẻ em và người già cả. Do đó, huy động được 1.000.000 tráng niên tuổi từ 18 đến 50 là chuyện khó. Mặc dù vậy, tổ chức quân 10 đạo, gắn tổ chức quân đội với đơn vị hành chính, tận dụng lực lượng trai tráng làm lính, là kết quả, là thành tựu to lớn của tổ chức quân đội, mở đầu từ thế kỷ X, gắn liền với tên tuổi của nhà quân sự Đinh Bộ Lĩnh. Triều đình có quân thường trực đóng giữ ở kinh đô, các đạo có quân của đơn vị đạo, tất cả về danh nghĩa dưới quyền của nhà vua, nhưng trong thực tế tập trung quyển chỉ huy vào một người đứng đầu như một tổng tư lệnh, đó là Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Ngoài quân của triều đình, của đạo thuộc diện quân chính quy còn có dân binh có mặt ở tổ chức hành chính cơ sở hương, giáp, xã có nhiệm vụ canh phòng, bảo vệ cuộc sống yên bình hằng ngày của cư dân theo truyền thống. Khi quốc gia hữu sự, lực lượng dân binh hoặc tham gia chiến đấu tại chỗ, hoặc được điều động theo lệnh của nhà nước.


Tổ chức "quân 10 đạo" của Nhà nước Đại Cồ Việt tồn tại trong hòa bình giữ nước được ngót 10 năm của thập kỷ 70 thế kỷ X thì gặp thử thách trong khói lửa của chiến tranh chống giặc Tống lần thứ nhất vào cuối năm 980, đầu năm 981.


Như đã trình bày, cuộc chạy đua không hẹn của Trung Hoa trong "loạn năm đời mười nước" và của đất nước của người Việt trong "loạn mười hai sứ quân" cũng đến hồi kết thúc. Triệu Khuông Dận tức Tống Thái Tổ lên ngôi vào năm 960, nhưng còn phải tiếp tục bình dẹp một số tiểu quốc còn lại cho đến năm 979 mới làm chủ được toàn bộ Trung Nguyên. Trong khi đó, Đinh Bộ Lĩnh tiến hành dẹp loạn thành công trong khoảng hai năm (966-968), năm 971 đã phong Thập đạo tướng quân, năm 974 "quân 10 đạo" được thành lập trở thành tổ chức lực lượng vũ trang thống nhất của quốc gia Đại Cồ Việt. Trong cuộc chạy đua không hẹn này, Đinh Bộ Lĩnh đã về đích sớm. Những gương mặt quân sự lớn của nước Đại Cồ Việt lúc bấy giờ là Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn đã hướng tổ chức quân đội quốc gia vào chống xâm lược, bảo vệ độc lập, tự chủ mặc dù xâm lăng chưa xảy ra. Bài học nóng bỏng của họa xâm lăng từ phương Bắc xảy ra vào các năm 930-931, 938 và nhất là ý đồ khôi phục lại nền đô hộ của chúng trên đất nước của người Việt ở phương Nam này, vẫn là nguy cơ thường trực đối với Nhà nước và quân dân Đại Cồ Việt.


Lịch sử đã diễn ra đúng như dự kiến. Sau khi dẹp yên hoàn toàn loạn "năm đời mười nước" vào năm 979 (lúc này Tống Thái Tổ đã mất, Tống Thái Tông lên ngôi, lợi dụng tình hình rối loạn ở triều đình Hoa Lư, lập tức phát động chiến tranh xâm lược Đại Cồ Việt. Nhưng lúc này, quốc gia Đại Cồ Việt sau gần 20 năm xây dựng, từ 968 đến 980, đã vững mạnh từ hệ thống tổ chức bộ máy hành chính cho đến tổ chức lực lượng quốc phòng. Gần 20 năm, củng cố tổ chức lực lượng, "quân 10 đạo" đã ý thức được rõ ràng về nhiệm vụ giữ yên xã tắc, bảo vệ độc lập, tự chủ. Chính lực lượng quân đội mà Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn cất công xây dựng đã kịp thời dẹp yên nội loạn ở cung đình và tôn vị Tổng tư lệnh lên làm vua thay cho ấu chúa Vệ vương Đinh Toàn (6 tuổi) để tổ chức chống giặc.


Đánh thắng giặc Tống, quét sạch quân xâm lược, bảo vệ được độc lập, tự chủ là bằng chứng hùng hồn cho sức mạnh của quân đội Đại Cồ Việt, là minh chứng cho sự trưởng thành và đúng đắn của tư tưởng quân sự mà Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn là những gương mặt tiêu biểu.


Từ Tổng tư lệnh cầm "quân 10 đạo" trở thành Hoàng đế tổ chức đánh thắng giặc Tống, Lê Đại Hành tiếp tục kiện toàn tổ chức quân đội ở một mức cao hơn. Trước đây, ở thời Đinh, quân bảo vệ nhà vua và triều đình chưa thấy đặt tên gọi, đến năm 986, sử mới chép rõ là "thân quân": "Tuyển những ngươi khỏe mạnh, nhanh nhẹn bổ làm túc vệ gọi là thần quân: đều thích vào trán ba chữ "Thiên tử quân"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tr.255). Thân quân hay thiên tử quân về đời Lê Trung Tông (Lê Long Việt) có ghi thêm "tứ sương quân" là quân tập trung có nhiệm vụ canh gác, bảo vệ thành Hoa Lư. Trong khi đó tên gọi "quân 10 đạo" không còn nữa cùng với việc đổi 10 đạo trong cả nước thành lộ, phủ, châu diễn ra vào năm 1002 đời Vua Lê Đại Hành. Như vậy, tổ chức quân lính ở các đạo trở thành quân của các lộ, phủ, châu nằm trong hệ thống tổ chức của nhà nước quân chủ tập quyền vương triều Tiền Lê. Chức vụ Thập đạo tướng quân cũng không còn nữa. Về nguyên tắc, tổ chức quân đội quốc gia đặt dưới quyền của nhà vua đồng thời là vị tổng tư lệnh như đã diễn ra trong kháng chiến chống giặc Tống cuối năm 980, đầu năm 981. Bộ máy quản lý đất nước yào thời Tiền Lê đã được kiện toàn, phân công, phân nhiệm triệt để hơn. Vào năm 986, sử chép việc nhà vua cho Từ Mục làm Tổng quản coi việc quân dân, ban tước hầu, Phạm Cự Lạng làm Thái úy. Ta biết Từ Mục từng là sứ quan cùng Ngô Tử Canh sang Chiêm Thành vào năm đầu thập kỷ 80 sau chiến thắng giặc Tống, bị vua Chiêm bắt giữ, dẫn đến cuộc đích thân Vua Lê Đại Hành đem quân đi đánh dẹp. Nay Từ Mục được giao coi quản toàn quân. Còn Phạm Cự Lạng vốn là Đại tướng từng huy động quân sĩ tôn Lê Hoàn lên ngôi vua, tham gia đánh thắng giặc Tống nay được cử giữ chức Thái úy. Bộ máy nhà nước quân chủ thời Tiền Lê cũng dựa trên cơ sở tổ chức của nhà nước vương triều Đinh, gồm hai bộ phận: hoàng gia có nhà vua, 5 hoàng hậu, 10 hoàng tử và triều đình với các quan chức được sử ghi chép: Tổng quản Từ Mục, Thái sư Hồng Hiến, Thái úy Phạm Cự Lạng, Sứ quan Ngô Tử Canh, Ngô Quốc Ân, Tướng Ngô Tử An, Chỉ huy sứ Đinh Thừa Chính; về tôn giáo có các thiền sư: Pháp Thuận, Khuông Việt (Ngô Chân Lưu)...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn